Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh - Pdf 58

Chủ đề 1: Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng anh THCS
1. Quan điểm đổi mới PPDH
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hớng vào việc phát triển tính năng
động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải
quyết vấn đề cho các em. Để đạt đợc mục tiêu này việc thay đổi PPDH theo h-
ớng coi trọng ngời học, coi học sinh là chủ thể hoạt động, khuyến khích các
hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình dạy
học là rất cần thiết.
Trong dạy học ngọai ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay
thế ngời học trong việc nắm các phơng tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong
hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của các em. PPDH ngoại
ngữ chọn giao tiếp là phơng hớng chủ đạo, năng lực giao tiếp (communicative
competences) là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là
phơng tiện dạy học (dạy học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp).
PPDH này sẽ phát huy tốt nhất vai trò chủ thể, chủ động, tích cực của học sinh
trong việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ vì những mục đích thực tiễn và sáng
tạo. Học sinh cần phải đợc trang bị cách thức học tiếng Anh và ý thức tự học
tập, rèn luyện. Ngời học là chủ thể, nếu không biết cách tự học thì sẽ không
thể nắm vững tiếng nớc ngoài.
Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thày thuyết trình, phân tích ngôn ngữ -
trò nghe và ghi chép thành PPDH mới, trong đó thày là ngời tổ chức, giúp đỡ
hoạt động học tập của học sinh, còn học sinh là ngời chủ động tham gia vào
quá trình hoạt động học tập.
Tiêu chí cơ bản của PPDH mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của học
sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Tiêu chí chủ
yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp, năng lực
ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
1
2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy
học ngoại ngữ
Những biểu hiện tích cực đặc trng của học sinh trong hoạt động học tập bộ

dạy học. Kiến thức là điều kiện, là phơng tiện, là nền tảng. Chỉ có kiến
thức mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, ngợc lại, chỉ
có kĩ năng mà không có kiến thức thì khả năng giao tiếp bị hạn chế và
không phát triển đợc.
- Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp
dới các dạng: nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện đợc năng lực giao tiếp
cần có môi trờng với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trờng
này chủ yếu do giáo viên tạo ra dới dạng những tình huống giao tiếp và
học sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với từng tình
huống giao tiếp cụ thể.
- Học ngoại ngữ, học sinh đồng thời tiếp cận với đất nớc, nền văn hoá xa
lạ. Mức độ tiếp cận thông tin càng cao thì việc dạy học càng thuận lợi.
Điều này đòi hỏi nhiều thiết bị dạy học (nghe - nhìn, nghe nói) và
nhiều hình thức dạy học linh hoạt.
- Mục đích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hớng học sinh vào
việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ, mà nhằm giúp các em sử dụng hệ
thống ngôn ngữ đó nh một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyện cho
học sinh năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp này đợc biểu hiện bằng
khả năng sử dụng sáng tạo những quy tắc ngôn ngữ để thực hiện giao tiếp
theo tình huống.
3
Nh vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không phải là biết hệ
thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt đợc
mục đích giao tiếp.
3.2. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh:
Khi học ngoại ngữ, học sinh THCS có nhiều điểm khác với học sinh tiểu học
ở những mặt sau:
- Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp).
- Khả năng tởng tợng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tởng và so

nh sau:
Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc và viết) đều đợc quan tâm và đợc phối
hợp trong các bài tập và các hoạt động trên lớp.
Kỹ năng nghe luôn đợc sử dụng (phối hợp với kỹ năng đọc) để giới thiệu ngữ
liệu hoặc nội dung bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn đợc rèn luyện
từng bớc thông qua các bài tập nghe khác nhau nh nghe lấy ý chính, nghe hiểu
các thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh,vv.
Kỹ năng nói đợc dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngôn
ngữ và với các kỹ năng khác, thông qua các bài hội thoại/ mẫu hội thoại ngắn
hoặc các nội dung chủ điểm của bài.
Kỹ năng đọc, ngoài ý nghĩa đợc sử dụng làm phơng tiện giới thiệu nội dung và
ngôn ngữ mới, còn đợc phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đích khác
nhau nh đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lớt, đọc lấy ý chính, đọc tìm thông tin
cần thiết, vv; với các loại bài khoá có văn phong khác nhau nh văn bản viết,
văn bản nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, bài văn vần, quảng cáo, bảng biểu,
mẫu khai, vv...
5
Kỹ năng viết cơ bản đợc dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã đợc học. Ngoài ra,
còn có những bài tập dạy viết có mục đích nh viết th cá nhân, điền các mẫu
khai, viết báo cáo ở dạng đơn giản, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vào
bài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận định hoặc ý
kiến đa ra.
Ngữ liệu mới đợc giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe và
đọc; sau đó đợc luyện tập thông qua cả 4 kỹ năng. Có nghĩa là sẽ không có các
mục dạy tách biệt cho ngữ âm, ngữ pháp hay từ vựng trong từng bài học mà
các yếu tố ngôn ngữ sẽ đợc dạy lồng ghép với nhau và phối hợp với việc phát
triển các kỹ năng. Cụ thể là:
Ngữ pháp đợc xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và đợc luyện
tập trong ngữ cảnh; sau đó đợc chốt lại một cách có hệ thống sau một số bài
học và ở cuối sách giáo khoa. Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúc ngữ

gi l phng phỏp Truyn thng c ỏp dng mnh m Vit Nam vo
nhng nm 1970 cho n tn nhng nm 1990.
V bn cht, theo phng phỏp ny, chng trỡnh tp trung ch yu vo phỏt
trin k nng c hiu, hc thuc lũng t vng, dch vn bn, vit lun
(composition) v phõn tớch ngụn ng (hc nm chc quy tc ngụn ng).
Quy trỡnh thc hin: Cỏc bi khúa (texts) c biờn son v chia ra thnh
tng on ngn. Vic ging gii quy tc ngụn ng l c bn. Hc sinh c
hc v ng phỏp rt k trờn c s cỏc hin tng ng phỏp c bn c rỳt ra
t cỏc bi khúa. kim tra s thụng hiu v ni dung bi khúa (ni dung
vn húa, t nc hc núi chung) v cỏc quy tc ngụn ng, HS bt buc phi
dch cỏc bi khúa sang ting mẹ đẻ. HS khụng c phộp mc li ngụn ng,
nu cú phi sa ngay.
u iểm:
7
- HS được rèn luyện rất kĩ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn
văn hay hoặc bài khóa mẫu.
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người
thày- thày giảng giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không
có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thày và bạn bè.
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có
cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năng
nãi của HS bÞ h¹n chÕ.
Một số lưu ý:
- Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống,
ví dụ: khi muốn kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản (đoạn văn, câu
thơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu trúc câu phức tạp khác với cấu trúc
câu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việt.

cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen
ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực
hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …).
Phương pháp này đòi hỏi GV chú ý sửa lỗi cho HS (lỗi phát âm, lỗi cấu
trúc). Các bài đối thoại mẫu cần phải chuẩn mực, các bài nghe cần được
luyện tập kÕt hîp víi thùc hµnh nãi. Sau khi đã lĩnh hội tài liệu bằng khẩu
ngữ, HS tiếp tục luyện tập để hình thành và phát triển kĩ năng đọc và kĩ năng
viết.
9
Ưu điểm:
- Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS
tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi
được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV
hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.
Hạn chế:
- §ối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp này sẽ nhàm chán
nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.
- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp
ngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các
mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả
năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song
các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương
tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù
sau một thời gian dài học tập. Người ta cảm thấy nghi ngờ về tính hiệu quả
của phương pháp này so với phương pháp Ngữ pháp-Dịch. Tuy nhiên, HS có
thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trường
ngoại ngữ (language environment) mà điều kiện này bị hạn chế ở trường
THCS.
Một số lưu ý:
Lớp học không nên quá đông (không quá 35 HS/lớp). Giờ học nên được tiến

Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã
hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn
ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra,
phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay
11
nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of
communication). Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng
ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn
ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao
tiếp. Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm
chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được
năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kĩ năng ngôn
ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp.
Quy trình thực hiện:
Xuất phát từ bản chất của Phương pháp Giao tiếp, tài liệu giảng dạy theo
đường hướng này cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu giúp người học có
thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xin
phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm,
thích thú hoặc không thích v.v ….
Để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ
thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham
gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc
thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước:
- Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
- Thực hành bài tập (Exercises)
- Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)
- Đánh giá (Evaluation)
- Củng cố (Consolidation).
Ưu điểm:

quỏ ụng (khong 35 HS/lp); cú y thit b nghe nhỡn nh mỏy cỏt-sột,
bng/a CD, tranh tỡnh hung. Vic kim tra ỏnh giỏ kt qu hc tp nờn
nhn mnh vo 4 k nng, v mt phn nh kin thc ngụn ng. Kim tra k
nng ngụn ng luụn luụn c u tiờn trong bt k hỡnh thc no.
Khi vn dng Phng phỏp Giao tip, GV cn lu ý:
Giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của GV, tăng thời gian sử dụng
ngôn ngữ cho HS.
Dạy học theo phơng pháp gợi mở: GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm
ra lời giải đáp hoặc con đờng đi của mình.
Động viên tất cả kiến thức sẵn có về văn hoá, xã hội cũng nh ngôn ngữ của
HS trong luyện tập ngôn ngữ.
Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp nhận lỗi nh một
phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập đợc từ chính
lỗi của bản thân và bạn bè.
Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà
còn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và phơng pháp học tập
của HS.
Vớ d minh ha:
Phng phỏp Giao tip ũi hi ngi hc phi s dng cỏc hỡnh thc ngụn
ng thớch hp vi tỡnh hung giao tip (situations), trong ú yờu cu ngi
tham gia giao tip phi th hin c ý nh giao tip (intention) thụng qua
vic thc hin cỏc nhim v khỏc nhau (tasks). Vớ d, trong phn gii thiu
ng liu ca Unit 4 lp 9; Mc 2. Listen and Read, HS c gii thiu c
14
về chủ đề bài học (kinh nghiệm học ngoại ngữ) và kiến thức ngôn ngữ
(tường thuật câu nói từ trực tiếp sang gián tiếp: dạng câu khẳng định và câu
hỏi) trong tình huống đối thoại (Lan nói chuyện với Paola, một nữ sinh
ngoại quốc về bài thi nói tiếng Anh mà Lan vừa tham dự). Nhiệm vụ (task)
mà HS phải thực hiện là Nghe, luyện đọc bài hội thoại và tìm ra các câu hỏi
gián tiếp mà ban giám khảo hỏi Lan (phần a.). GV dùng tình huống trong bài

dạy là bớc mở bài, giáo viên cần tạo ra đợc một không khí học tập thuận lợi về
cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó.
Những hoạt động gây không khí học tập này thờng rất ngắn (5 -7 phút) nhng
vô cùng quan trọng. Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thể
thực hiện đợc các mục đích đó?
1.1. Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài
học mới;
tạo môi trờng thuận lợi cho bài học mới;
gây hứng thú cho bài học mới;
giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động
giao tiếp kế tiếp.
1.2. Các hình thức và thủ thuật vào bài
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tợng học
sinh cụ thể của mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật
vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1.2.1. Tạo môi trờng thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
17
chào hỏi học sinh;
tự giới thiệu về mình;
hỏi chuyện thông thờng tự nhiên;
kể chuyện vui...
b) Tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh:
thăm hỏi học sinh;

thể đáp ứng đợc nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Ví dụ, ngay khi bớc
vào lớp, giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề và giải
quyết vấn đề (problem- solving), hoặc khai thác vốn kiến thức có sẵn của
cả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới (brainstorming).
Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây đợc sự chú ý, gây hứng thú
cho bài học, ổn định đợc lớp, kiểm tra, ôn lại đợc bài cũ, đồng thời cũng đã
giúp cho học sinh chuẩn bị đợc tâm lý và kiến thức cần thiết cho bài mới.
Nh đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làm
quen và cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ôn
luyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc để giáo
viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bài
mới. Với ý nghĩa đó, phần mở bài đôi khi không có ranh giới cụ thể mà
luôn đợc tiến hành phối hợp với phần giới thiệu ngữ liệu.
1.3. Các hoạt động mở bài trong chơng trình sách giáo khoa mới
Trong chơng trình sách giáo khoa mới THCS, giáo viên có thể sử dụng
các thủ thuật và bài tập có sẵn trong sách giáo khoa (ví dụ nh đối với
sách chơng trình lớp 8 và lớp 9) hoặc GV tự sáng tạo (ví dụ, với chơng
trình lớp 6 và lớp 7). Có thể sử dụng các thủ thuật nh:
Dựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới:
19
- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trong
sách để gây hấp dẫn.
- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới.
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh.
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phơng hay các tình
huống gần gũi với học sinh và thay thế các tình huống trong sách nếu
cần.
Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gây

a). Dùng môi trờng, đồ vật thật trong lớp, trong trờng;
b). Sử dụng những tình huống thật trong lớp;
c). Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d). Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tợng thật trong thực tế;
e). Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;
f). Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;
g). Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;
h). Sử dụng các bài hội thoại ngắn;
i). Sử dụng tiếng mẹ đẻ;
k). Phối hợp một hay nhiều cách trên.
2.2. Giới thiệu hình thái ngôn ngữ
Sau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúc này
giáo viên có thể làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có để học
sinh nhớ đợc dễ hơn và hệ thống hoá đợc những ngữ liệu đã học. Giáo viên có thể
21
gợi ý cho học sinh tự nhận xét và lập thành mẫu câu hoặc lập ra các công thức dễ
nhớ.
2.3. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh. (Checking comprehension)
Sau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu mới,
cần thực hiện việc kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó biết đợc
học sinh đã thực sự hiểu bài cha, mức độ hiểu đến đâu, để trên cơ sở đó có thể kịp
thời bổ xung bài giảng nếu cần.
Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này có thể
đợc thực hiện thông qua một số bài tập thực hành nh:
Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tơng tự khác giáo
viên đa ra;
thực hiện một số bài tập lắp ghép;
xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ,
đoạn câu gợi ý;
thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng hoặc các câu hỏi

2.5.1. Chọn từ để dạy
Thông thờng trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới
nào cũng cần đa vào dạy nh nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét
các câu hỏi sau:
a) Từ chủ động hay từ bị động?
Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu,
nhận biết và sử dụng đợc trong giao tiếp nói và viết.
Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu
và nhận biết đợc khi nghe và đọc.
Cách dạy hai loại từ này có khác nhau. Từ chủ động liên quan đến cả 4 kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết, cần đầu t thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặc
23
biệt là cách sử dụng. Với từ bị động, giáo viên có thể chỉ dừng lại ở mức nhận
biết, không cần đầu t thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần xác
định xem sẽ dạy từ nào nh một từ bị động và từ nào nh một từ chủ động. Với từ bị
động, giáo viên có thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa từ (ví dụ: tra từ
điển), hoặc đoán từ qua ngữ cảnh.
b) Học sinh đã biết từ này cha?
Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy hay
không. Vốn từ của học sinh luôn luôn đợc mở rộng bằng nhiều con đờng, và
cũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau. Để tránh tình trạng giới
thiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những
thủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ đó cha và biết đến đâu.
Giáo viên có thể dùng các thủ thuật nh eliciting; brainstorming; các thủ thuật
dùng ở các bớc 5) và 6) trong tiến trình giới thiệu ngữ liệu mới; hoặc có thể
hỏi trực tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong bài.
2.5.2. Những thủ thuật làm rõ nghĩa từ
Ngoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần giới
thiệu ngữ liệu chung, có thể sử dụng một số thủ thuật đặc thù cho từ vựng nh:
a) Dùng trực quan nh: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ

nhắc lại; học sinh nhìn mẫu đợc viết trên bảng, hoc sinh tái tạo qua nói, nghe, viết
, đọc; học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua nói nghe trong nhóm sau
đó viết lại hoặc ngợc lại, chuẩn bị qua viết, sau đó nói lại; học sinh viết các câu
trả lời trên giấy trong(OHP), sau đó đa ra trớc lớp để đợc nhận xét, v.v.
2.8. Ví dụ minh hoạ: Tiết dạy giới thiệu ngữ liệu - Unit 8, Lớp 6 (xem phụ lục
2).
3. Luyện tập ngữ pháp
25

Trích đoạn Ví dụ minh hoạ: Tiết dạy giới thiệu ngữ liệu Unit 8, Lớp 6 (xem phụ lục 2) Ba bớc luyện nó Ví dụ minh hoạ: tiết dạy Nói – Unit 1, lớp 8 (Xem phụ lục 4) Xem băng (Unit 2– Grade 9) và thảo luận Chủ đề 5: Luyện kĩ năng viết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status