Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam hiện nay - Pdf 58

NGUYỄN THỊ THƯ

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THƯ

LUẬT KINH TẾ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢOVỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU
DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
KHÓA: 2009-2012

HÀ NỘI, NĂM 2013


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
******
NGUYỄN THỊ THƯ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ


: (European Union) Liên minh Châu Âu

NTD

: Người tiêu dùng

QPPL

: Quy phạm pháp luật

ACCC

: Ủy Ban Cạnh tranh và Tiêu dùng Australia

CI

: Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (Consumers International)

TPA

: Luật hoạt động thương mại (Trade Practice Act)

VINASTAS : Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
EC

: Cộng đồng Châu âu (European Community)

UBTVQH


24
24
24
26
27

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
2.1 Quan niệm về người tiêu dùng

27

2.1.1. Khái niệm người tiêu dùng

27

2.1.2. Vị trí, vai trò của người tiêu dùng

38

2.1.3. Quan hệ tiêu dùng

39

2.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi người 43
tiêu dùng
2.2.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

43


78

2.4.5 Những biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật bảo vệ quyền 79
lợi người tiêu dùng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

83
Chương 3:

85

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
3.1. Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

85

3.2. Thực tiễn thi hành pháp pháp luật bảo vệ quyền lợi người 117
tiêu dùng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

132
Chương 4:

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG

134

4.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu 134

nghiêm trọng. Vì nhu cầu lợi nhuận, đạo đức kinh doanh suy đồi, không ít nhà cung
cấp đã lạm dụng ưu thế của mình để khai thác, bóc lột, lừa dối người tiêu dùng bằng
rất nhiều hình thức: sản phẩm không đúng chất lượng, không đủ số lượng, quảng cáo
gian dối,...và hơn thế nữa, tính mạng, sức khỏe NTD đứng trước sự đe dọa bởi thực
phẩm độc hại, sản phẩm không an toàn...
Mặc dù Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày
17/11/2010, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011, nhưng cho đến nay quyền lợi của NTD
vẫn đang và có nguy cơ tiếp tục bị vi phạm trầm trọng. Luật BVQLNTD đã trao cho
NTD Việt Nam nhiều “đặc quyền” hơn so với những quy định của Pháp lệnh
BVQLNTD 1999 nhằm cân bằng vị thế bất bình đẳng giữa NTD và tổ chức, cá nhân
sản xuất kinh doanh trong quan hệ tiêu dùng. Đạo luật này quy định đầy đủ hơn so
với Pháp lệnh BVQLNTD 1999, với sự bổ sung của nhiều quy định quan trọng như
trách nhiệm sản phẩm, hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giao dịch chung, một
số ngoại lệ khi giải quyết tranh chấp tại tòa án...Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau,
Luật BVQLNTD năm 2010 vẫn chưa phải là một sản phẩm “hoàn hảo”, là một công
cụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi ích hợp pháp của NTD hiện nay.
Một thực tế không thể phủ nhận rằng, các quy phạm pháp luật BVQLNTD thì

1


nằm rải rác ở rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, còn nội dung thì chưa
đáp ứng được yêu cầu bảo vệ NTD khi quyền lợi của họ bị xâm phạm. Các thiết chế
Nhà nước và phi Nhà nước tỏ ra rất yếu kém, có vai trò khá mờ nhạt trong việc thực
hiện chức năng của mình trong việc bảo vệ NTD và đặc biệt là để chuyển các quy
định của hệ thống pháp luật BVQLNTD đang hiện hữu trở thành hiện thực.
Trước tình hình đó, bên cạnh nhu cầu nâng cao “chất lượng” của bản thân
pháp luật hiện hành về BVQLNTD, thì việc thông qua điều chỉnh pháp luật để tăng
cường các khả năng và nhiệm vụ của các thiết chế BVQLNTD là nhu cầu cấp bách
đặt ra hiện nay. Điều này có ý nghĩa rất lớn không những đối với sự phát triển của

người tiêu dùng khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm ở Việt Nam.
+ Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật BVQLNTD, qua đó nêu rõ những bất
cập, hạn chế và nguyên nhân của chúng;
+ Phân tích, so sánh, đánh giá xu hướng vận động của pháp luật BVQLNTD
hiện nay trên thế giới, đưa ra định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật BVQLNTD
của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Nghiên cứu và đề xuất phương hướng, những giải pháp cụ thể nhằm hoàn
thiện pháp luật BVQLNTD ở phương diện thực thi các quyền của người tiêu dùng có
hiệu quả khi tham gia vào các quan hệ tiêu dùng với các nhà sản xuất kinh doanh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: là những nội dung pháp luật liên quan
đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD; thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật
BVQLNTD ở Việt Nam; kinh nghiệm thế giới trong xây dựng pháp luật BVQLNTD.
Những phán quyết của tòa án nước ngoài cũng thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
nhưng có thể được đề cập ở cấp độ tham khảo hoặc được sử dụng làm dẫn chứng cho
những nghiên cứu so sánh. Việc so sánh, đối chiếu quy phạm được giới hạn ở các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Mỹ, Canada, EU. Đối với các nước
đang phát triển, việc so sánh chú trọng tới pháp luật các nước nằm trong khu vực hay
các nước có sự tương đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, văn hóa.
- Phạm vi nghiên cứu:
Hoàn thiện pháp luật BVQLNTD là vấn đề rất lớn, có thể được phân tích ở
nhiều mức độ, nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi một luận án không
thể phân tích hết các vấn đề đó. Như mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở
trên thì bên cạnh việc đặt trọng tâm vào nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận,
luận án chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp, thống nhất, hợp lý
và khả thi của Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn sau một năm thực thi, trên
cơ sở đó dự báo những vấn đề pháp lý sẽ phát sinh và phương hướng hoàn thiện.

3


định về BVQLNTD của Việt Nam hiện hành cũng như công tác thực thi pháp luật
BVQLNTD sau một năm thực thi luật BVQLNTD cũng như xu hướng tất yếu phải
hoàn thiện pháp luật BVQLNTD khi chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội

4


nhập quốc tế.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Qua phân tích về tình hình nghiên cứu pháp luật BVQLNTD, có thể khẳng
định rằng, luận án là công trình nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống và khá
toàn diện những vấn đề mang tính lý luận nền tảng để làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện
pháp luật BVQLNTD. Những phân tích, kết luận và đề xuất mà luận án đưa ra đều
trên cơ sở khoa học và thực tiễn, vì vậy, luận án không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có giá trị thực tiễn. Là sự đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật BVQLNTD, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD,
đảm bảo trật tự và công bằng xã hội. Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu
phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật
BVQLNTD nói chung và đạo luật BVQLNTD nói riêng.
6. Bố cục của luận án
Với những câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ
của luận án, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
kèm theo, luận án được kết cấu gồm 4 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
TIÊU DÙNG
Chương 3:

Beschränkung
Fakultät,

der
1960

Käuferrechte“,


CHLB

Đức;

Diss.

Köln,

“Notarielle

Verbrauchervertraege” của Britta Carmen Deimel, Nxb. Dr. Kovac, năm 2003.
Trong đó, tác phẩm “Notarielle Verbrauchervertraege” của Britta Carmen
Deimel, Nxb. Dr. Kovac, năm 2003, tác giả đã đề cập đến những vấn đề của Hợp
đồng có công chứng theo điều 310 Bộ Luật Dân sự Đức. Bên cạnh đó, tác giả giới
thiệu về chỉ thị số 93-13/EWG của Ủy Ban Châu Âu ngày 5/4/1993 về những bảo lưu
mang tính lạm dụng trong các hợp đồng tiêu dùng. Theo đó, tác giả đã phân tích về
sự trùng hợp và khác nhau giữa chỉ thị này với Điều 310 Bộ Luật Dân sự Đức liên
quan đến điều kiện giao dịch chung. Cũng trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập đến
yêu cầu cần phải minh bạch hóa các hợp đồng theo yêu cầu của chỉ thị 93-13/EWG
của Ủy Ban Châu Âu. Đây là tài liệu rất có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu
hợp đồng nói chung và điều kiện thương mại chung nói riêng.

với “An Offer You Can’t Negotiate: Some Thoughts on the Economics of StandardForm Consumer Contracts” Athens 2006; Michael G. Faure & Hanneke A.Luth với
“Behavioural Economics in Unfair Contract Terms Cautions and Considerations”,
The Author(s) 2011; Friedrich Kessler “Contracts of Adhesion-Some Thoughts About
Freedom of Contract”, Yale Law School 1943; Willem van Boom and Marco Loos
với “ Effective Enforcement of Consumer Law in Europe Synchronizing Private,
Public, and Collective Mechanisms”, January, 2008;

Leon E. Trakman với

“Adhesion contracts and the twenty first Century consumer“,2011; American Bar
Association Central and East European Law Initiative

7

với “Concept Paper on


Consumer Protection” November 25, 1992. Cụ thể:
+ Trong tác phẩm “Behavioural Economics in Unfair Contract Terms
Cautions and Considerations”, hai tác giả Michael G. Faure và Hanneke A.Luth đã
phân tích mối quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất, kinh doanh bằng phương pháp tiếp
cận kinh tế truyền thống, dựa trên lý luận về hành vi kinh tế học, trên cơ sở đó, rút ra
bài học để bảo vệ NTD. Bên cạnh đó, tác giả còn xây dựng nhiều quan điểm liên
quan đến chính sách bảo vệ NTD trên cơ sở liên hệ với chính sách bảo vệ NDT của
Châu Âu. Tuy nhiên, bài viết chủ yếu tập trung vào vấn đề những điều khoản gây
hiểu nhầm, bất lợi và không công bằng trong hợp đồng tiêu dùng. Theo tác giả,
khiếm khuyết của thị trường là sự bất đối xứng thông tin, chi phí giao dịch, khả năng
thương lượng giữa NTD và nhà sản xuất. Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp để
kiểm tra sự công bằng của các điều khoản trong hợp đồng. Ví dụ: Quy định một hợp
đồng được tự động gia hạn nếu NTD muốn tiếp tục sử dụng hàng hóa, dịch vụ của

và cơ chế thực thi ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tạo điều kiện cho các thương nhân
sử dụng “ biên giới” như một lá chắn các hành vi lừa đảo của mình, điều này dẫn đến
khó thực thi việc bảo vệ NTD. Tác giả kêu gọi và đánh giá cao sự hài hòa hóa pháp
luật hợp đồng và pháp luật NTD của các nước Châu âu dựa trên chỉ thị của EC, với
sự tham gia của nhiều quốc gia Châu Âu khác. Điều này sẽ cải thiện nội dung pháp
luật bảo vệ NTD cũng như giúp cơ quan nhà nước bảo vệ NTD thực thi và xử lý có
hiệu quả các trường hợp xâm phạm lợi ích NTD và bảo vệ cả những doanh nghiệp
chân chính trên khắp Châu âu.
+ Hai tác giả Willem van Boom and Marco Loos với “ Effective Enforcement
of Consumer Law in Europe Synchronizing Private, Public, and Collective
Mechanisms” đã có những phân tích sâu về lợi ích nhóm trong luật tiêu dùng của
Châu Âu và của từng quốc gia thành viên. Phân tích sự liên quan của luật cạnh tranh
không lành mạnh trong việc tìm ra các phương tiện hiệu quả cho việc bảo vệ lợi ích
của người tiêu dùng. Đồng thời tác giả cũng cho thấy mối quan hệ của việc thực thi
luật cạnh tranh và việc thực thi những quy tắc của luật tiêu dùng.
Cũng trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách một cách thỏa đáng vấn
đề khiếu kiện của NTD. Theo tác giả, những người tiêu dùng cá nhân đã không được
trang bị một cách đầy đủ để thực thi các quyền hợp pháp của mình. Họ đứng một
mình trong trận chiến chống lại các công ty hay tổ chức vốn dĩ đã được trang bị đầy
đủ với sự hỗ trợ và nguồn pháp lý tốt hơn nhiều. Hơn nữa, khi khiếu nại để đòi quyền
lợi của mình, người tiêu dùng gặp khó khăn về chi phí, thời gian. Họ phải bỏ ra một
chi phí khá lớn cho khiếu kiện để đổi lấy khoản bồi thường nhỏ thiệt hại. Đây chính
là rào cản khiến người tiêu dùng ngại phải đối mặt với việc khiếu kiện khi quyền lợi
bị xâm phạm. Để giải quyết vấn đề này, tác giả nhấn mạnh cần tập hợp các khiếu nại
*

EC (European Community). Năm 1993 Cộng đồng Châu Âu được đổi tên thành Liên minh Châu Âu (EU European Union).

9


được đề cập và phân tích một cách đầy đủ, nhưng đây có thể xem là sự gợi mở cho
các công trình sau, kế thừa và tiếp tục làm rõ hơn các vấn đề lý luận liên quan đến
bảo vệ quyền lợi NTD.

10


Trong số những công trình mang tính tiên phong nghiên cứu vấn đề bảo vệ
quyền lợi NTD ở Việt Nam, không thể không nhắc đến “Tìm hiểu Luật bảo vệ người
tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của Viện Nhà
nước và Pháp luật biên soạn, Nxb Lao động, 1999. Cuốn sách này là tài liệu tham
khảo rất có giá trị đối với các học giả cũng như những độc giả trong nước quan tâm
đến Luật bảo vệ quyền lợi NTD của một số quốc gia trên thế giới. Bên cạnh việc giới
thiệu Luật bảo vệ NTD của Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ấn
Độ...cũng như một số biện pháp bảo vệ NTD của các quốc gia. Cuốn sách đã điểm
qua hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam, mà cụ thể là Hội tiêu chuẩn và
bảo vệ NTD Việt Nam (VINASTAS). Cuốn sách đã nêu bật được vấn đề khó khăn
của NTD Việt Nam trước “cơn lốc” của kinh tế thị trường và sự “đổ bộ” ồ ạt của
hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa kém chất lượng, thực phẩm ô nhiễm. Tuy chưa lý giải
được tất cả các vấn đề ảnh hưởng xấu đến quyền lợi NTD, cũng như các biện pháp
hữu hiệu để bảo vệ NTD. Nhưng cuốn sách đã “báo động” tình trạng NTD Việt Nam
đang bị xâm hại, xác lập sự quan tâm của Nhà nước, xã hội đối với việc bảo vệ quyền
lợi NTD.
Như vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu có liên quan đến bảo vệ
quyền lợi NTD, cho thấy có không ít công trình nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên,
đây là vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp lý khác nhau cũng như tính
mới, tính độc đáo của Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. Vì vậy, những công trình này
có hướng tiếp cận, khai thác, nghiên cứu và nhận thức dưới những góc độ khác nhau
như sau:
Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD

quảng cáo, vẫn chưa đủ sức để chống lại các dạng hành vi cạnh tranh không lành
mạnh xâm hại đến quyền lợi NTD đang diễn ra khá nhức nhối trong thương trường
hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề nghị cần đưa những hành vi này vào Luật Cạnh
tranh để bảo đảm hơn quyền lợi của NTD.
+ Bài viết Thạc sĩ Ngô Vĩnh Bạch Dương, “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2000. Theo
tác giả, một trong những nguyên tắc cơ bản của tự do cạnh tranh là sự tự do hợp
đồng, theo đó người tiêu dùng được tự do lựa chọn nhà cung cấp để mua hàng hoá,
dịch vụ cho nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên việc sử dụng phổ biến các hợp đồng mẫu,
hợp đồng soạn trước trong mua bán không thông qua các cuộc thương lượng, mặc
cả... , tất cả đều là sự tước đoạt đi của người tiêu dùng quyền tự do hợp đồng của họ.
Ngoài ra, người tiêu dùng bị buộc phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ mà không có khả
năng lựa chọn nào khác bởi lý do loại hàng hoá, dịch vụ đó chỉ do một thương gia
độc quyền cung cấp. Trong những trường hợp như vậy, quyền tự do khế ước đã
không còn mang giá trị nhân văn của một quyền tự do cá nhân [15]. Từ những nhận

12


định trên, tác giả đề nghị nên quy định bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật cạnh
tranh bên cạnh những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh. Đồng
thời cần có các quy định nghĩa vụ của các nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ phải tôn
trọng những quyền cơ bản nhất của người tiêu dùng.
Thứ hai: Nhóm công trình nghiên cứu khá sâu những vấn đề lý luận cơ bản
của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. Có thể kể đến như Kỷ yếu “Hội thảo đẩy mạnh
công tác bảo vệ NTD ở Việt Nam”, Sáng kiến trong khuôn khổ dự án 7UP2 ngày
20/3/2006 do Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Thương mại chủ trì tại Hà Nội. Kỷ yếu Hội
thảo khoa học “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực
trạng và triển vọng ở Việt Nam”, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM ngày 1617/11/2009. “Giáo trình luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Trường Đại học
Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2012

đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số
kiến nghị mang tính vĩ mô nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ NTD.
+ TS. Đinh Thị Mỹ Loan, “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam thực trạng và nhu cầu hoàn thiện”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và
Pháp luật và Viện KAS (CHLB Đức) tổ chức tháng 2/2008. Bài viết giới thiệu một
cách tổng quan về các chế định pháp luật trong hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng, trong đó Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đóng vai trò trung tâm.
Cũng trong bài viết này, tác giả đã phân tích những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong
quy định liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD. Mà theo tác giả, các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước về bảo vệ NTD cho đến nay đã lạc hậu, không cập
nhật các yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt trong thời hội nhập, “hậu WTO” và thương
mại điện tử. Yêu cầu đặt ra cần một “hệ thống pháp luật” có hiệu quả và cơ chế hậu
kiểm thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
+ Bên cạnh các bài viết và tham luận nói trên, một luận văn cũng có giá trị
tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài đó là luận văn Cao học về “Pháp luật về
bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, năm 2007 của tác giả
Bùi Thị Long, năm 2007, Viện Nhà nước và Pháp luật. Luận văn đã làm rõ khái
niệm NTD theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 và trong pháp luật của một số
quốc gia khác; nội dung các quyền của NTD cũng như các nguyên tắc bảo vệ NTD.
Thực trạng của luận văn phản ánh khá chân thực và sâu sắc tình trạng xâm phạm
quyền lợi NTD, có sức “đánh động” rất lớn đến nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ
NTD. Từ thực trạng đó luận văn đã đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật bảo vệ quyền lợi NTD trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả
trong việc sửa đổi và thực thi pháp luật bảo vệ NTD.
+ TS. Nguyễn Đức Minh, “Mấy ý kiến về cơ chế bảo vệ người tiêu dùng ở
nước ta hiện nay” báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh

14


nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại

nghiên cứu quyền con người, 2007 ; Ths. Hoàng Mai Hương, “Bảo đảm quyền được

15


bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng ở nước ta hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp bộ
của Viện nghiên cứu quyền con người, 2007; Ths. Nguyễn Thị Báo “Trách nhiệm
của Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền của người tiêu dùng”
kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người năm 2007; Ths. Hoàng
Hùng Hải, “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay một số kết quả và
vấn đề đặt ra” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người năm 2007;
TS. Nguyễn Duy Sơn, “Bảo đảm quyền được giáo dục của người tiêu dùng ở Việt
Nam hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền con người, 2007;
Đoàn Văn Trường, “Những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt
Nam”, Viện nghiên cứu khoa học thị trường và giá cả, Bộ Tài Chính, 2003; Ths. Đỗ
Hồng Thơm, “Tăng cường giáo dục, đào tạo, thông tin nâng cao nhận thức của
người tiêu dùng ở nước ta hiện nay” kỷ yếu đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu quyền
con người, năm 2007
Trong nhóm này, hầu hết tất cả các bài viết đều đề cập Pháp lệnh BVQLNTD
1999 ghi nhận cho NTD 8 quyền, các quyền này trùng với các quyền của NTD mà tổ
chức Quốc tế NTD và Liên hiệp quốc công nhận đó là: quyền được thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn;
quyền được lắng nghe; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được giáo dục về
tiêu dùng và quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững. Điều này cho
thấy có sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên,
những quyền cơ bản này chỉ mới dừng lại ở mức “gọi tên” mà chưa phải quyền năng
thực sự, để có thể sử dụng trong thực tiễn. Có thể nói rằng, những quy định về quyền
và trách nhiệm của NTD trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn mang
tính “nghị quyết”, chưa thực sự đảm bảo cơ chế cho việc thực thi trên thực tế.
+ Trong bài viết “Bảo đảm quyền được cung cấp thông tin của người tiêu

Hạnh, “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng”, báo cáo tại hội thảo Bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm từ pháp luật
của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp tổ chức tại TP.HCM
tháng 7/2010; TS. Phan Huy Hồng, “Vai trò của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng
ở Việt Nam”, báo cáo tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật và KAS tổ
chức tháng 2/2008; PGS.TS. Đinh Văn Thanh, “ Thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ
án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Nhu cầu và định hướng lập pháp”,
báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng – kinh nghiệm quốc tế, thực
trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ chức tại TP.HCM tháng 11/2009;
+ Trong bài viết “Quyền của người tiêu dùng và trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng đã nêu bật vai trò của các cơ quan quản
lý Nhà nước trong việc bảo vệ NTD. Đây là thiết chế cơ bản và quan trọng nhất, bởi

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status