LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở rộng nhanh chóng trên mọi lĩnh
vực kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải vươn lên
nắm thị trường ngày càng lớn hơn. Khai thác thị trường theo chiều sâu và mở
rộng thị trường sẽ là nhiệm vụ thường xuyên liên tục của mỗi doanh nghiệp.
Phát triển thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm, khai thác triệt để tiềm năng của thị trường, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vai trò của doanh nghiệp trên thị
trường. Việc dành lợi thế cạnh tranh là vô cùng quan trọng mang tính chất quyết
định. Đánh mất vị thế cạnh tranh đồng nghĩa với sự từ bỏ thị trường.
Ở nước ta, thị trường đồ điện gia dụng còn là thị trường mới mẻ và đầy
tiềm năng Do đó nó không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực dân dụng mà còn
được sử dụng cả lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cũng vì tác
dụng và vai trò to lớn đó của đồ điện gia dụng đối với mỗi gia đình và cả xã hội
nên có rất nhiều đối thủ cùng tham gia vào thị trường mầu mỡ này.
Trong thời gian nghiên cứu và thực tập tại công ty LG - Meca em đã
quyết định lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm của công ty LG - Meca" với hy vọng sẽ đóng góp được cho công ty
một số giải pháp để giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình
hơn nữa.
Kết cấu của bài viết gồm các chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường và hoạt động mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm
Chương 2: Thực trạng về hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của công ty LG - Meca.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của công ty LG - Meca.
4
Do thời gian nghiên cứu và thực tập có hạn, bài viết của em không tránh
khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô
giáo cũng như các Anh, Chị trong cơ quan để đề tài của em có giá trị thực tiễn.
bản của thị trường được thông qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ hay mật
thiết với nhau bao gồm: nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ, cung ứng về hàng hoá
và dịch vụ, giá cả của hàng hoá và dịch vụ.
6
* Theo Mác, thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của sự phân công xã hội và
do đó nó có thể vô cùng tận.
Tựu trung lại ta thấy, mọi khái niệm về thị trường đều đề cập tới mối qua hệ
giữa người mua và người bán. Các mối quan hệ này được biểu hiện một cách
khác nhau giữa các khái niệm, ta có thể xen xét kỹ vấn đề thông qua hai sơ đồ
sau
Sơ đồ 1: Quan niệm về hệ thống thị trường giản đơn
Thông tin
Sản xuất Hàng hoá dịch vụ Thị trường
Người bán - Cung Người mua - Cầu
Tiền
Thông tin
Sơ đồ 2: Quan niệm về hệ thống thị trường hiện đại
Các nguồn tài nguyên Thị trường các Nguồn lao động
nguồn tài nguyên
Thuế Dịch vụ
Tiền Hàng hoá Tiền Tiền
Thị trường các Chính Thị trường những
nhà sản xuất phủ người tiêu dùng
Dịch vụ Thuế
Tiền Tiền Hàng hoá Tiền
Thị trường những
người trung gian
7
2. Vai trò của thị trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế đa quốc gia nói
hơn so với chi phí chung của toàn xã hội.
Chức năng thông tin thể hiện ở chỗ nó chỉ ra cho người sản xuất biết nên:
sản xuất hàng hoá nào? khối lượng bao nhiêu? nên tung ra thị trường ở thời
điểm nào? nó chỉ ra cho người tiêu dùng thấy nên mua một hàng hoá hay một
mặt hàng thay thế nào đó phù hợp với khả năng thu nhập của họ.
Xuất phát từ các chức năng trên, xuất hiện vai trò cơ bản của thị trường.
* Thị trường là sống còn đối với sản xuất kinh doanh
Với doanh nghiệp muốn tồn tại phát triển hoạt động kinh doanh của mình
thì phải tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận. Muốn vậy phải được thị
trường chấp nhận, thực hiện việc bán hàng hoá và dịch vụ thành công , tức là
được thị trường chấp nhậnvà thực hiện được sự chuyển hoá và thu lợi nhuận về
cho doanh nghiệp.
*Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp dựa vào thị trường đề ra các chiến lược sản xuất của mình.
Thông qua thị trường doanh nghiệp biết mình nên sản xuất cái gì? sản xuất cho
ai? và như thế nào? Thị trường hướng dẫn mặt hàng đang khan hiếm, chuyển
sản xuất từ nơi thừa sang nơi thiếu, bằng những con đường nào của mình.
*Thị trường phản ánh qui mô, trình độ sản xuất, nhìn vào thị trường có thể
đánh giá tình trạng sản xuất. Thị trường là bảng biểu công bằng nhất phản ánh
tình trạng sản xuất kinh doanh.
*Thị trường là nơi kiểm nghiệm, đánh giá tính chất đúng đắn của chủ trương
chính sách kinh tế của nhà nước, nhà kinh doanh. Thông qua đó, một mặt nâng
cao trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời cũng đào thải
các nhà quản lý tồi. Kinh tế thị trường năng động uyển chuyển, song nó không
phải gậy thần hay liều thuốc tiên có thể gây thích ứng với mọi điều kiện.
Thị trường không bình lặng, ở đó cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh
nghiệp để tồn tại và phát triển. Trong cơ chế thị trường hiệu quả là thước đo cao
9
nhất thể hiện thông qua lợi nhuận thu được và cũng chính vì lợi nhuận mà các
doanh nghiệp sẽ không từ bất cứ hình thức thủ đoạn nào canh tranh nhằm thu lãi
thuỷ sản...
- Trên góc độ tính chất của thị trường người ta chia thành
* Thị trường cung - thị trường bán, thị trường cầu - thị trường mua.
* Thị trường đầu vào (thị trường các yếu tố sản xuất), thị trường đầu ra (thị
trường hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp).
- Trên góc độ cạnh tranh hay độc quyền tức là xem xét hành vi của thị
trường, người ta chia thị trường thành các dạng
* Đứng trên giác độ doanh nghiệp ta có thể chia thị trường chung (hàng hoá,
dịch vụ trên thị trường tổng cung, tổng cầu) và thị trường của doanh nghiệp (vi
mô), khả năng tham gia vào thị trường của một doanh nghiệp (mức độ khống
chế thị trường của một doanh nghiệp).
II. HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA DOANH NGHIỆP
1. Vai trò của việc mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp
a) Sự cần thiết của công tác mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp
Đất nước ta sau 10 năm đổi mới từ đại hội VI của Đảng, sự chuyển hướng
kinh tế từ một nền kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường và tự do cạnh
tranh dẫn đến sự đảo lộn trong cung cách cũng như phương thức hoạt động của
các doanh nghiệp.
Sự đổi mới nền kinh tế như một làn gió thổi đến làm kích thích những
doanh nghiệp năng động, sáng tạo, đồng thời loại những doanh nghiệp hoạt
động kém, không hiệu quả, không thể thích nghi được với môi trường mới.
Cũng do tác động của chính sách cải cách trong nền kinh tế đang diễn ra sự cải
tổ về cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ phát triển. Hoàn cảnh đó khiến cho các doanh
11
nghiệp phải thay đổi cách thức hoạt động kinh doanh của mình sao cho phù hợp
với cơ chế thị trường.
Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học kỹ thuật, các doanh
nghiệp, nhà kinh doanh đang phải đứng trước một thử thách to lớn trong việc
trường mới cho mình nếu không doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
là: lợi nhuận, thế lực và an toàn. Các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu
đó thông qua phát triển và mở rộng thị trường. Hơn nữa, trong điều kiện ngày
nay, một doanh nghiệp thành công không chỉ là một doanh nghiệp có lợi nhuận
cao mà còn cần là doanh nghiệp có thị trường lớn và quan trọng hơn là nằm
trong nhóm các doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành hàng kinh doanh của mình vì
mục tiêu thế lực luôn luôn tồn tại bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, hỗ trợ mục tiêu
lợi nhuận. Trên thị trường nếu như chiếm được một thị phần lớn thì rất có lợi
trong cạnh tranh, có thể dùng chiến lược phòng thủ, hạn chế tới mức thấp nhất
chi phí phải bỏ ra để đối phó với các đối thủ, bao gồm cả chi phí quảng cáo, tiếp
thị...
Mở rộng thị trường giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm, khai thác triệt để mọi tiềm năng của thị trường cũng như của doanh
nghiệp, đặc biệt là tính hiệu suất theo qui mô. Mở rộng thị trường góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuât kinh doanh, tăng lợi nhuận, khẳng định vai trò và uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường. Thông qua đó, doanh nghiệp trở thành có thể
lực trên thị trường lại tạo điều kiện cho việc tiếp tục mở rộng thị trường. Người
ta thường nói về cái vòng luẩn quẩn của các nước nghèo trên thế giới ở bình
diện vĩ mô. Đối với các doanh nghiệp cũng tồn tại một cái vòng luẩn quẩn như
vậy ở tầm vi mô. Mở rộng và phát triển thị trường là một trong những cách phá
vỡ cái vòng luẩn quẩn của doanh nghiệp về: đầu tư - chất lượng sản phẩm - khả
năng bán hàng thu nhập và lợi nhuận.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì việc mở rộng thị trường
càng trở nên quan trọng hơn. Khác với các sản phẩm khác, sản phẩm dịch vụ
13
không thể dự trữ được do quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ. Do
đó, nếu không tiêu thụ được sản phẩm thì quá trình sản xuất cũng phải ngừng
lại. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này, nhiệm vụ đặt ra nặng nề
hơn không chỉ là mở rộng thị trường mà còn phải giữ cho thị trường ổn định,
được nhu cầu của khách hàng, khuyến khích khách hàng mua. Như vậy, doanh
nghiệp phải tăng cường quảng cáo, bán hàng.
- Thứ ba: phân phối để thoả mãn nhu cầu khách hàng hiện tại và tương lai.
Vấn đề đặt ra hàng đầu là làm thế nào phân phối có hiệu quả nhất, tiết kiện chi
phí lưu thông tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng.
* Mở rộng thị trường
Là việc doanh nghiệp đưa các sản phẩm hiện tại vào các thị trường mới.
Để thực hiện được nội dung này đòi hỏi các doanh nghiệp tiến hành các biện
pháp marketing để thực hiện chiến lược, đó là: điều tra nghiên cứu thị trường,
dự báo thị trường, tìm ra thị trường tiềm năng, xác định khả năng bán của doanh
nghiệp và xác lập hệ thống phân phối mới.
Cụ thể là:
+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để đưa ra các kế hoạch thu hút khách hàng
của những đối thủ đó.
+ Nghiên cứu môi trường luật pháp và chính trị của khu vực thị trường mà
doanh nghiệp sẽ tham gia.
Tóm lại, việc mở rộng thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
nhân tố trong sự liên kết tác động qua lại với nhau để từ đó thoả mãn tốt các nhu
cầu của khách hàng tiềm năng.
Chiến lược mở rộng thị trường sẽ được các doanh nghiệp xem xét, lựa
chọn trong các trường hợp sau:
+ Khi khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên thị trường truyền thống của
doanh nghiệp có xu hướng giảm. Do vậy, các doanh nghiệp phải thâm nhập vào
các khu vực hoặc thị trường mới kém phát triển hơn và có nhu cầu về sản phẩm
của họ.
15
+Khi sản phẩm của doanh nghiệp bước vào pha bão hoà hoặc suy thoái của
chu kỳ sống sảnphẩm dẫn đêns việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn.
+ Khi doanh nghiệp gặp những thời cơ kinh doanh có thể khai thác được
những nghiên cứu về chi phí để xác định mức giá hợp lý.
đều có thể kiểm soát được. Sản phẩm sản xuất ra có thể biết được tốt hay xấu,
nhiều hay ít. Nhưng đôi khi không thể biết được khách hàng cần gì? họ đánh giá
như thế nào là đối thủ cạnh tranh của mình quả là một vấn đề không phải có
những biện pháp đơn giản. Do đó, bên cạnh tiềm năng sẵn có doanh nghiệp phải
có những biện pháp đúng đắn tác động đến khách hàng và đối thủ cạnh tranh
nhằm khai thác và nâng cao thị phần của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo khả năng và điều kiện mà có những
biện pháp khác nhau. Song chúng ta có thể đưa ra một số biện pháp nhằm khai
thách và mở rộng thị trường của một doanh nghiệp như sau:
* Các biện pháp đối với khách hàng
Các doanh nghiệp luôn phải coi khách hàng là trung tâm quyết định mọi
vấn đề mà doanh nghiệp phải làm như: sản phẩm gì? sản lượng, chủng loại ra
sao? chất lượng như thế nào? khách hàng mua hàng với giá trị sử dụng của hàng
hoá. Họ chỉ có thể thoả mãn khi hàng hoá có chất lượng tốt, số lượng đủ, giao
hàng nhanh chóng và thanh toán thuận tiện. Họ cũng chỉ trả tiền khi hàng hoá
được mua bán thuận tiện, được phục vụ văn minh. Doanh nghiệp muốn mở rộng
kinh doanh, phát triển bình thường, thâm nhập vào thị trường thì cung phải được
khách hàng ở thị trường này chấp nhận. Sự thành công trong công tác thị trường
tức là chiếm được tỷ phần ngày càng sâu rộng niềm tin cuả khách hàng. Không
ai khác, khách hàng là người quyết định sự xuất hiện, tồn vong hay phát triển
của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp phải coi khách hàng là trung tâm, là mục tiêu của sự
kinh doanh, là người trả tiền và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ chỗ là
người chấp nhận đến nay họ được tự do lựa chọn trong số hàng hoá rất dồi dào
để ra quết định mà thị trường phải nghe theo. Cuộc cạnh tranh ngày càng quyết
17
liệt giữa các nhà cung ứng bắt các nhà kinh doanh phải đáp ứng, chiếm lĩnh
nhiều khách hàng hơn. Khách hàng sẽ giúp doanh nghiêp cạnh tranh thắng lợi và
vượt lên.
Khách hàng chỉ ưa thích và lựa chọn mua những hàng hoá có chất lượng
thủ cạnh tranh chính và đối với từng loại đối thủ cạnh tranh cần sử dụng các
biện pháp khác nhau.
Cụ thể là:
+ Phương pháp liên doanh liên kết.
Là hình thức các doanh nghiệp hợp tác với nhau trên cơ sở đảm bảo tính
pháp luật. Hình thức hợp tác hết sức đa dạng song tựu chung lại mỗi doanh
nghiệp có tiềm lực mạnh riêng của mình cùng hợp sức lại xâydựng một thế
mạnh có tiềm lực vững chắc lớn mạnh nhằm tạo ra sức mạnh canh tranh mới có
hiệu quả trên thương trường.
Phương pháp này có ưu điểm là: các bên có thể bù đắp những điểm yếu
cho nhau tạo nên một khối vững mạnh. Ngoài ra, khả năng vốn, hiện đại hoá
trang thiết bị, tăng kinh nghiệm đều có được khi tham gia liên doanh liên kết.
Phương pháp này cũng có nhược điểm là: sự lệ thuộc lẫn nhau do một
khối lớn lên khả năng linh hoạt hạn chế.
+ Phương pháp dung hoà:
Đây thực chất là sự thoả thuận ngầm để phâm chia thị trường giữa các
bên. Thường xẩy ra trong trường hợp các bên có tiềm năng tương đương nhau
do đó việc thương lượng là phương án tốt nhất cho cả hai bên. Bất cứ một sự
cạnh tranh nào đều có lợi cho các đối thủ cạnh tranh khác, hơn nữa biến thù
thành bạn luôn là phương châm trên thương trường.
+ Phương pháp khử bỏ:
Đây là phương pháp cứng rắn, cạnh tranh khốc liệt, bao gồm nhiều hình
thức khác nhau như:
- Bán phá giá.
19
- Chạy đua kế hoạch kinh tế, chất lượng, trình độ.
- Sử dụng bủa vây, đánh chọc sườn, đối đầu.
+ Phương pháp né tránh:
Trong trường hợp là đối thủ yếu, doanh nghiệp nên tránh đối đầu trực tiếp
bằng cách nhường các đối thủ mạnh thị phần của họ. Có thể có nhiều cách thức
những người có năng lực, cân nhắc họ lên những vị trí quan trọng. Đào tạo bằng
các khoá học, có thể thuê chuyên gia hoặc gửi sang nước ngoài đào tạo. Khi đã
có đội ngũ kinh doanh tốt, doanh nghiệp phải không ngừng đáp ứng về mặt vật
chất và tinh thần để mọi người thoải mái và yên tâm làm việc sẽ có hiệu quả cao.
+ Tín nhiệm: tạo tín nhiệm trên thị trường là rất khó và rất quan trọng cho
việc thiết lập quan hệ kinh tế - xã hôị của doanh nghiệp. Kinh doanh phải lấy
chữ tín làm đầu, nó giúp cho doanh nghiệp có vị thế trên thị trường, có ấn tượng
và uy tín cho người tiêu dùng.
Để thường xuyên duy trì nâng cao uy tín cuả doanh nghiệp trên thị
trường, doanh nghiệp có thể áp dụng những biện pháp:
- Liên tục cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã đẹp, giá cả phù
hợp.
- Thái độ phục vụ nhã nhặn, lịch sự.
- Bảo hành những sản phẩm mình bán ra giữ uy tín sảnphẩm.
- Luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu.
- Chú ý lắng nghe sự phàn nàn, góp ý với sản phẩm, với phong cách phục vụ
để làm vừa lòng các khách hàng.
+ Quan hệ công cộng - cầu nối tiêu thụ sản phẩm:
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá theo hướng sản xuất lớn mang tính
xã hội hoá và mở cửa làm cho mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và xã hội
ngày càng chặt chẽ. Việc xử lý tốt mối quan hệ công cộng và xã hội cho phép
doanh nghiệp xây dựng một hình ảnh tốt trong xã hội. Nhờ đó doanh nghiệp
càng có cơ hội mở rộng việc tiêu thụ và phát triển kinh doanh.
Để có mối quan hệ công cộng tốt doanh nghiệp cần:
21
- Liên hệ với báo chí, nhờ báo chí viết bài về doanh nghiệp mình với những
sảnphẩm, cung cách kinh doanh tốt. Nhờ vậy sẽ tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho
khách hàng và họ tin tưởng hơn so với quảng cáo gấp nhiều lần.
- Quan tâm thiết thực, tài trợ, từ thiện cho các tổ chức xã hội, tổ chức các
buổi câu lạc bộ... để làm cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp.
một cách tốt hơn trên thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng cách cải tiến hệ
thống phân phôí, thực hiện các chính sách về sản phẩm, về giá, về dịch vụ sau
bán hàng.
Để có một bức tranh rõ nét về thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm của
mình, doanh nghiệp phải so sánh tỷ lệ tăng sản lượng trong năm thực tế với kỳ
trước, tỷ lệ tăng cuả ngành và của đối thủ cạnh tranh.
c) Chỉ tiêu tổng doanh thu
Ta có công thức tính tổng doanh thu của doanh nghiệp theo sản phẩm và
thị trường như sau:
TR = ∑ ∑ Pij x Qij
TR: Tổng doanh thu
Pij: Giá của sản phẩm j tại thị trường i
Qij: Sản lượng sản phẩm j tiêu thụ trên thị trường i
Chỉ tiêu TR là một chỉ tiêu tổng quát nhất, nó là kết quả tổng hợp của
công tác mở rộng thi trường cho các loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất
tiêu thụ trên các thị trường khác nhau. Tuy nhiên, cũng như chỉ tiêu sản lượng
sản phẩm tiêu thụ, để có thể tìm hiểu một cách rõ nét ta phải so sánh mức độ
tăng trưởng của doanh thu kỳ phân tích với doanh thu kỳ trước, mức doanh thu
của ngành, của đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, do có liên quan tới yếu tố tiền tệ
trên nhiều loại thị trường nên chỉ tiêu tổng doanh thu còn chịu sự tác động của
sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và lạm phát.
d) Chỉ tiêu lợi nhuận
23
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nói lên hiệu quả sản xuất và kinh
doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận tuy không là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp kết
quả của công tác mở rộng thị trường nhưng nó lại là một chỉ tiêu có liên quan
mật thiết với công tác này. Do vậy, thông qua mức tăng trưởng của lợi nhuận cả
về số tuyệt đối và tương đối ta có thể phần nào hiểu được công tác mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU
* Môi trường công nghệ: ngày nay, các doanh nghiệp luôn phải cảnh giác
với các công nghệ mới vì nó có thể làm cho sản phẩm bị lạc hậu một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp. Các doanh nghiệp thương mại không bị đe doạ bởi những
phát minh công nghệ như doanh nghiệp sản xuất nhưng nó có ảnh hưởng tới
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Từ sự nhận biết về xu hướng phát triển
công nghệ giúp doanh nghiệp xác định được ngành hàng kinh doanh cho phù
hợp với xu hướng tiêu dùng trong tương lai.
2. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm là hệ thống những đặc tính tồn tại của sản phẩm
được xác định bằng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được với các điều
kiện kỹ thuật hiện tại và thoả mãn được nhu cầu nhất định của xã hội.
Khi xem xét chất lượng sản phẩm cần chú ý những điểm sau:
* Xem xét chất lượng sản phẩm không chỉ một đặc tính nào đó một cách
riêng lẻ mà phải xem xét trong mối quan hệ với các đặc tinh khác trong một hệ
thống các đặc tính nội tại của sản phẩm.
* Xem xét chất lượng sản phẩm phải xem xét qua nhiều khâu từ sản xuất đến
tiêu thụ. Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc, phù hợp với thời đại. Chất
lượng sản phẩm còn là vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng
một loại sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm được đặt
lên hàng đầu và gắn liền với công tác tiêu thụ. Để giữ vững và nâng cao chất
lượng sản phẩm, làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng khối lượng sản phẩm tiêu
25
thụ. Trên cơ sở đó, đảm bảo thực hiện ba mục tiêu của doanh nghiệp: lợi nhuận -
an toàn - ưu thế. như vậy đảm bảo chất lượng sản phẩm là một trong những yếu
tố cần thiết để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
3. Giá cả của sản phẩm
Giá cả là thông số ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu trên thị trường. Việc
qui định mức giá bán sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp. Giá cả
có ảnh hưởng lớn đến khối lượng bán và doanh nghiệp tác động trực tiếp lên đối
tượng lựa chọn và quyết định mua của khách hàng. Mặt khác, giá tác động mạnh
chiến lược kinh doanh, quyết định phương án sản phẩm để đảm bảo tiêu thụ
nhanh và có lãi. Như ta đã biết, nếu sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được thị hiếu
của người tiêu dùng thì quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ diễn ra nhanh chóng và
nếu sảnphẩm sản xuất ra không phù hợp thì người tiêu dùng khó chấp nhận và vì
vậy thị trường sản phẩm sẽ dần bị diệt vong. Do đó thị hiếu là nhân tố kích thích
để doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường hay không.
5. Tiềm năng của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp có một tiềm năng phản ánh thực lực của mình trên
thị trường. Đánh giá đúng đắn, chính xác tiềm năng của doanh nghiệp cho phép
xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh, tận dụng tối đa cơ hội thời cơ với chi
phí thấp để mang lại hiệu qủa trong kinh doanh.
Các nhân tố quan trọng để đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp so với
các đối thủ cạnh tranh.
- Sức mạnh về tài chính.
- Trình độ quản lý và kỹ năng của con người trong hoạt động kinh doanh.
- Tình hình trang thiết bị hiện có.
- Các bằng phát minh sáng chế.
- Nhãn hiệu hàng hoá và uy tín của doanh nghiệp.
- Hệ thống tổ chức quản lý mạng lưới kinh doanh và quan điểm quản lý.
- Nguồn cung ứng vật tư.
- Sự đúng đắn của mục tiêu kinh doanh và khả năng kiên định trong quá
trình thực hiện hướng tới mục tiêu.
27
Do đó tiềm năng của doanh nghiệp là nhân tố quyết định hàng đầu cho
phép doanh nghiệp có khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.
6. Thị trường sản phẩm của doanh nghiệp
Ở đây khi nghiên cứu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp cần chú ý nghiên cứu chu kỳ sống của sảnphẩm. Chu kỳ sống của sản
phẩm là thời gian kể từ khi sản phẩm xuất hiện cho đến khi nó biến mất trên một
thị trường cụ thể. Một sản phẩm không có chỗ đứng trên thị trường này nhưng
doanh mọi doanh nghiệp đều muốn kéo dài giai đoạn này, song điều đó lại phụ
thuộc vào tính chất của sản phẩm. Khi bước sang giai đoạn suy thoái (T
3
T
4
) thị
trường của doanh nghiệp cần phải thu hẹp lại để giảm bớt các chi phí không cần
thiết. Trong giai đoạn này yêu cầu của người tiêu dùng trở nên khắt khe hơn. Do
đó doanh nghiệp cần có các biện pháp như: nâng cao chất lượng sản phẩm, cải
28