MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài...........................................................................
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu....................................................
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.....................................................
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................
6. Cấu trúc đề tài................................................................................
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỐI VỚI HỌC
SINH TIỂU HỌC
1.1. Khái niệm truyện cổ tích
1.2. Phân loại truyện cổ tích
1.3. Vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển của học sinh
Tiểu học
1.3.1 Giá trị nhận thức
1.3.2 Giá trị giáo dục
1.3.3 Giá trị thẩm mĩ
Tiểu kết chương 1
1
CHƯƠNG 2: TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TIỂU HỌC HIỆN NAY VÀ PHÁT TRIỂN HỨNG THÚ ĐỌC
TRUYỆN CỔ TÍCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. Truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học.
2.1.1 Thống kê truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học
2.1.2 Nhận xét các truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học
không có thời kì nào, giai đoạn nào nhân dân ta không sáng tác văn học dân
gian. Chính sức sống tiềm ẩn ấy của nền văn học dân gian nói riêng và nền văn
hóa dân gian nói chung đã làm nên nét đẹp trong tâm hồn người Việt.
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam thì truyện cổ tích chiếm
một khối lượng lớn, phản ánh được nhiều mặt tư tưởng, thái độ, tình cảm của
nhân dân trong suốt chiều dài lịch sử. Ra đời trong một xã hội có sự phân chia
giai cấp, truyện cổ tích không chỉ phản ánh những mối quan hệ giữa con người
với con người mà còn là tiếng thở dài của những mảnh đời, những nhân vật,
những số phận bị áp bức trong xã hội. Bước vào thế giới của những truyện cổ
tích người đọc không chỉ thỏa mãn được như cầu tìm hiểu, khám phá về chuyện
đời xa xưa mà còn rút ra được những bài học về nguyên tắc sống, nguyên tắc
làm người. Bởi vậy, nghiên cứu từng khía cạnh, từng lĩnh vực của truyện cổ tích
vẫn luôn là một yêu cầu bức thiết với mỗi người khi quan tâm, tìm hiểu nền văn
học dân tộc, văn học nhân loại.
Học sinh Tiểu học được chúng ta âu yếm gọi bằng một cái tên khác đầy ý
nghĩa: “lứa tuổi cổ tích”. Ở lứa tuổi này, các em nhìn đời bằng đôi mắt trong veo
và tin cậy, “suy nghĩ bằng hình ảnh”, sống với thế giới của cái Đẹp, của viễn
tưởng và sáng tạo. Trẻ cũng rất ưa thích sự phiêu lưu để khám phá và ngạc nhiên
trước những bí mật của cuộc sống...Tất cả những điều đó đã đưa các em đến gần
với cổ tích, thả mình bay bổng cùng với các nhân vật của truyện để cho trí tưởng
tượng trẻ thơ có cơ hội du ngoạn đến những xứ sở lạ kì. Chính vì thế mà V.A
Xukhômlinxki -nhà giáo dục nổi tiếng người Nga đã cho rằng: “Truyện cổ tích
là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng ngọn lửa
tư duy và ngôn ngữ của trẻ”. Quả thực rất khó tìm thấy một thế giới tràn đầy cái
4
Đẹp, lung linh những biểu tượng đượm màu sắc thần thoại như trong truyện cổ
tích. Đến với cổ tích chính là cơ hội cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo viết về
truyện cổ tích ở những khía cạnh khác nhau như: tìm hiểu đặc trưng thi pháp của
truyện cổ tích thần kỳ; phương pháp xây dựng nhân vật trong truyện cổ tích …
nhưng để đi sâu nghiên cứu về ý nghĩa, vai trò của truyện cổ tích thần kỳ với
việc giáo dục học sinh tiểu học thì chưa có công trình nghiên cứu riêng, cụ thể .
Nhìn một cách khái quát,các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học cũng có
đưa ra nhận định về giá trị, vai trò của cổ tích. Chúng góp phần mang lại cho
người nghe/ người đọc những món quà tinh thần vô giá. Như M.Gorki nhận xét:
“Truyện cổ tích luôn luôn chiếu rọi ánh sáng vào một thế giới khác”.
Ở Việt Nam do những điều kiện khách quan và chủ quan mà việc
nghiên cứu này chưa được quan tâm đúng mức. Những công trình nghiên cứu tỉ
mỉ mang tính chất khoa học cao về thể loại này vẫn là vấn đề mà chúng ta đang
chờ đợi. Phần lớn những bài viết trên các tạp chí, sách xuất bản thường thiên về
những khuynh hướng quen thuộc như: giải thích cốt truyện, bình giảng những
hình tượng được xây dựng trong truyện, hình ảnh nhân vật trẻ thơ,...
Như vậy, mặc dù truyện cổ tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo
dục học sinh tiểu học nhưng vẫn chưa được tìm hiểu ,nghiên cứu một cách thỏa
đáng. Dường như người ta vẫn coi truyện cổ tích như một món ăn tinh thần để
giải trí cho học sinh mà chưa thấy đầy đủ vai trò của nó.
Với mong muốn được hiểu thêm, hiểu sâu hơn nữa về vai trò của
truyện cổ tích với việc giáo dục học sinh tiểu học đã đưa tôi đến đề tài: “Vai trò
của truyện cổ tích và phát triển hứng thú đọc truyện cổ tích cho học sinh
Tiểu học”.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
6
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu về vai trò của
truyện cổ tích.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát nội dung dạy học truyện cổ tích
trong chương trình Tiểu học để hiểu thực trạng dạy học truyện cổ tích cho học
sinh Tiểu học.
- Phương pháp thống kê, khảo sát các truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học
- Phương pháp mô tả phân tích giúp làm rõ các nội dung của đề tài.
- Phương pháp so sánh giúp làm rõ vị trí, nét đặc sắc của các tác phẩm truyện cổ
tích.
- Phương pháp tổng hợp giúp bao quát, đánh giá tổng thể vấn đề nghiên cứu.
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 2 chương:
- Chương 1: Vai trò của truyện cổ tích đối với học sinh Tiểu học.
- Chương 2: Truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học và phát triển hứng thú
đọc truyện cổ tích cho học sinh Tiểu học.
NỘI DUNG
8
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỐI VỚI HỌC
SINH TIỂU HỌC
1.1 Khái niệm truyện cổ tích
Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu về văn học dân gian trên thế giới,
cũng như trong nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về truyện cổ tích,
nhưng chưa có cách diễn đạt về khái niệm cổ tích chung nhất. Tuy nhiên, hiện
nay giới nghiên cứu về truyện dân gian cũng đã có những điểm gần gũi nhau về
quan niệm. Chúng ta có thể điểm qua một số quan niệm tiêu biểu như sau:
phong kiến)” [28, tr.61].
Tác giả Chu Xuân Diên trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam cho
rằng, trong hàng loạt định nghĩa đã có về truyện cổ tích, có thể nêu lên mấy nội
dung chung ít nhiều có sự thống nhất như sau:
“Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy, do đó có những yếu tố
phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên và xã
hội có ý nghĩa ma thuật. Song, truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong xã hội có
giai cấp nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức của
nhân dân về cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ với những xung đột đặc trưng
cho các thời kỳ lịch sử khi đã có tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu thuẫn
giai cấp và đấu tranh giai cấp.
10
Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực
tại, đồng thời nói lên những quan niệm đạo đức, những quan niệm về công lý xã
hội và mơ ước về cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại.
Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân,
và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kỳ tạo nên một đặc trưng nổi
bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ” [3, tr.4].
Theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, thì
“Truyện cổ tích là loại sáng tác văn nghệ của nhân dân. Nó có đặc trưng nghệ
thuật riêng biệt không giống với các loại truyện ngụ ngôn, khôi hài, tiếu lâm,
cũng như có phần khác với thần thoại, truyện tôn giáo và truyện thời sự. Do tính
chất truyền miệng, nó mang hình thức truyện kể chứ không mang hình thức
truyện tả, và do đó cũng không đồng nhất với tiểu thuyết. Nhưng với khả năng
hấp dẫn không kém gì tiểu thuyết, trong một thời kỳ mà tiểu thuyết chưa phải là
thứ nghệ thuật phổ cập, thì nó là một trong những loại hình nghệ thuật quan
trọng, làm nhiệm vụ giải trí cho dân chúng, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu
dân chúng, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu cảm thụ thẩm mỹ, nhu cầu giáo
dục và đấu tranh trong xã hội.
- Trong truyện cổ tích, “yếu tố thần kỳ” không những mang ước mơ mãnh
liệt, mà còn lưu giữ dấu tích khắc họa lại những thời kỳ lịch sử trong quá khứ
xa xăm của dân tộc.
12
1.2 Phân loại truyện cổ tích
Có nhiều cách phân loại truyện cổ tích Việt Nam được nêu lên nhưng
chưa có bản phân loại nào được thuyết giải đầy đủ trên cơ sở những tiêu chí rõ
ràng và nhất quán. Một trong những cách phân loại chung được nhiều người tán
thành và vận dụng hiện nay là cách phân chia truyện cổ tích thành ba loại chính:
* Truyện cổ tích thần kỳ
* Truyện cổ tích loài vật
* Truyện cổ tích sinh hoạt
Đây cũng là cách phân loại được tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi áp dụng phân loại truyện cổ tích trong cuốn Từ điển thuật ngữ
văn học. Cách phânloại này kết hợp vận dụng những tiêu chí và căn cứ khác
nhau. Trong đó nổi bật lên hai tiêu chí quan trọng là đề tài và phương pháp sáng
tác. Phân biệt truyện cổ tích về người với truyện cổ tích về loài vật chủ yếu dựa
vào đề tài (đối tượng phản ánh). Còn khi tách bộ phận truyện cổ tích về người
thành hai loại (truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh họat) thì chủ yếu dựa
vào mức độ sử dụng yếu tố thần kỳ mà thực chất là dựa vào phương pháp sáng
tác. Cách phân chia này phù hợp với tiến trình lịch sử của truyện cổ tích các dân
tộc.
Ranh giới giữa các loại truyện cổ tích nói trên không phải lúc nào cũng
rõ ràng, dứt khoát. Những yếu tố thần kỳ vẫn rải rác trong các truyện cổ tích
sinh hoạt, những mô típ đời sống xã hội với mức độ đậm nhạt khác nhau vẫn
Truyện chàng trai khỏe,
chàng dũng sĩ
Truyện người con riêng
14
Truyện người đội lốt thú
Truyện người lấy thú
Loài vật trong quan hệ với
loài vật
Truyện cổ tích về loài vật
Loài vật trong quan hệ với
con người
Truyện sinh hoạt trong gia
Truyện cổ tích sinh hoạt
đình
Truyện về sinh hoạt xã hội
Tác giả khóa luận đồng ý với cách phân chia này của Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam. Như vậy, truyện cổ tích thần kỳ là một trong ba loại nhỏ của thể loại
truyện cổ tích.
1.3 Vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển của học sinh Tiểu học
1.3.1 Giá trị nhận thức
*Giáo dục kĩ năng sống: hiểu biết thêm về xã hội, biết được những gì giá trị,
những gì phi giá trị
15
16
của tuổi thơ. Cổ tích giúp các em phát triển trí tưởng tượng một cách lành mạnh
và qua đó làm giàu trí tuệ cho học sinh.
Chẳng hạn như truyện Cô bé trùm khăn đỏ (Tiếng Việt 1, tập 2), được sử
dụng vào dạy học phân môn Kể chuyện. Trong phân môn này, học sinh sẽ thực
hiện kể câu chuyện theo tranh và rút ra ý nghĩa. Đặc điểm của phân môn này ở
lớp 1, học sinh khi học kể chuyện với tranh sẽ có những câu hỏi gợi ý theo từng
bức tranh. Điều đó giúp các em dễ dàng hơn trong việc nắm bắt nội dung câu
chuyện cũng như hình thành ở các em thao tác tư duy, tưởng tượng để xâu chuỗi
nội dung câu chuyện và biểu đạt ra thành lời.
Ứng với mỗi bức tranh được xây dựng có những câu hỏi cụ thể:
Bức tranh 1: Khăn Đỏ được mẹ giao việc gì?
Từ hình ảnh bức tranh vẽ (người mẹ đưa giỏ bánh cho cô bé), với gợi ý câu
hỏi các em dễ dàng nhận ra nhiệm vụ mà người mẹ giao cho cô bé. Đó là: Mẹ
giao làn bánh cho Khăn Đỏ, dặn Khăn Đỏ mang bánh cho bà, nhớ đừng la cà
dọc đường.
Bức tranh 2: Khăn Đỏ bị sói lừa như thế nào?
Bức tranh vẽ cô bé và sói đang nói chuyện. Từ đó sẽ giúp các em liên tưởng
tới cuộc trò chuyện giữa sói và cô bé. Cô bé đã bị lừa như thế nào? Khi biết
Khăn Đỏ đi sang nhà bà ngoại, chó sói cố gắng hỏi nhà bà ngoại cô bé và dụ dỗ
em đi theo đường rừng với âm mưu để ăn thịt cả hai bà cháu.
Bức tranh 3: Sói đến nhà bà làm gì? (Sói đến để ăn thịt người bà trước sau đó
cải trang làm bà ngoại cô bé để ăn thịt em).
Khăn Đỏ hỏi gi? (Khăn Đỏ liên tục đặt ra các câu hỏi với người bà là Sói
đóng giả: Sao hôm nay tai bà to thế? Sao hôm nay tay bà to thế? Sao hôm nay
mồm bà to thế?).
17
Bức tranh 3: Cô bé làm gì sau khi hái được bông hoa? (Theo lời thầy thuốc cô
bé đã hái được bông hoa nhưng bỗng cô nghe văng vẳng bên tai tiếng cụ già:
Mỗi cánh của bông hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống thêm. Cô bé đã xé
mỗi cánh hoa ra thành nhiều sợi.
Bức tranh 4: Câu chuyện kết thúc như thế nào? (Điều kì lạ đã xảy ra, mỗi sợi
biến ngay thành một cánh hoa nhỏ, dài mượt và trắng bóng. Mẹ cô bé đã sống
lại. Đó là phần thưởng cho tấm lòng hiếu thảo của cô bé).
Ý nghĩa truyện: Ca ngợi tình yêu mẹ, lòng hiếu thảo của cô bé trong truyện đã
làm cho trời đất cũng cảm động, giúp cô chữa khỏi bệnh cho mẹ.
Truyện Cô bé trùm khăn đỏ và truyện Bông hoa cúc trắng, là hai câu chuyện
đều được sử dụng trong chủ điểm gia đình. Không chỉ với mục đích rèn các kĩ
năng kể chuyện, thao tác tư duy của trẻ mà bên cạnh đó còn hướng tới mục đích
giáo dục đạo đức theo từng chủ điểm. Cụ thể trong chủ điểm này, giáo dục các
phẩm chất mang khía cạnh gia đình (như vâng lời mẹ, hiếu thảo). Với hệ thống
câu hỏi trải dài toàn bộ câu chuyện, khi tìm hiểu bài với từng câu hỏi sẽ giúp
hình thành dần kiến thức bài học cho các em. Từng bước rèn luyện thao tác tư
duy, tưởng tượng của học sinh. Trong phân môn Kể chuyện, không giống với ở
lớp 1, ở lớp 2 các em kể chuyện theo tranh nhưng không có câu hỏi gợi ý. Mức
độ rèn khả năng ghi nhớ (hồi tưởng lại, tưởng tượng lại câu chuyện), cũng như
thao tác tư duy, khả năng diễn đạt câu chuyện được tăng lên.
1.3.2 Giá trị giáo dục
Lứa tuổi thiếu nhi là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị trí đặc biệt
quan trọng trong đời sống con người. Cùng với sự hoàn thiện dần về thể chất,
lứa tuổi thiếu nhi có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư duy hình tượng cụ
thể chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá ham hiểu biết. Nhân
19
20
Lòng hiếu thảo, ngoan ngoãn thương yêu mẹ của người làm con. Lại được
nói tới, thấm thía qua truyện Bông hoa cúc trắng (Tiếng Việt 1). Đấy là một câu
chuyện vô cùng xúc động về lòng hiếu thảo của cô bé đối với người mẹ sinh
thành của mình. Khi người mẹ ốm, cô bé tận tụy ngày đêm chăm sóc bên mẹ
mình. Theo lời của thầy thuốc, cô bé đã không quản ngại gió rét. Trên người chỉ
phong phanh một manh áo mỏng nhưng em đã chạy đi tìm bông hoa cúc trắng
để về làm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Khi biết mỗi cánh hoa là một ngày mẹ cô
được sống thêm, cô bé đã nghĩ cách để mẹ được nối dài những ngày mẹ sống.
Em đã xé mỗi cánh hoa ra nhiều sợi. Chính tấm lòng hiếu thảo của đứa con đã
khiến ông Tiên cảm động và chữa khỏi cho người mẹ. Đó là một phần thưởng
xứng đáng cho tấm lòng hiếu thảo của người làm con.
Thời nay, xã hội có nhiều việc lo toan bận bịu, con người ít quan tâm đến
nhau hơn. Thậm chí những quan hệ thiêng liêng ruột thịt cũng có thể không
được gắn kêt như xưa. Gia đình ít con cái nên người làm bố mẹ chiều, lo lắng
cho các con, khiến con cái có thể sao nhãng đạo hiếu của mình. Con cái hư hỏng
làm đau lòng cha mẹ. Ban đầu có thể chỉ là việc cỏn con như cô bé quàng khăn
đỏ kia, rồi sau thành chuyện lớn hơn.
Lòng yêu thương, xót xa, nguyện vọng thành kính của đứa trẻ trong Bông
hoa cúc trắng kia thật cỏm động biết nhường nào. Đọc những truyện như thế,
chắc con trẻ không thể không có tình cảm, suy nghĩ gì. Có thể một ngày nào đó
người thân yêu, cha hay mẹ đau ốm, chúng sẽ không thờ ơ, vô tư mà chơi đùa.
Chắc chúng sẽ ân cần hơn?
Không chỉ hiếu thảo với cha mẹ, mà cac em còn cần biết yêu thương, biết
cách ứng xử với mọi người khác trong gia đình như ông, bà, anh, chị em. Tiền
bạc cũng cần cho cuộc sống nhưng nó vẫn không thể thay thế được tình thương.
Cổ tích không chỉ phác họa những mối quan hệ trong giao đình mà còn là
những mối quan hệ con người với con người ngoài xã hội. Thông qua lời kể về
để nhà vua thấy sự phi lí. Và rồi từ câu chuyện đó, cậu bé lật ngược lại chuyện
vua ra lệnh là quái gở về lệnh vua ban: Tại sao Đức vua lại ra lệnh cho cả làng
phải nộp gà trống biết đẻ trứng ? Để khẳng định về trí thông minh của cậu bé
nhà vua thử cậu bé thêm một lần nữa. Nhưng cuối cùng Đức vua cũng phải thán
22
phục về tài trí của cậu bé. Nhờ tài trí mà cậu bé đã được trọng thưởng và được
nhà vua gửi vào trường học.
Như vậy, mỗi truyện cổ tích là một lời nhắc nhở, một lời khuyên hữu ích về
cuộc sống, là một bài học làm người. Bài học ấy có thể là giáo dục cho các em
những đức tính đáng quý mà các em cần có, cũng có thể là bài học giáo dục cho
các em thái độ sống, ý thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Đó cũng là lý do
khiến truyện cổ tích đồng hành cùng tuổi thơ.
1.3.1 Giá trị thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái
đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật. Sự tri giác cái đẹp được hiểu là
quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ, những
tình cảm thẩm mỹ.
Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, người Việt Nam luôn trân trọng
cái đẹp và giàu có xúc cảm thẩm mỹ. Điều này thể hiện khá đậm nét trong
những truyện cổ tích Việt Nam. Các nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích là hiện
thân của cái đẹp. Chúng được tác giả dân gian gửi gắm những quan niệm đẹp về
đạo lí, về tình người.
Hình tượng các nhân vật trong truyện cổ tích là sự kết hợp của nhiều yếu
tố, song cái đẹp cũng đóng góp vào sự hình thành cũng như sự hoàn thiện hình
tượng nhân vật đó.
Cảm quan thẩm mỹ dân gian không thừa nhận cái đẹp thuần túy ở hình
thức mà cái đẹp đi liền với cái tốt, cái thiện. Chính vì vậy, trong mỗi câu chuyện
thốn. Tuy nhiên, một đứa trẻ giàu tình thương, nhẫn nại đã được lươn thần giúp
đỡ có cuộc sống tốt hơn. Cuối truyện, hai bà cháu sống bên nhau sung túc đầy
đủ, còn người ông cậu tham lam nhận lấy cái chết. Hay trong truyện Sự tích
chim đa đa, hai anh em Sim và Sam mồ côi cha mẹ, nương tựa vào nhau mà
sống qua ngày. Cuộc sống nghèo khổ dưới túp lều chỉ che được nắng không che
được mưa tưởng chừng như thể không vượt qua nổi. Nhưng với tấm lòng thương
yêu, quý trọng mọi người đặc biệt là hai em đã cứu giúp bà cụ già (bà Tiên) đã
24
thay đổi cuộc sống của mình. Các em đã có được cuộc sống tốt hơn trước rất
nhiều nhờ có bà Tiên giúp đỡ.
Có thể thấy, sự nghiêm minh và tấm lòng bao dung, nhân hậu của người
sáng tác truyện đã dành cho trẻ thơ để làm nên những lời kể xúc động. Trong các
truyện cổ tích luôn chứa đựng cái đẹp của lòng tốt và cái thiện. Đó là giá trị của
họ, là sức sống của họ. Những con người nghèo khổ, bất hạnh đã không trả thù,
không trừng phạt những người đã gây ra biết bao đau khổ cho mình. Đó là
những con người luôn trân trọng tình thương yêu con người. Dù phải đánh đổi
lấy bất cứ thứ gì thì họ vẫn luôn đặt tình người lên trên.
Như vậy, nội dung phản ánh của tryện cổ tích khá phong phú và sinh
động. Nó thể hiện một cách chân thực đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của
nhân dân lao động chứa đựng trong những nội dung ấy là bài học luân lý đạo
đức, bài học về tình người, về cách sống là khát vọng vươn tới những điều tốt
đẹp.
Tiểu kết chương 1
Truyện cổ tích là món quà mà người nghệ sĩ dân gian tặng cho trẻ thơ.
Những trang văn có mặt trong sách Tiếng Việt của học sinh Tiểu học. Ngoài việc
hình thành, phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết hay bồi dưỡng đạo đức thông