VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH ĐỨC
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN
DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH ĐỨC
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN
DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VÕ THỊ KIM OANH
Hà Nội, năm 2019
3.2. Một số giải pháp cụ thể .................................................................................. 51
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Theo nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới”, chủ trương đề cao vai trò tranh tụng tại phiên tòa nói chung và tranh
luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, tiếp
tục đề cập tới nội dung này và một lần nữa lại khẳng định: “Nâng cao chất lượng
tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư
pháp”.
Việc tranh tụng tại phiên tòa được quy định nhằm đảm bảo cho đại diện Viện
kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho bị hại, bị hại và những người tham gia tố tụng khác được phân tích, đánh giá
chứng cứ của vụ án góp phần đề ra những biện pháp xử lý phù hợp nhất với pháp
luật., qua đó giúp cho Hội đồng xét xử có những định hướng, nhận định khách quan,
toàn diện về toàn bộ vụ án, giúp cho việc tranh tụng đi đúng trọng tâm, nghị án và
tuyên án một cách khách quan, chính xác và đầy đủ.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thời gian qua đã cho thấy về mặt lý luận cũng
như thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các quy định về trình tự tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án hình sự còn một số bất cập, hạn chế như: Đối với vụ án mà bị cáo
có người đại diện hợp pháp thì chưa quy định người đại diện hợp pháp của bị cáo
trình bày bào chữa cho bị cáo và đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
- Luận văn Thạc sĩ “Giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt
Nam - Những lý luận và thực tiễn” của tác giả Ngô Huyền Nhung (năm 2012);
- Luận văn Thạc sĩ “Thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Luật
tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Văn
Chung (năm 2015).
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan
đến tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm như: “Một số vấn đề tranh tụng trong
tố tụng hình sự” của Lê Tiến Châu (Tạp chí Khoa học pháp lý số 01 năm 2003);
“Thủ tục xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng và
2
phương hướng hoàn thiện” của tác giả Đinh Văn Quế - Nguyên Chánh toà hình sự,
TANDTC (năm 2011);
Hầu hết các công trình đó là những công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện
về tổ chức và hoạt động của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; về xét
xử sơ thẩm và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm trong vụ án hình sự nói chung; còn
về trình tự tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị
xã Bình Long, tỉnh Bình Phước thì chưa được khoa học pháp lý Việt Nam quan tâm
nghiên cứu đúng mức. Những nghiên cứu về người tiến hành tố tụng và người tham
gia tố tụng trong vụ án hình sự mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra vị trí, vai trò của
những chủ thể này trong hoạt động tố tụng hình sự và nghiên cứu về những đổi mới
trong việc tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án; những đổi mới về tổ chức
phiên tòa sơ thẩm và thủ tục xét xử sơ thẩm mang tính chất chung chung mà chưa
được triển khai nghiên cứu độc lập, đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn trong một
công trình khoa học độc lập; chưa đánh giá một cách toàn diện về trình tự tranh tụng
của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự. Như vậy,
tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng định việc nghiên cứu
đề tài Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước” là đòi hỏi
- Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi là một luận văn Thạc sĩ Luật học thuộc chuyên ngành Luật
hình sự và Tố tụng hình sự, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung
mang tính lý luận và thực tiễn liên quan đến trình tự tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nhất là về thực tiễn áp dụng pháp luật về trình
tự tranh tụng, thực trạng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Tòa án
nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
5. Cơ sở lý luận vàPhương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ những nội dung trong đề tài: Phần
mở đầu và Chương 1, được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng mác-xít; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối
chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp để tổng hợp các tri thức khoa
học luật hình sự. Ở Chương 2, Chương 3 được thực hiện trên cơ sở phương pháp
4
phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn để tìm ra luận
chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trong tiến trình cải cách tư pháp, việc nâng cao chất lượng tranh tụng (phần
tranh luận, đối đáp giữa bên buộc tội và bên bào chữa) có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định sự thật, hạn chế oan sai, đúng người đúng tội. Người viết đã phân tích
thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Bình
Long, tỉnh Bình Phước. Từ thực tiễn xét xử, người viết lần lượt phân tích vai trò,
trách nhiệm và những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể
tham gia hoạt động tranh tụng. Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, người viết đã
trình bày những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án nhân dân
thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
trình tranh tụng trong tố tụng hình sự.
Trong khoa học pháp lý khái niệm “tranh tụng” không còn quá mới mẻ đối
với Việt Nam. Nhưng trước năm 2002, vấn đề tranh tụng ở nước ta còn là một vấn
đề khá mới, nhiều ý kiến tỏ rõ quan điểm không thừa nhận “tranh tụng” trong tố
tụng hình sự Việt Nam. Kể từ sau Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đâyọi xintắt làg
Nghị quyết 08) được ban hành. Ngày càng nhiều tác giả đề cập đến vấn đề tranh
tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tranh tụng tại phiên tòa hình sự nói riêng.
Ta có thể kể đến một số quan điểm nổi bật sau:
6
Thứ nhất, có khá nhiều quan điểm đã nhận định tranh tụng chính là cuộc
tranh luận (tranh cãi) về vụ án mà trong đó các bên đưa ra lý lẽ, chứng cứ hoặc các
văn bản pháp luật nhằm bảo vệ sự buộc tội hoặc bào chữa của mình: Trong chuyên
đề: “Tranh tụng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát
viên trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Viện Kiểm Sát
nhân dân tối cao đã khẳng định: “Tranh tụng được hiểu với nghĩa không phải là một
kiểu mô hình tố tụng mà là hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự, cụ thể là tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự,
bao gồm cả phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm…”[31]. Hoặc “Tranh tụng là chỉ cuộc
tranh luận về vụ án bằng cách các bên tham gia đưa ra các lý lẽ, chứng cứ và các
văn bản làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa của mình để người thứ ba đứa
giữa hai bên là tòa án làm trọng tài phân xử” [10, tr.31] hoặc “Tranh tụng cần
phải được hiểu là sự tranh luận theo thủ tục quy định của luật tố tụng” [11, tr.4] .
Theo tôi, các quan điểm trên chưa thật sự phù hợp. Bởi vì các quan điểm này đã
đồng nhất khái niệm tranh tụng với khái niệm tranh luận. Về bản chất, tranh tụng và
tranh luận có mối quan hệ mật thiết nhưng không thể đồng nhất. Tranh luận là một
thủ tục độc lập của phiên tòa hình sự, đứng sau phần xét hỏi. Trong tranh luận, các
về các vấn đề liên quan đến vụ án với nhau nhằm xác định sự thật khác quan của vụ
án.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu tranh tụng là quá trình tồn tại, vận
động và đấu tranh giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội..Tranh tụng thể hiện rõ ràng
nhất trong thủ tục tranh luận tại phiên toà nhưng tranh tụng và tranh luận không
hoàn toàn đồng nhất. Tranh tụng cũng là phương tiện, tiền đề quan trọng cho quá
trình xác định sự thật khách quan của vụ án diễn ra công bằng, đảm bảo các quyền
của công dân, quyền con người đồng thời vừa kiểm soát tốt tội phạm, tạo nên lòng
tin cho nhân dân về sự công bằng, chính trực của các cơ quan tiến hành tố tụng,
cũng như nhận thức đúng về vai trò của người bào chữa trong hoạt động tố tụng
hình sự.
1.1.2. Khái niệm về phiên tòa hình sự sơ thẩm
8
Phiên tòa hình sự sơ thẩm là hình thức tố tụng của xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự; đó là hình thức hoạt động của Tòa án ở cấp thấp nhất để xem xét và ra phán
quyết lần đầu về toàn bộ vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
1.1.3. Khái niệm về tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng là một giai đoạn của tranh
tụng trong tố tụng hình sự và ở giai đoạn này tranh tụng cũng là sự đối trọng nhằm
phủ định lẫn nhau giữa bên buộc tội và gỡ tội nhưng sự khác biệt ở đây là đã có sự
xuất hiện của Tòa án với vai trò là trọng tài của hai bên tranh tụng. Vì vậy, buộc tội,
bào chữa và xét xử là kết quả tranh tụng tại tòa chính là căn cứ để Hội đồng xét xử,
bên buộc tội và bên bào chữa xác định sự thật vụ án được khách quan nhất.
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, chức năng buộc tội trực tiếp do kiểm sát viên,.
Bị hại được quyền trình bày ý kiến, đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Chức năng bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm chủ yếu do
bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của (bị cáo, pháp nhân thương
chủ tọa phiên tòa, thẩm phán, hội thẩm) giữ vai trò trọng tài giữa bên buộc tội và
bên bào chữa.
- Nhóm các chủ thể khác tham gia vào hoạt động tranh tụng nhằm giúp Tòa
án xác định sự thật khách quan, giải quyết đúng đắn các vấn đề của vụ án (Thư ký
phiên tòa, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án; người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; người dịch thuật;
đại diện cơ quan, tổ chức xã hội..).
- Thứ hai, về nội dung tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là thực hiện
việc xét hỏi để chứng minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa
điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội. Ai là người thực hiện hành vi
phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự
hay không. Mục đích, động cơ phạm tội. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách
nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tính chất, mức độ thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Lúc này, nội dung
tranh tụng mới chỉ xoay quanh các vấn đề chứng minh tính hợp pháp và giá trị
chứng minh của các chứng cứ về các tình tiết của vụ án (thu thập, kiểm tra, đánh
10
giá) chứng cứ ở các giai đoạn tố tụng trước đó và tại tòa giữa bên buộc tội với bên
gỡ tội mà chưa bộc lộ rõ quan điểm của bên buộc tội và bên bào chữa - là hai bên
của cuộc tranh tụng về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án.
Dựa trên kết quả chứng minh về chứng cứ tại tòa, Hội đồng xét xử chỉ lắng
nghe để ghi nhận đầy đủ ý kiến của các bên trong cuộc tranh luận; Chủ tọa phiên tòa
không được hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện cho các bên trình bày,
đối đáp hết các ý kiến của họ giúp Hội đồng xét xử có được những đánh giá khách
quan, toàn diện về các vấn đề cần giải quyết của vụ án làm cơ sở giải quyết vụ án
được chính xác, đúng pháp luật.
- Thứ ba, về phạm vi tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
tranh tụng còn hạn chế được các tiêu cực trong tố tụng như việc ép cung, nhục hình,
hối lộ,…. Đồng thời, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội cũng
được bảo đảm. Như vậy có thể nói, tranh tụng góp phần bảo vệ tốt quyền con người
trong các hoạt động tố tụng.
Thứ hai, Tranh tụng còn tạo ra môi trường đỏi hỏi các bên trong tố tụng phải
luôn rèn luyện, hoàn thiện sự am hiểu, trình độ chuyên môn cũng như nghiệp vụ để
chứng minh, bảo vệ những quan điểm, chứng cứ, luận cứ của mình, nâng cao hiệu
quả thực hiện chức năng tố tụng của mình để tìm ra sự thật khách quan của vụ án,
đồng thời nâng cao nhận thức, niềm tin của người dân vào vai trò của luật sư cũng
như cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa được
xác định rõ ràng hơn. Thẩm phán không gánh vác quá nhiều trách nhiệm: vừa thực
hiện chức năng xét xử, vừa chứng minh tội phạm và có thể còn thực hiện luôn cả
chức năng bào chữa. Thẩm phán chỉ thực hiện duy nhất chức năng xét xử. Có sự
phân công quyền và nghĩa vụ phù hợp cho các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
và chức năng bào chữa thực hiện tốt chức năng của mình. Điều này tạo nên thế
“kiềng 3 chân” cân bằng trong các hoạt động tố tụng nhằm bảo vệ tốt các quyền con
người đồng thời kiểm soát được tội phạm.
Từ những phân tích trên cho thấy, tranh tụng mang ý nghĩa to lớn trong hoạt
động chứng minh tội phạm trên cơ sở vẫn đảm bảo các quyền con người. Vì vậy,
chúng ta cần ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng trong tố tụng hình sự nói
12
chung và tại phiên toà xét xử nói riêng bằng cách nghiên cứu vấn đề tranh tụng tại
các quốc gia khác và học hỏi những nhân tố, thủ tục tích cực phù hợp với nước ta.
1.3.Cơ sở của việc quy định tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.3.1.Theo yêu cầu của cải cách tư pháp
Tranh tụng tại phiên tòa hình sự là một trong những nội dung có ý nghĩa
quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là yêu cầu cấp bách trong việc đảm bảo
thể trong việc thực hiện quá trinh tranh cãi bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định
của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, từ đó
tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội thông qua, nguyên tắc
tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 như sau: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ,
đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự
để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo,
xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình
bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào
kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Như vậy, đây là lần đầu tiên nguyên tắc tranh tụng được thể hiện trong Bộ
luật Tố tụng hình sự, đồng thời từ đó vấn đề tranh tụng cũng đã được thể hiện trong
một loạt các quy định khác nhau của Bộ luật, với mục đích tăng cường tranh tụng
trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền con người, chống oan sai, nhanh chóng
xác định sự thật khách quan của vụ án.
1.4 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển quy định về tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm từ năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003
1.4.1.Quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm giai đoạn
từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Trong
giai đoạn từ năm 1945 đến trước những năm 1960, các quy định của
14
pháp luật về tổ chức phiên tòa và tiến hành tố tụng tại phiên tòa của Tòa án chưa
được hệ thống hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật nào nhất định, mà các
không làm rõ được các tình tiết khách quan của vụ án do đó chỉ ra phán quyết theo
chủ trương đã duyệt án trước đó... Để khắc phục những tồn tại và bất cập trên, Toà
án nhân dân tối cao đã ban hành Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm ban
hành kèm theo Thông tư số 16 - TATC ngày 27/9/1974, trong đó phần thứ 4 quy
định về trình tự tố tụng xét xử tại phiên tòa của Tòa án nhân dân quy định: “Đối với
những vụ án phải đưa ra xét xử, việc xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quyết định vụ
án. Đây là giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ trình tự tố tụng hình sự vì trong
phiên tòa, Tòa án nhân dân thẩm tra lại toàn bộ chứng cứ, nghe tranh cãi và cuối
cùng quyết định việc xử lý vụ án” [28, tr.132]. Có thể nói đây là những quy định rất
tiến bộ về thủ tục tố tụng tại phiên toà và nó vẫn còn nguyên giá trị pháp lý cho đến
ngày nay.
Quy định về thủ tục tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã đánh dấu một bước phát triển mới của khoa
học Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của đời sống
xã hội lúc bấy giờ. Trên cơ sở một số nguyên tắc tố tụng được ghi nhận trong Hiến
pháp, trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân phù hợp hơn với
xu thế tự do, dân chủ, phù hợp với chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng.
Theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 để mở đầu
cho phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, qua đó “đề nghị kết tội bị
cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ
hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề
nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội” [16, Điều 191].
Trong quá trình tranh tụng, việc hỏi, đối đáp của Kiểm sát viên chủ yếu là
đưa ra những lập luận để phản bác những ý kiến không phù hợp của bị cáo, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về các nội dung được Kiểm sát viên
đưa ra trong lời luận tội. Kết quả tranh luận giữa các bên có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với việc giải quyết vụ án của Toà án. Việc phán quyết của Toà án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị hại, của người bào chữa, bị cáo,
16
cụ thể về các hoạt động của KSV tại phiên tòa: "đọc cáo trạng, quyết định của Viện
17
kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc
luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người
tham gia tố tụng tại phiên tòa”. Song hành với quyền công tố, KSV tham gia phiên
tòa còn có quyền "kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà
án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của Toà
án”.Ngoài ra, người bị hại, nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng thực hiện chức năng
buộc tội ở một mức độ nhất định. Để các chủ thể này có thể thực hiện chức năng
của mình trong tố tụng hình sự, pháp luật quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ
tố tụng nhất định được quy định tại các Điều 51, Điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự
như quyền "trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp”; quyền "khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng”.
Về trình tự, thủ tục tranh tụng tại phiên toà, phần lớn các quan điểm khoa học
hiện nay đều xác định hoạt động tranh tụng được bắt đầu ngay từ phần thủ tục bắt
đầu phiên tòa. Tại phần thủ tục sau khi kiểm tra căn cước của bị cáo, công bố thành
phần những người tham gia tố tụng, giải thích quyền nghĩa vụ của bị cáo, chủ toạ
phiên toà phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai đề nghị
triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem
xét hay không.Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết
định.Như vậy, việc các bên đưa ra yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa
ra vật chứng, tài liệu mới để Hội đồng xét xử xem xét chính là những đảm bảo cho
việc xét hỏi và là cơ sở tranh luận ở phần tiếp theo của phiên tòa. Trên thực tế, hoạt
động tranh tụng tại phiên tòa bắt đầu rõ nét nhất bằng việc Kiểm sát viên đọc bản
cáo trạng trong phần xét hỏi tại phiên toà. Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định: "Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau
đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
2.1.1. Quy định về xét hỏi tại tại phiên tòa sơ thẩm
Thủ tục xét hỏi là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự nói chung và của
hoạt động xét xử nói riêng. Trong giai đoạn này Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và
những người khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành kiểm tra các
chứng cứ, tài liệu của vụ án một cách công khai bằng cách trực tiếp xét hỏi bị cáo,
người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, xem xét vật
chứng, công bố lời khai, xem xét tại chỗ…nhằm làm rõ các nội dung, tình tiết của
vụ án, qua đó có những định hướng, nhận định khách quan, toàn diện về toàn bộ vụ
án giúp cho việc tranh luận đi đúng trọng tâm, nghị án và tuyên án một cách chính
xác và đầy đủ.
Thứ nhất, quy định về bổ sung cáo trạng của Kiểm sát viên
Theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tại phần
xét hỏi, sau khi đọc bản cáo trạng, Kiểm sát viên được quyền trình bày ý kiến bổ
sung và ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
Thứ hai, về trình tự xét hỏi
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gộp chung phần xét hỏi và tranh luận
thành phần tranh tụng để phù hợp với yêu cầu của công tác tranh tụng tại phiên tòa.
Tại Điều 307 Bộ luật Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chủ tọa
phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán (trường
hợp Hội đồng 3), Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
21