VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN
Hà Nội - 2019
3.1. Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội
nhận hối lộ.................................................................................................................................. 69
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả áp dụng pháp luật...........72
KẾT LUẬN.............................................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
CSGT
Cảnh sát giao thông
CTPTN
Các tội phạm tham nhũng
CTPVCV
Các tội phạm về chức vụ
CHLB
Cộng hòa liên bang
HĐQT
đứng ngoài vấn nạn này, trong đó có cả Việt Nam.
Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm tham nhũng, tại Điều 56
Hiến pháp 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã
hội và quản lý nhà nước”. Việc Hiến pháp quy định điều này là sự khẳng định
của Đảng và Nhà nước ta về công cuộc đấu trang phòng chống tham nhũng
luôn được chú trọng, quan tâm, đó là một cuộc chiến lâu dài đòi hỏi tất cả mọi
người dân, mọi thành phần xã hội chung tay, góp sức đẩy lùi tệ nạn tham
nhũng, bảo vệ cuộc sống giàu đẹp hơn.
Trong số các tội phạm về tham nhũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng thì
tội nhận hối lộ trong những năm gần đây có những diễn biến rất phức tạp.
Nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng về tội nhận hối lộ đã xảy ra trong mọi lĩnh vực
như: giao thông vận tải, xây dựng, thi hành án, thanh tra…gây bức xúc trong
dư luận xã hội, ảnh hưởng đến uy tín và niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước. Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong đấu tranh với loại tội
phạm này còn gặp nhiều khó khăn do chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt,
các dấu hiệu phạm tội dễ bị nhầm lẫn với các tội phạm chức vụ khác.
Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam cho
thấy, từ khi thành lập nước (năm 1945) đến trước khi thông qua BLHS năm
1985, khái niệm về tội phạm chức vụ nói chung, tội phạm nhận hối lộ nói
1
riêng chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự. Trên cơ sở kế
thừa và phát triển Luật Hình sự của Nhà nước ta từ sau Cách mạng tháng 8
năm 1945 đến đầu năm 1980, tổng kết thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội
phạm về chức vụ, có dự đoán đến những diễn biến tình hình tội phạm này
trong thời gian tới, cũng như dựa trên khái niệm chung về tội phạm, các nhà
làm luật quy định khái quát nhất về tội phạm chức vụ trong Điều 219 BLHS
- chính trị của nhiều quốc gia, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tổ
chức minh bạch quốc tế (Transparency International), Ngân hàng thế giới
(World Bank), Đại học Columbia, Trung tâm nghiên cứu thị trường thế giới...
Tại Việt Nam, các tội phạm về nhận hối lộ được coi là tội phạm “nhạy
cảm”, do chủ thể, do cách thức phạm tội và hậu quả nó để lại, đã có nhiều nhà
chính trị, nhà nghiên cứu khoa học pháp luật quan tâm và nghiên cứu.
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về
các tội phạm tham nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng đã được công
bố như: Giáo trình Tội phạm học của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội 2008; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm
của Đại học Luật Hà Nội, GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb.Công an nhân dân,
Hà Nội 2014; Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ,
GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; PGS.TS Hồ Sỹ
Sơn, Tham nhũng và phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, Học viện
khoa học xã hội, Hà Nội 2017...
- Luận án tiến sĩ luật học “Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật
hình sự Việt Nam” của Trần Văn Đạt, Học viện khoa học xã hội, 2012;
- Luận án tiến sĩ luật học “ Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về
chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Tính, Học viện
khoa học xã hội, 2017;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam”
của Triệu Là Pham, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2016
- Bình luận điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
về tội nhận hối lộ của Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí kiểm sát, tháng 12 năm 2017.
Trên cơ sở, một số nghiên cứu khảo sát trên đây cho thấy, có rất nhiều
công trình nghiên cứu về tội phạm tham nhũng nói chung, tội nhận hối lộ nói
riêng dưới dạng lý luận, tập trung nghiên cứu trên khía cạnh pháp lý của điều
luật nhưng chưa toàn diện, đầy đủ với thực tiễn tình hình tội phạm trong giai
Việt Nam năm 2015 được quy định chi tiết tại Điều 354 Và các văn bản pháp
luật, tài liệu trong phạm vi pháp luật Việt Nam có liên quan đến tội nhận hối lộ.
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng trong thời gian từ năm 2013 đến
6 tháng đầu năm 2019.
4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận về chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng chính sách
hình sự áp dụng đối với tội nhận hối lộ.
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích và so sánh;
- Phương pháp khảo sát;
- Phương pháp xử lý thông tin;
- Phương pháp quy nạp – diễn dịch;
Trong các phương pháp nêu trên thì phương pháp phân tích luật giữ vai
trò quan trọng nhất.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, quy định pháp luật hình
sự Việt Nam về tội nhận hối lộ; phân tích, rõ hơn các dấu hiệu phạm tội,
đường lối xử lý tội phạm nhận hối lộ; Thông qua luận văn, việc nghiên cứu
thực tiễn áp dụng pháp luật về cơ bản đã chỉ ra những mặt ưu điểm, hạn chế,
khó khăn trong việc áp dụng cơ sở lý luận về tội nhận hối lộ vào hoạt động
xét xử tội phạm, đồng thời, phân tích, đánh giá được nguyên nhân của hạn
chế, khó khăn, trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng
trì trệ, làm giảm tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây mất lòng tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Công cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng hàng
đầu, coi đó là một trong những “vấn nạn quốc gia” cần được từng bước loại
bỏ trong tương lai để tiến tới xây dựng một đất nước phát triển phồn vinh, ổn
định.
Nhìn từ góc độ chính trị, tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực thể
hiện sự tha hóa của quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước mà một trong
những biểu hiện của sự tha hóa đó là đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của
tập thể, của xã hội, đây là hiểm họa đe dọa sự tồn tại của một nền chính trị,
một chế độ Nhà nước [27, trg 25]. Nhìn từ góc độ đạo đức, tham nhũng là
hiện tượng trái với đạo đức của xã hội, làm tha hóa, hủy hoại giá trị tốt đẹp
của con người, làm ranh giới giữa lòng tham, cái ác, sự vô cảm được tăng lên,
đi ngược với truyền thống đạo đức của xã hội. Nhìn từ góc độ kinh tế, tham
6
nhũng là hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế khi nó dùng phương thức bất hợp
pháp để làm giàu cho một bộ phận nhỏ trong xã hội, gây thất thoát tài sản của
Nhà nước, cản trở phá hoại nên kinh tế và các chính sách của Đảng và Nhà
nước. Nhìn từ góc độ pháp lý, tham nhũng là hành vi trái pháp luật hình sự
với lỗi cố ý, được bộ luật hình sự quy định và trừng trị.
Tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy
định:”1. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ
điển học thì: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân
lấy của cải” [38, tr.56].
Như vậy, ta có thể hiểu tham nhũng là hành vi của người có chức vụ,
quyền hạn lợi dụng việc thực hiện quyền lực của nhà nước để thực hiện các
[40]. Hiện tượng hối lộ làm mất niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính
trị nói chung và cán bộ, công chức được coi là “công bộc của nhân dân” nói
riêng. Khi chúng ta nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi hối lộ đối
với hệ thống chính trị, sự cần thiết phải xử lý loại hành vi này bằng pháp luật
hình sự trở nên rõ ràng hơn.
Trong khi đó, từ khía cạnh hành chính - nhà nước, các học giả và đa số
các quốc gia đều thống nhất chung “hối lộ” là một loại hành vi tham nhũng.
Hiện tượng này đang có xu hướng xảy ra nhiều tại những nơi thiếu sự minh
bạch và thiếu sự tôn trọng các quy tắc đạo đức, đồng thời tác động trở lại làm
cho bộ máy nhà nước trở nên trì trệ, thối nát và quan liêu. Đặc biệt, hối lộ
cũng hủy hoại đạo đức và trách nhiệm của những người thực thi chức trách,
làm mất lòng tin của công chúng vào hoạt động công vụ [36, tr.27.]
Tuy có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản, có thể hiểu
khái quát: Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực
tiếp hoặc qua trung gian nhận lợi ích vật chất hoặc phi vật chất để sử dụng
quyền lực được nhà nước, tổ chức giao phó thực hiện hoặc không thực
hiện mong muốn có lợi cho người đưa hối lộ.
Dưới góc độ của pháp luật hình sự Việt Nam, tội nhận hối lộ là một
trong các tội cơ bản của tội phạm về chức vụ được quy định tại điều 354, Bộ
luật hình sự năm 2015.
Nhận hối lộ là một trong những tội phạm có tính đặc trưng, nghiêm trọng
nhất trong nhóm các tội phạm về tham nhũng. Tác hại của tội phạm này gây
8
hậu quả trên nhiều phạm vi, nhiều lĩnh vực là trở ngại lớn trong quá trình đất
nước đổi mới, đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội nhận hối lộ trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 2015
chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Bộ luật dân sự
năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để
làm rõ bản chất pháp lý của tiền, chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành
trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản. Tiền là
công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị.
Tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động
sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản
hình thành trong tương lai.”
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả
mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ
kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật
kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… Tài sản lưu động là những
tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh,
bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và những khoản có thể chuyển ngay
thành tiền mặt như cổ phiếu, séc…
Ngoài tiền và tài sản pháp luật cũng quy định lợi ích vật chất khác là
những lợi ích thỏa mãn yêu cầu của người nhận hối lộ, tồn tại dưới dạng vật
chất nhưng lại không thể quy đổi thành tiền, cũng không tồn tại dưới dạng tài
sản cụ thể. Trong thực tiễn xét xử, đã phát hiện nhiều trường hợp người nhận
hối lộ nhận lợi ích như: vé xem hòa nhạc, buổi gặp gỡ với nhân vật nổi tiếng
có tầm ảnh hưởng, hứa cho hưởng lãi suất cao, hứa đảm bảo thủ tục đi du
học… Pháp luật quy định lợi ích vật chất khác để đảm bảo việc xác định “của
hối lộ” không bị bỏ sót, tránh tình trạng lách luật và đáp ứng yêu cầu đấu
tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay. Điểm mới của
Bộ luật hình sự năm 2015 so với Bộ luật hình sự năm 1999 là quy định thêm
về lợi ich phi vật chất. Quy định này đã mở rộng nội hàm của thuật ngữ “của
hối lộ”. Theo đó, lợi ích phi vật chất là những lợi ích vô hình, phi tiền tệ, đó là
lợi ích về mặt tinh thần được biểu hiệu thông qua nhiều hình thức khác nhau
thuận, thống nhất giữa người nhận hối lộ và đưa hối lộ. Sự thỏa thuận là dấu hiệu
bắt buộc của tội phạm này, giữa họ đòi hỏi phải có sự trao đổi, thống nhất, đạt
đến nhận thức chung, ngoài ra sự thỏa thuận đó phải có sự cam kết, khẳng định,
thỏa thuận bằng miệng, bằng giấy hoặc thỏa thuận ngầm… Kết quả
11
đạt được của sự thỏa thuận đó là việc người nhận hối lộ sẽ làm hoặc không
làm một việc nhất định theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người đưa hối lộ.
Tội nhận hối lộ có 02 hành vi cơ bản, quan trọng để cấu thành tội phạm:
Hành vi thứ nhất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận tiền, tài sản, lợi
ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất của người đưa hối lộ. Trong hành vi này,
người nhận hối lộ sử dụng vị trí, nhiệm vụ của bản thân trong cơ quan, đơn vị,
tổ chức của mình để thực hiện nhận về bản thân các lợi ích về vật chất hoặc
lợi ích về tinh thần từ người đưa hối lộ. Việc nhận các giá trị này có thể là trực
tiếp hoặc trung gian qua người thứ ba. Cần lưu ý, có trường hợp người nhận
hối lộ nhận “của hối lộ” không từ người đưa hối lộ, cũng không phải từ người
môi giới hối lộ nhưng vẫn là phạm tội nhận hối lộ (xét trong trường hợp việc
nhận hối lộ có tổ chức). Trường hợp người nhận hối lộ nhận “của hối lộ” qua
trung gian, không nhất thiết phải biết người đưa hối lộ là ai, mà chỉ cần biết
đó là “của hối lộ” thì bị coi là nhận hối lộ. Tuy nhiên, người nhận hối lộ phải
biết việc nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hay lợi ích phi vật chất là
nhận của hối lộ, nếu có căn cứ xác định người nhận tiền, tài sản, lợi ích vật
chất khác hay lợi ích phi vật chất nhưng không biết đó là của hối lộ thì người
nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác, lợi ích phi vật chất không bị coi là
nhận hối lộ. Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất có thể
đã được người nhận hối lộ nhận, cũng có thể chưa nhận nhưng giữa người
nhận hối lộ và người đưa hối lộ phải có một sự thỏa thuận nhất định. Điều 354
yêu cầu của người đưa hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ không thực hiện
hành vi mà đáng lẽ họ phải thực hiện và do không thực hiện nhiệm vụ đó nên
đã đem lại lợi ích cho người đưa hối lộ, hoặc cho người khác mà người đưa
hối lộ quan tâm. Trường hợp này, hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
luôn thực hiện bằng hình thức không hành động.
Người mà người đưa hối lộ quan tâm trong trường hợp này là những
người thân của người đưa hối lộ cũng có thể là bạn bè của người đưa hối lộ.
Trong trường hợp người nhận hối lộ lạm dụng chức vụ, quyền hạn để
làm một việc thuộc chức trách của người khác thì người đó vẫn phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.
- Hình thức biểu hiện của hành vi được khái quát chung là: trực tiếp
hoặc qua trung gian.
13
Trực tiếp nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất là
trường hợp người nhận hối lộ trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc nhận của hối lộ từ
chính người đưa hối lộ, không qua người khác.
Qua trung gian là trường hợp người nhận hối lộ không trực tiếp tiếp xúc
gặp gỡ với người đưa hối lộ. Quá trình trung gian này được thực hiện có thể
qua người thứ ba hoặc nhiều người trung gian chuyển giao, có thể qua nhiều
khâu trung gian, ngụy trang chuyển giao của hối lộ. Trng trường hợp này
người hối lộ không nhất thiết phải biết người đưa hối lộ là ai, chỉ cần biết đó
là “của hối lộ” và nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất đó thì
đã cấu thành tội phạm.
- Về dấu hiệu hậu quả: Hậu quả của nhận hối lộ là những thiệt hại vật
chất hoặc phi vật chất, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động bình thường của cơ
quan nhà nước, tổ chức. Dấu hiệu hậu quả không phải dấu hiệu định tội mà là
dấu hiệu định khung tăng nặng cho tội này. Tội nhận hối lộ có cấu thành tội
quản lý trong tổ chức, có thể là người đứng đầu, hoặc người có vai trò và tầm
ảnh hưởng nhất định trong bộ máy hoạt động của cơ quan, tổ chức đó. Những
người đó không chỉ là người có trách nhiệm quản lý tài sản của tổ chức, mà bao
hàm phạm vi quyền hạn của người đó có thể rộng hơn. Người phạm tội nhận hối
lộ lại không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi riêng đối với phần tài sản mà
mình quản lý, mà lại lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn của mình để hứa hẹn
thực hiện hay thực hiện một điều gì đó theo ý muốn của người hối lộ để đổi lại là
tiền, tài sản, các lợi ích vật chất hay phi vật chất khác.
Trong việc xác định tội danh nhận hối lộ, ngoài người thực hiện hành vi
nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn, còn có một nhóm đối tượng
không phải là người có chức vụ, quyền hạn, nhưng vẫn có thể là chủ thể của
tội phạm, đó là người tổ chức, xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, trong việc
định tội danh đồng phạm đối với nhóm chủ thể này, cần phải hết sức cẩn thận
do có thể nhầm sang tội “môi giới hối lộ”. Có thể hiểu, trong trường hợp vụ
án nhận hối lộ không có đồng phạm thì chủ thể nhận hối lộ là chủ thể đặc biệt,
chỉ người có chức vụ quyền hạn mới nhận hối lộ được. Còn trong vụ án có
đồng phạm thì có thể có cả những người không có chức vụ, quyền hạn tham
gia, nhưng họ chỉ có thể là người tổ chức, người xúc giục, giúp sức.
Người có chức vụ quyền hạn phải thực hiện công vụ khi giải quyết yêu
cầu của người đưa hối lộ mới được coi là người nhận hối lộ. Đây là hành vi
15
quan trọng nhất để xác định chủ thể của tội nhận hối lộ. Yêu cầu của người
đưa hối lộ có thể là yêu cầu về mặt vật chất (đạt lợi ích về mặt tiền bạc, nhà
cửa, xe hơi…) hoặc yêu cầu về mặt phi vật chất (thăng chức, được đi học,
được hợp đồng lao động …) và khi thực hiện yêu cầu đó, người nhận hối lộ
phải dùng chính chức vụ, quyền hạn của mình giải quyết. Không có việc thực
nhận, nhưng không vì thế mà cho rằng ý định nhận hối lộ của người phạm tội
có sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Người nhận hối lộ có ý định nhận của
hối lộ trước khi thực hiện hành vi phạm tội, cho dù người nhận hối lộ nhận
của hối lộ trong quá trình nào của việc phạm tội. Mục đích của người phạm
tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Xét trường hợp người phạm
tội không có ý định nhận của hối lộ thì cho dù họ có làm hay không làm một
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì cũng không phạm
tội nhận hối lộ.
Bên cạnh đó, cũng không thể cho rằng người có chức vụ, quyền hạn có
lỗi ở mức độ thấp, bị động do làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Người
có chức vụ, quyền hạn ở trong cơ quan, tổ chức xét cả về điều kiện, kinh
nghiệm làm việc và năng lực đều là những người nổi trội, họ hoàn toàn có thể
nhận thức được tính chất gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhận hối lộ.
Họ hoàn toàn có thể tự quyết được việc nhận hay từ chối “của hối lộ”, toàn
quyền quyết định có thực hiện hành vi nhận hối lộ để làm hay không làm một
việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ hay không. Do đó, xét trên mọi
phương diện lỗi của người nhận hối lộ luôn được xác định là lỗi cố ý trực tiếp.
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình
sự Việt Nam
Trong những năm qua Việt Nam đạt được nhiều thành tựu mới về công
cuộc phát triển đi lên của đất nước, đời sống kinh tế văn hóa được ổn định
phát triển. Tuy vậy, nước ta vẫn đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức lớn,
tình hình các tội phạm tham nhũng nói chung và các tội phạm nhận hối lộ nói
riêng đang diễn ra phức tạp trong nhiều lĩnh vực. Tham nhũng là một hiện
tượng mang bản tính nhân loại và phổ biến, do vậy có thể khẳng định rằng
chừng nào còn con người thì còn tham nhũng. Việc phòng chống tham nhũng,
trừng trị những kẻ tham nhũng đi đến mức giảm thiểu tham nhũng lại là một
nhiệm vụ sống còn đối với mỗi quốc gia dân tộc. [41, trg 9]
17
đảm bảo sự công bằng xã hội, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đi vào cuộc sống.
18
1.2. Quy định hình phạt, đường lối xử lý tội phạm trong Bộ luật hình sự
Việc quy định khung hình phạt, đường lối xử lý tội phạm nhận hối lộ
được quy định tại Điều 354 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, theo đó quy
định 04 khung hình phạt chính, bao gồm:
1.2.1 Hình phạt được quy định theo cấu thành tội phạm cơ bản
Phạm tội tại khoản 1 Điều 354 phải chịu hình phạt tù từ 02 năm đến 07
năm tù. Đây là khung hình phạt cơ bản cơ bản của tội này.
Khoản 1 Điều 354 BLHS quy định: “1. Người nào lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất k lợi ích nào
sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối
lộ, thì bị phạt t từ n m đến n m:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ
dưới 1
.
.
đồng hoặc dưới .
.
nhiều trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 354 BLHS năm 2015 bị phạt
nặng hơn người phạm tội chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 1 của
Điều luật này; người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều
51 BLHS năm 2015 sẽ được áp dụng hình phạt thấp hơn người phạm tội
không có hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ hơn; người phạm tội có nhiều tình tiết
tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ bị áp dụng hình
phạt nặng hơn người phạm tội không có hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn;
người phạm tội trả lại tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác mà họ đã nhận
hoặc bồi thường được càng nhiều thiệt hại mà họ đã gây ra thì mức hình phạt
càng được giảm so với người phạm tội không trả lại tiền, tài sản hoặc lợi ích
vật chất khác mà họ đã nhận hoặc không bồi thường thiệt hại mà họ đã gây ra
hoặc chỉ trả lại không đáng kể tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác mà họ đã
nhận hoặc chỉ bồi thường không đáng kể thiệt hại mà họ đã gây ra.
So sánh giữa tội nhận hối lộ được quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999
thì Bộ luật hình sự năm 2015 tăng mức định lượng trong cấu thành tội phạm
cơ bản từ 10.000.000 đồng lên 100.000.000 đồng. Quy định mới này có lợi
cho người phạm tội. Bởi lẽ, theo quy định của BLHS năm 1999 thì người
phạm tội nhận hối lộ “từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng” đã
bị xét xử theo cấu thành tội phạm tăng nặng thứ hai và bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm. Tuy nhiên, với quy định mới này, người phạm tội nhận
hối lộ “từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” mới bị xét xử theo
cấu thành tội phạm tăng nặng thứ hai của Tội nhận hối lộ.
Tăng mức định lượng trong cấu thành tội phạm cơ bản của Tội nhận hối
lộ từ mười triệu đồng lên 100.000.000 đồng vừa để phân hóa rõ hơn, hợp lý
hơn hành vi vi phạm kỷ luật với hành vi phạm tội và vừa phù hợp hơn với tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Theo quy định của BLHS năm 1999 thì người phạm tội nhận hối lộ dưới
hai triệu đồng nhưng “Gây hậu quả nghiêm trọng” thì vẫn phạm tội này và bị
20