Giao kết và thực hiện hợp đồng lao động đối với vận động viên thể thao theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HÀ TRƯỜNG HẢI

GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HÀ TRƯỜNG HẢI

GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU CHÍ

HÀ NỘI, năm 2019



1.3.2. Tạm hoãn hợp đồng lao động.........................................................33
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC HIỆN

HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY....................................................................36
2.1. Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp
đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật Việt Nam hiện nay. .. 36

2.1.1. Thực tiễn quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối
với vận động viên......................................................................................36
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối
với vận động viên theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay.................48


2.2. Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp
đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật Việt Nam hiện nay....50
2.2.1. Thực tiễn thực hiện Hợp đồng lao động đối với vận động viên......50
2.2.2. Kiến nghị về thực hiện hợp đồng hợp đồng lao động đối với vận động

viên............................................................................................................59
KẾT LUẬN....................................................................................................66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:

Bộ luật dân sự


Doanh nghiệp

HĐLĐ:

Hợp đồng lao động

LTDTT:

Luật thể dục thể thao

NLĐ:

Người lao động

NSDLĐ:

Người sử dụng lao động

PLLĐ:

Pháp luật lao động

QHLĐ:

Quan hệ lao động

TAND:

Tòa án nhân dân

Việt Nam hiện đang là một đất nước có nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Về mặt phát triển kinh tế mà chúng ta đang được chú trọng rất nhiều.
Tuy nhiên về mặt xã hội chúng ta cũng phải chú trọng về mặt phát triển con
người. Với một đất nước đang trong giai đoạn xây dựng kinh tế sẽ không chú
trọng nhiều đến việc vui chơi giải trí cũng như là phát triển thể thao. Nhưng Việt
Nam đã làm được điều ngược lại chúng ta vẫn phát triển nền kinh tế như bình
thường nhưng mà hiện nay chúng ta đã có được các câu lạc thể thao lớn nhỏ ở
các địa phương.. Thể thao càng phát triển thì đòi hỏi phải có một nguồn vận
động viên dòi dào cũng có nghĩa là cung cấp về sức lao động rất lớn cho sự phát
triển và hội nhập thể thao. Vận động viên thể thao là một nghề được

1


xem là tương đối đặc biệt trong xã hội bởi vì sự đặc thù về công việc của và
môi trường lao động của các vận động viên.
Nói đến thể thao, nói đến các kỳ đại hội thể thao dù lớn hay nhỏ, trong
nước hay ngoài nước thì vận động viên là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên
các trận tranh đấu đầy tính hấp dẫn. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế, thì hoạt động thể dục thể thao cũng có bước
phát triển nhanh để hòa cùng nhịp sống hội nhập thể thao quốc tế. Thể thao
càng phát triển thì đòi hỏi phải có một nguồn vận động viên dồi dào cũng có
nghĩa là cung cấp về sức lao động rất lớn cho sự phát triển và hội nhập thể
thao. Vận động viên thể thao là một nghề được xem là tương đối đặc biệt
trong xã hội bởi vì sự đặc thù về công việc và môi trường lao động của các
vận động viên. Vì vậy, việc điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này là rất
cần thiết. Quan hệ pháp luật này nhằm bảo vệ các vận động viên nói riêng và
các nhà quản lý nói chung tránh các rủi ro pháp lý không đáng có nếu các bên
có tranh chấp. Quan hệ pháp luật này chính là các Hợp đồng lao động giữa
các vận động viên và với các trung tâm hoặc câu lạc bộ.

Về hệ thống giáo trình: Giáo trình “Luật lao động Việt Nam” của
trường Đại học Luật Hà Nội (2005, 2008, 2012, 2018),…
Về một số bài viết được đăng trên báo và tạp chí như: “Bàn về hợp
đồng làm việc của viên chức” ngày 27/10/2018 của ThS. Nguyễn Thị Thu
Hương - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; “Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ
luật Lao động năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực tiễn”, Tạp chí
Luật học số 03/2013 của tác giả Nguyễn Hữu Chí và Pháp luật lao động trong
thể thao chuyên nghiệp của Phạm Thị Thúy Nga và Chu Thị Thanh An.
Về hệ thống luận án, luận văn có các bài viết nghiên cứu: Luận văn thạc sĩ
Luật Kinh tế: “Pháp luật về giao kết hợp đồng lao động – Thực trạng và một số
kiến nghị”, (2015) của tác giả Hồ Thị Hồng Lam; Luận văn thạc sĩ luật học:
“Giao kết hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn các

3


doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng”, (2018) của
tác giả Lê Duy Lương, Luận văn thạc sĩ luật học: “Thực tiễn áp dụng pháp
luật hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên”, (2014) của tác giả Lê Thị Nga…
Những công trình nghiên cứu nêu trên hết sức có giá trị cho bài viết của
tác giả về vấn đề giao kết Hợp đồng lao động. Nội dung mà các công trình đó
đã đề cập tập trung về hợp đồng lao động nói chung và về giao kết Hợp đồng
lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có nhiều nét
tương đồng và thống nhất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục tiêu chung
Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng về các rào cản pháp lý
và rào cản thực tiễn hiện nay đối với vận động viên đang tập luyện và thi đấu tại
các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao hoặc câu lạc bộ. Nghiên cứu cũng tìm

những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Phân tích các khái niệm và đặc điểm của hợp đồng lao động, vận động

viên.
- Phân tích khái niệm và bản chất của hợp đồng lao động dành cho vận
động viên, nội dung của vợp đồng lao động dành cho vận động viên.
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của hợp
đồng lao động dành cho vận động viên.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về việc thực hiện hợp đồng lao động
dành cho vận động viên nhằm nhận diện những mặt tích cực, những tồn tại,
hạn chế và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chế định pháp luật việc thực
hiện hợp đồng lao động dành cho vận động viên lý giải cơ sở của việc hình

thành các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động dành cho vận
động viên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5


Đối tượng của luận văn chính là hình thức, nội dung, quy định về thực
hiện, chấm dứt đối với vận động viên thể thao theo pháp luật Việt Nam hiện
nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Xuất phát điểm là từ các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn
tại xã hội là yếu tố quyết định ý thức xã hội, đồng thời là giữa chúng có mối
liên hệ biện chứng. Trong kiến trúc thượng tầng xã hội thì pháp luật là một bộ
phận của nó, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp. Pháp luật được
xem là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, cơ sở thực tiễn của

Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp

luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật của
một số nước khác quy định về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân.
Qua đó, phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam quy định về
thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, phù hợp với điều kiện về kinh
tế, văn hóa, xã hội và tập quán của Việt Nam;

Phương pháp thống kê đã được thực hiện xuyên suốt trong quá trình

khảo sát thực tiễn việc áp dụng pháp luật, với các số liệu cụ thể giải quyết các
vấn đề về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân. Tìm ra mối
liên hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay
chưa? Các lý do? Từ đó mà xem xét nội dung quy định của pháp luật về
thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, với thực tiễn của đời
sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý
luận liên quan đến pháp luật về việc giao kết hợp đồng lao động dành cho vận
động viên tại Việt Nam.


Ý nghĩa thực tiễn

Những phân tích, đánh giá kết quả thực trạng, hạn chế, nguyên nhân,
những kiến nghị, đề xuất của Luận văn có thể nghiên cứu vận dụng vào thực
tiễn, góp phần bảo đảm hoàn thiện và thực thi pháp luật về việc gia kết hợp
đồng lao động dành cho vận động viên tại Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn

Trong lĩnh vực lao động thì Bộ luật Lao động được xác định là "luật
gốc", Bộ luật Lao động đã đề cập một cách đầy đủ về các nội dung liên quan
đến việc quản lý, sử dụng lao động và làm việc của người lao động, quan hệ
lao động và các quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động cũng
được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như: hợp đồng lao
động, thoả ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, đình công,…. đã
được điều chỉnh hợp lý.
Trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật lao động tiếp tục được sửa
đổi và hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội. Xét trên tổng
thể, Bộ luật Lao động năm 2012 đã quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm của NLĐ, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của NLĐ, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động trong QHLĐ và các quan hệ khác liên
quan trực tiếp đến QHLĐ; quản lý nhà nước về lao động, với những nội dung
chủ yếu sau: Tiếp tục khẳng định quyền tự do tìm việc, lựa chọn việc làm và

9


nơi làm việc của NLĐ; quyền được thương lượng thỏa thuận với người sử dụng
lao động về những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình trong quá trình làm
việc. người sử dụng lao động muốn sử dụng NLĐ làm việc lâu dài cần phải có
chính sách đãi ngộ phù hợp và có sức cạnh tranh cao. - Quy định tại chương III
, mục 1 Giao kết hợp đồng lao động, Điều 15 Luật số: 10/2012/QH13 ban hành

ngày 18 /03/2012 và có hiệu lực ngày 01/05/2013 có ghi “Hợp đồng lao động
là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm
có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan
hệ lao động.” [23, tr.6].
Giao kết hợp đồng lao động là quá trình người lao động và người sử
dụng lao động bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc xác lập quan hệ, thay đổi hay

Trong các quan hệ lao động nếu có yếu tố nước ngoài, điều kiện chủ thể
của NLĐ được pháp luật quy định chặt chẽ hơn, phải thỏa mãn các điều kiện
để được cấp giấy phép lao động cụ thể: “Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
theo quy định của pháp luật; có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; là
nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật; không
phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; được chấp thuận bằng văn bản
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước
ngoài” [23, tr.48].
Trong nền kinh tế thị trường, Hiến pháp đã ghi nhận quyền tự do kinh
doanh của các thành phần kinh tế, do vậy hầu như mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức
đều có thể trở thành người sử dụng lao động nếu có thuê mướn lao động. Theo
quy định tại khoản 2 Điều 3 BLLĐ, đối với người sử dụng lao động là các doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, pháp luật lao động không quy
định trực tiếp điều kiện cụ thể. Điều kiện chủ thể và thẩm quyền giao kết Hợp
đồng lao động của các chủ thể này sẽ do các luật khác quy định.

11


Đối với người sử dụng lao động là cá nhân thì pháp luật lao động quy định
trực tiếp về điều kiện chủ thể.
1.1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng lao động

Thứ nhất, trong hợp đồng lao động phải có sự phụ thuộc về pháp lý
giữa NLĐ và người sử dụng lao động.
Hợp đồng lao động đã taọ ra sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao động
và người sử dụng lao động. Sự phụ thuộc mà được pháp luật thừa nhận và sự
phụ thuộc này phải mang tính khách quan tất yếu khi người lao động tham gia
vào quan hệ lao động đó được hiểu là sự phụ thuộc pháp lý. Đây được coi là

Thứ hai, việc làm có trả lương chính là đối tượng của hợp đồng lao

động
Hợp đồng lao động không giống với các loại hợp đồng khác, nó là một
mối quan hệ mua bán hàng hàng hóa đặc biệt. Hàng hóa đặc biệt ở đây chính là
sức lao động. Loại hàng hóa đặc biệt này không thể tách rời với người lao động
mà nó luôn tồn tại gắn liền với chính cơ thể của người lao động bao gồm cả sức
lực và trí lực. Có thể nói “sức lao động” Là một loại hàng hóa mang tính trừu
tượng nó chỉ có thể chuyển giao từ “bên bán” sang “bên mua” thông qua việc
thực hiện một công việc nào đó cho bên mua. Vì vậy, việc mua hàng hóa của
người sử dụng lao động ở đây chính là sức lao động thì sẽ được hiểu như người
sử dụng lao động đang sở hữu một quá trình lao động của người lao động được
biểu thị thông qua trình độ, ý thức kỹ luật, thời gian làm việc,….. để thực
hiện được yêu cầu của người sử dụng lao động thì người lao động cần phải cung
ứng chính sức lao động của chính mình đó chính là trí lực và thể lực thông qua
khoảng thời gian được xác định. Khi các bên thỏa thuận về công việc phải làm,
các bên đã tính toán cân nhắc về thể lực và trí lực của người lao động để thực
hiện công việc đó. Khi người lao động đã cung ứng sức lao động để làm một
công việc cho người sử dụng lao động như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao
động, họ sẽ được nhận một khoản tiền mà người sử dụng lao động và người lao
động đã thỏa thuận trước khi tiến hành giao kết hợp đồng lao động. Khoản tiền

13


đó được gọi là tiền lương. Tiền lương này không phụ thuộc vào kết quả sản
xuất kinh doanh của người sử dụng lao động.


Thứ ba, người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong quan



Thứ tư, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng lao động thường bị hạn
chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định trong hợp đồng lao động

Với tất cả các quan hệ hợp đồng, sự thỏa thuận của các bên bao giờ cũng
phải luôn đảm bảo các nguyên tắc chung đó là: bình đẳng, tự do, tự nguyện,
không trái pháp luật… Trong quan hệ hợp đồng lao động các bên tham gia cũng
phải đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc chung này. Với hợp đồng lao động, sự thỏa
thuận luôn bị chi phối bởi nguyên tắc quyền lợi của NLĐ là tối đa và nghĩa vụ là
tối thiểu và các khuôn khổ, khống chế bởi những ngưỡng pháp lý nhất định của
BLLĐ, TƯLĐTT.... Việc quy định giới hạn tối thiểu về quyền của
NLĐ mà sự thỏa thuận không được thấp hơn chỉ được cao hơn còn giới hạn tối
đa của nghĩa vụ thì lại không được cao hơn chỉ được thấp hơn. Nguyên tắc bất di
bất dịch này được nhận thấy trong tất cả các điều khoản của BLLĐ 2012 và hiện
nay là BLLĐ năm 2019 dự thảo. Có sự khác nhau là trong các quan hệ hợp đồng
khác, khung pháp lý cho sự thỏa thuận rất rộng, đảm bảo tối đa quyền định đoạt
của các bên; còn trong quan hệ hợp đồng lao động lại rất đặc biệt, quyền tự do
định đoạt luôn bị chi phối bởi những giới hạn tương đối chặt chẽ.


Thứ năm, hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian xác
định hay không xác định.

Trong giao kết hợp đồng lao động các bên bắt buộc phải thỏa thuận thời
hạn của hợp đồng cũng như thời gian làm việc của người lao động. Thời hạn
của hợp đồng lao động có thể sẽ được xác định từ ngày hợp đồng lao động có
hiệu lực đến một thời điểm nào đó đã thỏa thuận song cũng có thể không xác
định trước thời hạn kết thúc. Vì vậy người lao động bắt buộc phải thực hiện
nghĩa vụ lao động của mình một cách liên tục theo thời gian làm việc và trong

được dựa vào các trường hợp được pháp luật quy định hoặc một bên đơn phương
chấm dứt hợp đồng hoặc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng lao
động này áp dụng cho những công việc không xác định thời điểm kết thúc hoặc
những công việc có thời hạn trên 36 tháng và trường hợp tuyển dụng vào biên
chế nhà nước trước đây nay chuyển sang ký kết hợp đồng lao động. Điều đó
cũng có nghĩa rằng, hợp đồng này thực hiện từ khi bắt đầu đến khi có một sự
kiện làm chấm dứt quan hệ giữa các bên. Ưu điểm của nó là tạo ra một

16


môi trường tự do, các chủ thể có thể chủ động chấm dứt hợp đồng bất cứ khi
nào với điều kiện phải tuân thủ đúng về thời hạn báo trước. Đối với hợp đồng
lao động không xác định thời hạn thì hình thức của hợp đồng là phải thành lập
bằng văn bản.


Thứ hai, Hợp đồng lao động xác định thời hạn

“Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai
bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong
khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.” [23, tr.7]
Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn này, thì các bên sẽ xác
định trước được thời điểm chấm dứt hợp đồng khi giao kết hợp đồng lao
động. Do đó, đến thời điểm hết hạn hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận thì
hợp đồng lao động sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, nếu hết hạn hợp đồng mà NLĐ
vẫn tiếp tục làm việc thì hai bên phải xem xét và giao kết hợp đồng lao động
mới. Nhưng theo quy định của pháp luật thì hai bên chỉ được giao kết tối đa
hai lần liên tiếp loại hợp đồng lao động xác định thời hạn.


• Trường hợp thứ nhất, được áp dụng đối với giám đốc doanh nghiệp
100% vốn của nhà nước quy định tại Điều 6 Nghị định số 44/2013/NĐ-CP:
“Thời hạn của hợp đồng lao động do hai bên xác định trong khoảng thời gian
từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.” [9, tr.5]
• Trường hợp thứ hai, được quy định tại Khoản 2 Điều 180 BLLĐ:
“Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia
đình do hai bên thỏa thuận.” [23, tr.50]
Đối với từng loại hợp đồng thì thời hạn, quyền và nghĩa vụ giữa người
sử dụng lao động với người lao động sẽ khác nhau. Trong đó sự khác nhau
giữa các loại hợp đồng lao động đó chính là trách nhiệm đóng thuế của người
lao động, trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người sử
dụng lao động và người lao động hay cách thức chấm dứt hợp đồng lao động
theo mùa vụ. Tùy thuộc vào tính chất công việc mà người sử dụng và người
lao động có thể lựa chọn hợp đồng lao động sao cho phù hợp nhất.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng lao động với vận động viên thể thao

1.1.2.1. Khái niệm về vận động viên thể thao

18


Thể thao ngày nay đang trở mình tiến lên chuyên nghiệp một cách
mạnh mẽ và trở thành một nghề nghiệp được xã hội công nhận, vận động viên
thể thao hiển nhiên được coi là người lao động thật sự, lao động cật lực. Khi
đề cập đến vận động viên, ông Vương Bích Thắng, Tổng cục trưởng tổng cục
Thể dục Thể Thao cho biết nghề vận động viên cũng giống như những ngành
nghề khác [16].
Theo Wikipedia thì vận động viên là những người được đào tạo để thi
đấu các môn thể thao đòi hỏi sức bền, sức khỏe và tốc độ. Vận động viên có
thể là người thi đấu thể thao chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư [1].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status