VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ HÀ KHUYÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ HÀ KHUYÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI NHẬT QUANG
HÀ NỘI, 2019
2.1. Khái quát doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội ....................... 30
2.2. Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại thành phố Hà Nội ............................................................................... 32
2.3. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội hiện nay...................................................... 42
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI .........................................................................53
3.1. Định hướng hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại doanh
nghiệp vừa và nhỏ ......................................................................................... 53
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tại doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện nay ............................................................................................ 59
3.3 Kiến nghị đối với thành phố Hà Nội về thực hiện chính sách bảo hiểm xã
hội tại doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................................... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................73
PHỤ LỤC I..................................................................................................................75
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Giải thích
1
ASXH
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa
Gross Regional Domestic Product
Tổng sản phẩm trên địa bàn
International Labour Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
Quản lý nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ...................................... 13
Bảng 2.1. Cơ cấu nhân khẩu tham gia khảo sát .............................................. 33
Bảng 2.2. Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi bản thân người lao động bị ốm
......................................................................................................................... 35
Bảng 2.3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau khi con dưới 7 tuổi bị ốm ........... 35
Bảng 2.4: Điều kiện hưởng lương hưu cơ bản ................................................ 41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BHXH được coi là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần quan
trọng trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với quan điểm tiếp cận BHXH là
quyền an sinh xã hội mang tính phổ quát, gắn với mục tiêu mở rộng phạm vi bao phủ
toàn dân theo lộ trình phù hợp. Là một quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh và tỷ
trọng lao động phi chính thức lớn, Việt Nam sẽ gặp phải nhiều thách thức khi xây dựng
hệ thống BHXH. Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua và Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh số 13/2006/SL-CTN ngày
12/07/2006 công bố Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Như vậy Nhà
nước ta đã có khung pháp lý cao nhất để điều chỉnh mọi quan hệ trong hoạt động BHXH.
ghi trong hợp đồng lao động. Với cách tính mới này, nhiều doanh nghiệp đang lo ngại sẽ
gánh thêm khoản chi phí khá lớn nếu đóng BHXH cho người lao động trên mức thu
nhập cộng với phụ cấp, chi phí doanh nghiệp sẽ tăng lên rất lớn, chính sách đóng BHXH
bắt buộc theo luật mới ảnh hưởng lớn đến chi phí của doanh nghiệp. Mặc dù đã cắt giảm
14 khoản thu nhập phải đóng BHXH nhưng đối với các nhóm doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động như thủy sản, dệt may, da giày… chắc chắn vẫn sẽ chịu tác động nhiều
bởi họ chịu tác động kép vừa tăng lương tối thiểu vừa tăng mức đóng BHXH. Ngoài ra,
việc thay đổi cách tính BHXH còn liên quan nhiều tới thủ tục hành chính, hệ thống sổ
sách, thang bảng lương cũng phải thay đổi theo. Doanh nghiệp sẽ tốn rất nhiều thời gian,
chi phí cho việc tính toán lại các vấn đề này, đặc biệt ở những doanh nghiệp có tới cả
chục nghìn lao động. Cơ quan BHXH mong các chủ doanh nghiệp nên tìm hiểu nhiều
điểm mới về luật từ đó không vi phạm quyền lợi của người lao động, cố gắng đi đúng
hướng theo chính sách của Đảng và Nhà nước, tình trạng chủ doanh nghiệp không tham
gia đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao động xảy ra rất nhiều; tình trạng trốn đóng, nợ
đọng BHXH cũng diễn ra rất phổ biến. Tiếp đó là tình trạng các doanh nghiệp quy mô
nhỏ và siêu nhỏ không tham gia BHXH, BHYT, mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
là do ý thức của một số chủ sử dụng lao động chưa nghiêm túc, hoặc gặp khó khăn trong
sản xuất kinh doanh; dù cơ quan BHXH đã tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử phạt nhiều lần
nhưng vẫn không có khả năng đóng. Ngoài ra, một phần cũng do nhận thức của người
lao động, không biết được quyền lợi chính đáng của mình.
2
Để khắc phục thực trạng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ “né” tham gia bảo hiểm
cho người lao động, truy thu nợ đọng BHXH, BHXH tại các địa phương cần phối hợp
với UBND xã, phường, thị trấn và các đơn vị liên quan triển khai đồng bộ nhiều giải
pháp căn bản như tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức
chấp hành quy định về bảo hiểm cho người lao động đối với chủ sử dụng lao động, đặc
biệt là doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước. Tổ chức thanh tra, kiểm tra,
cho các đối tượng chính sách trên địa bàn thành phố.
Luận văn của Nguyễn Thị Huệ (2014), Quản lý kinh tế Quản lý Nhà nước về
BHXH tại huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội là công trình nghiên cứu có hệ thống về
quản lý nhà nước hoạt động BHXH trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Từ
những tồn tại, bất cập trong công tác ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách
pháp luật về BHXH; Công tác tổ chức cán bộ; Công tác thực thi chế độ chính sách
BHXH; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ đưa ra những giải pháp nhằm hoàn
thiện quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn huyện Sóc Sơn góp phần hoàn thiện quản
lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam, góp phần an sinh xã hội, ổn định tình hình kinh tế chính trị của đất nước [9]
Luận văn của Hồ Tấn Tiên (2017), Quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi, Luận văn quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia chủ yếu nghiên
cứu thực trạng quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn tỉnh, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của QLNN về BHXH trên địa bàn tỉnh. Luận văn tập
trung nghiên cứu về quản lý nhà nước, không đi sâu nghiên cứu về thực hiện chế độ,
chính sách BHXH đối với người lao động [19].
Hơn nữa, cũng có các công trình nghiên cứu đã tập trung vào đối tượng chính của
bảo hiểm xã hội là người lao động như:
Bài viết của Nguyễn Hữu Dũng (2018), Chính sách BHXH đối với người lao
động, Tạp chí Cộng sản. Bài viết đưa ra những kết quả đạt được và chỉ ra một số những
mâu thuẫn, bất cập. Từ đó, tác giả cũng nêu ra một số định hướng cải cách chính sách
BHXH trong thời gian tới. Phát triển hệ thống BHXH đa tầng, linh hoạt, hiện đại, bền
vững và tiếp cận chuẩn mức quốc tế, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ, gắn
kết trong tổng thể hệ thống ASXH, tiến tới thực hiện BHXH toàn dân.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách BHXH được
xây dựng từ cấp độ vi mô (từ các địa phương, từng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội)
đến cấp độ vĩ mô (chính sách bảo hiểm xã hội nói chung). Các công trình nghiên cứu này
4
chính sách BHXH bắt buộc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội.
6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về những khái niệm, vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm
quan trọng, những vấn đề cơ bản của chính sách công nói chung và chính sách bảo hiểm
xã hội tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó, luận văn thực hiện khái quát hóa các lý
thuyết, học thuyết có liên quan đến chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính: nghiên cứu, tra cứu tài liệu thứ cấp: số liệu
thực thi đóng BHXH bắt buộc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội.
Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích thu thập các số liệu thực hiện các chính
sách bảo hiểm xã hội và lý do ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã
hội, Các mẫu nhỏ tập trung được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Dữ liệu được thu
thập từ nhiều nguồn thông tin và được phân tích bằng cách mã hóa dữ liệu. Từ đó, xây
dựng nên bộ dữ liệu có liên quan đến hoạt động thực thi chính sách bảo hiểm xã hội cũng
như chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: thu thập thông tin, dữ liệu, định lượng được
tập hợp thông qua tổ chức điều tra xã hội học (phát phiếu điều tra) với quy mô nhỏ (tại
các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội), xử lý dữ liệu có được trên phần
mềm Mirosoft Excel. Đây là phương pháp điều tra thực nghiệm có hệ thống về thực tế áp
dụng chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao
động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội. Các mẫu được lấy từ các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó phát triển và sử dụng các
lý thuyết và giả thuyết có liên quan đến hoạt động thực thi chính sách bảo hiểm xã hội
bắt buộc. Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách lấy mẫu từ doanh nghiệp vừa
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm
bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường. Bảo
hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng
những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng
góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho
thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm có các
hình thức khác nhau như: BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm
thương mại.
BHXH là một trong những hình thức của bảo hiểm. BHXH là loại hình bảo hiểm
do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống
của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao
động. Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hộicủa Việt Nam 2018 cũng định nghĩa BHXH là sự bảo
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Công ước Geneve 1952 của Tổ
chức lao động quốc tế ILO khuyến nghị hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: chăm sóc
y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp sinh sản; trợ cấp tàn phế; và trợ cấp cho
người bị mất người nuôi dưỡng. Tại Việt Nam, BHXH thực hiện chế độ như sau:
1. BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất.
9
2. BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: hưu trí; tử tuất.
quốc gia (chiếm 95%) những chỉ có 63 quốc gia (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo
hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản. Qua đó cho thấy việc thực hiện các hình
thức bảo hiểm khác nhau sẽ tùy thuộc vào điều kiện, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cụ
thể của mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, xu hướng chung là các quốc gia ngày càng thực hiện
đầy đủ hơn các hình thức bảo hiểm, coi đây là giải pháp đảm bảo tốt hơn quyền lợi, trách
nhệm của người lao động nói riêng và chính sách ổn định xã hội nói chung trên cơ sở
bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đằng, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đều
có thể tiếp cận, tham gia và hưởng lợi từ chính sách BHXH; tuân thủ nguyên tắc đóng
hưởng, bảo đảm tính cân đối, bền vững giữa mức đóng góp và mức hưởng thụ; có sự
chia sẻ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa các thành viên, giữa các chính sách trong hệ thống
BHXH.
Tại Việt Nam, Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10
chính sách lớn của Việt Minh được thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16
đến ngày 17 tháng 8 năm 1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định
lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm." Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 3
tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số
54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14 tháng 6 năm 1946 ban
hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công
chức. Có thể nói, hai văn bản này là hai băn bản đầu tiên quy định về quyền lợi, mức
hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, quy định
trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quỹ BHXH.
1.1.1.3. Phân loại BHXH
BHXH có mục đính đặt ra là mọi người sống trong cùng một xã hội có thể cùng
san sẻ và giúp đỡ nhau nhiều hơn thông qua BHXH. BHXH có hai loại: BHXH bắt buộc
và BHXH tự nguyện.
BHXH bắt buộc là loại bảo hiểm mà bắt buộc những người khi tham gia lao động
và những người chủ lao động phải đóng. Thường thì chủ doanh nghiệp và người lao
động cùng chi trẻ cho loại bảo hiểm này với mức chia người sử dụng lao động phải đóng
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay còn gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa là
những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh
nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp
siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
12
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh
đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,
vừa theo quy mô tổng vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng
nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy mô
Doanh nghiệp
siêu nhỏ
Khu vực
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trở
xuống
50 người
Doanh nghiệp vừa
Tổng nguồn
vốn
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 10
tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
Số lao động
Từ trên 200
người đến
300 người
Từ trên 200
người đến
300 người
Từ trên 50
người đến
100 người
( Nguồn: Nghị định 39/2018/ND-CP)
Đặc điểm
Đầu tiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một lượng lớn trong tổng số các doanh
nghiệp của một quốc gia, khu vực và trên thế giới. Các doanh nghiệp này có khả năng sử
mang tính chất tất yếu và thường xuyên. Nó xuất phát từ chính nhu cầu tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp và được quy định bởi chính sách, pháp luật của nhà nước. Đối với
người lao động, doanh nghiệp quan tâm đến thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc tức là họ
sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi, nhân phẩm, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập... Từ đó,
doanh nghiệp có được đội ngũ lao động có chất lượng hơn và gắn bó với doanh nghiệp
hơn. Hơn thế nữa, thực hiện BHXH bắt buộc cũng là quyền lời để đảm bảo cho chính
doanh nghiệp phát triển. Nhìn xa hơn, thực hiện BHXH là cách thực hiện thực hóa định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng trưởng kinh tế đi liền với công bằng
xã hội. Đây là cách thức để giữ vững vai trò chủ đạo của mình đối với các thành phần
kinh tế.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
bắt buộc
Cũng giống như chính sách công, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ
chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
14
Đầu tiên, mỗi vấn đề chính sách, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề
bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách phụ thuộc vào tính chất của vấn đề chính
sách bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tính cấp bách của việc thực thi chính sách bảo hiểm xã
hội bắt buộc có tác động rất lớn đến kết quả tổ chức thực thi chính sách. Ngoài ra, đây
cũng là vấn đề bức xúc cần được giải quyết ngay mới giúp cho đối tượng phát triển theo
mục tiêu định hướng. Tính chất của chính sách bảo hiểm xã hội là trụ cột của nền an sinh
xã hội của đất nước, do đó quá trình thực thi các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được
nhà nước và xã hội ưu tiên nguồn nhân lực, đặc biệt là chính sách bảo hiểm xã hội bắt
buộc.
Yếu tố thứ hai là yếu tố môi trường thực thi chính sách công luôn chứa đựng toàn
bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
bắt buộc như các nhóm lợi ích có được từ chính sách bảo hiểm xã hội, các điều kiện vật
Cuối cùng, sự đồng tình và ủng hộ của người dân là yếu tố có vai trò đặc biệt quan
trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách. Mục tiêu của chính sách bảo hiểm xã
hội bắt buộc là làm thay đổi trạng thái kinh tế và an sinh xã hội hiện tại theo nhu cầu của
đời sống xã hội.
Có thể nói, chính sách BHXH là trụ cột chính của an sinh xã hội. Phát triển chính
sách BHXH nói chung và chính sách BHXH bắt buộc nói riêng là tiền đề và điều kiện để
thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đóng góp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.[25]
1.2. Các lý luận về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1. Chính sách của Nhà nước về BHXH bắt buộc
Chính sách của Nhà nước về BHXH bắt cuộc là một trong những chính sách xã hội
quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH bắt buộc đã được thể chế hóa và
thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao
động khi họ không còn khả năng làm việc. Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, BHXH là một
loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao
động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất
cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình
thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao
động theo quy định của pháp luật, hoặc chết.
16
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động và người sử dụng lao động.
Tuy nhiên, đối tượng tham gia BHXH còn tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế – xã hội
cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động
nào đó. Tại Việt Nam, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2018, đối tượng áp dụng bao gồm:
1. Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao
động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
quyền địa phương có sự quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực hiện
chính sách. Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực thi chính sách BHXH bắt
buộc, cán bộ, công chức nhà nước cần phải thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau,
nhưng cần thiết phải tuân thủ các bước tổ chức thực thi cơ bản sau:
1.2.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHXH bắt buộc
Do quá trình tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc là quá trình phức tạp,
diễn ra trong một thời gian dài nên việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính
sách cần được thực hiện chủ động. Quá trình này cần được thực hiện trước khi đưa chính
sach BHXH bắt buộc vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung
ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện. Nội dung cơ
bản của bước xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BHXH bắt buộc gồm
năm nội dung như sau:
Đầu tiên, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống
các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách (kế hoạch tổ chức, điều
hành); số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; những dự kiến về cơ
chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp
thực thi chính sách.
Thứ hai là xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như dự kiến về trang thiết
bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc, cơ sở kiến trúc, quỹ
BHXH...
Thứ ba là xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian
duy trì chính sách BHXH bắt buộc; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ
tuyên truyền chính sách BHXH bắt buộc đến tổng kết rút kinh nghiệm. Mỗi bước đều có
mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu.
18
Thứ tư là lên kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến về tiến độ,
hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách BHXH bắt buộc.