Luận án Tiến sĩ Luật học: Thi hành bản án, quyết định của toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ

THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HÀ

THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9380102

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN TÚ

Hà Nội - 2019

3.2. Hoạt động thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt
Nam hiện nay ................................................................................................................ 81
3.3. Thực trạng các yếu tố tác động đến thi hành bản án, quyết định của Toà án về
vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay ...................................................................... 103
3.4. Đánh giá chung thực trạng thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án
hành chính ở Việt Nam hiện nay ................................................................................ 114
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THI HÀNH BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM ............ 120
4.1. Quan điểm bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành
chính ở Việt Nam ........................................................................................................ 120
4.2. Giải pháp bảo đảm hiệu quả thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án
hành chính ở Việt Nam ............................................................................................... 125
KẾT LUẬN................................................................................................................ 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .......................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 152


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND

Hội đồng nhân dân

HVHC

Hành vi hành chính

QĐHC

Quyết định hành chính


Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

UBND

Uỷ ban nhân dân

VAHC

Vụ án hành chính

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng các VAHC đã thụ lý; giải quyết, xét xử từ năm 2010 đến năm 2018
của TAND các cấp ..................................................................................................... 82
Bảng 3.2. So sánh tình hình khởi kiện QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND và UBND
các cấp tại Toà án với tình hình khiếu nại tại cơ quan hành chính nhà nước ............. 83
Bảng 3.3. Kết quả THAHC từ năm 2012 đến năm 2016 ..................................................... 85
Bảng 3.4. Kết quả THAHC năm 2017 và năm 2018 ........................................................... 86
Bảng 3.5. Kết quả kiểm sát THAHC năm 2017 và năm 2018 ........................................... 102


MỞ ĐẦU

chấp hành chính không ngừng tăng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này,
trong đó theo tác giả, cần phải kể đến những nguyên nhân sau:

1


Thứ nhất, hành lang pháp lý về thi hành án nói chung và THAHC nói riêng
chưa đầy đủ, chưa thống nhất, còn rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Hoạt động THAHC vẫn chưa được điều chỉnh bằng một Luật riêng biệt như
THADS hay THAHS.
Thứ hai, chất lượng xét xử các VAHC ở nhiều địa phương hiện chưa cao.
Những phán quyết trong bản án, quyết định của Toà án còn nhiều mâu thuẫn hoặc
thường có tính chung chung, gây khó khăn cho quá trình THAHC.
Thứ ba, nhận thức pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật của các chủ thể có
liên quan trong THAHC còn nhiều hạn chế. Đặc biệt khi chủ thể phải thi hành án là
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước có
xu hướng gia tăng.
Thứ tư, thực tiễn áp dụng cơ chế đặc thù trong THAHC chưa triệt để. Do đó,
dù cũng theo xu hướng chung của đa số các quốc gia trên thế giới khi ưu tiên “tinh
thần tự giác” trong THAHC song hoạt động này tại Việt Nam hiện không thực sự
hiệu quả.
Thứ năm, công tác quản lý nhà nước về THAHC còn nhiều bất cập. Thực tế
chưa đảm bảo sự phân công, phối hợp theo quy định của pháp luật giữa các cơ quan
hành pháp, tư pháp và cơ quan kiểm sát; giữa cơ quan ở trung ương với các địa
phương trong THAHC.
Thứ sáu, kiểm sát THAHC là một trong những chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp của VKSND các cấp nhưng so với THADS và THAHS chức năng này chưa
được quan tâm đúng mức.
Ngoài ra, trong khả năng tiếp cận của tác giả, số lượng các công trình khoa
học về THAHC, đặc biệt được nghiên cứu trong giai đoạn Luật TTHC năm 2015 có

- Những chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, về thi hành án nói chung và
công tác THAHC nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật THAHC,
bao gồm những quy định về nội dung, về tổ chức, về thủ tục và các biện pháp chế
tài xử lý vi phạm trong THAHC. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng pháp luật và
thực tiễn thi hành pháp luật THAHC tại Việt Nam thời gian qua để đề xuất các giải
pháp nhằm góp phần đảm bảo hiệu quả THAHC trước yêu cầu cải cách tư pháp, xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam hiện nay. Luận án tập trung nhấn
mạnh nội dung thi hành phần quyết định trong bản án của Toà án về quyết định
hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC) bị khởi kiện; phần dân sự (nếu
có) được thi hành theo thủ tục THADS ít được đề cập sâu trong Luận án.

3


Về thời gian, Luận án nghiên cứu những quy định của pháp luật THAHC kể từ
khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 có hiệu lực (01/7/1996) cho đến nay.
Các số liệu đánh giá liên quan đến THAHC, cụ thể về tình hình thụ lý, giải quyết
các VAHC tại Toà án từ năm 2010 đến hết năm 2018; tình hình đôn đốc, theo dõi
THAHC được thống kê trên toàn quốc từ năm 2012 đến hết năm 2018, tức là sau khi
áp dụng Luật TTHC năm 2010 (từ 01/7/2011) và sau khi Luật TTHC năm 2015 có
hiệu lực thi hành (01/7/2016) cho đến nay. Riêng nội dung buộc THAHC của Toà án
và vấn đề kiểm sát THAHC chỉ thu thập được trong 02 năm 2017 và năm 2018.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa (XHCN) được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện Luận án,
trong đó tập trung vào những vấn đề như: (1) nguyên tắc độc lập của các cơ quan tư

THAHC ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung nghiên cứu từ những vấn đề lý luận, nhấn
mạnh về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật THAHC, sau đó dựa trên
những chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật
của Nhà nước đồng thời có sự so sánh, học hỏi kinh nghiệm của pháp luật quốc tế.
- Tiếp cận đa ngành, liên ngành: QĐHC, HVHC là đối tượng khởi kiện trong
các VAHC là biểu hiện của sự tác động đa dạng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
và liên quan đến nhiều đối tượng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Ngoài ra, sau khi có phán quyết của Tòa án, việc thi hành phải cần sự phối hợp của
nhiều cơ quan, tổ chức để đưa những phán quyết đó thành hiện thực. Do đó, đề tài
cần sử dụng cách tiếp cận này để có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện đồng bộ
và toàn diện nhất.
- Tiếp cận lịch sử: Thực tế cho thấy dù các quốc gia có những điểm tương
đồng về văn hoá pháp lí, cấu trúc quyền lực, hệ thống pháp luật hay điều kiện kinh
tế - xã hội thì vẫn có những khác biệt nhất định liên quan đến mô hình cơ quan quản
lí, thi hành án cũng như những vấn đề liên quan đến thủ tục và những biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác này. Do đó khi nghiên cứu cần đặt vấn đề trong
những bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể có liên quan để có thể đưa ra đánh
giá phù hợp nhất.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án được thực hiện thông qua những hoạt động nghiên cứu nghiêm túc,
toàn diện về thi hành bản án, quyết định của Toà án về VAHC trong điều kiện cải
cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay với
những đóng góp mới sau:

5


Thứ nhất, phân tích khá toàn diện những vấn đề lý luận như khái niệm, bản
chất, đặc điểm của THAHC, khẳng định THAHC là dạng hoạt động hành chính – tư
pháp với tính hành chính nổi bật hơn so với tính tư pháp. Xác lập vai trò của



6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung những vấn đề lý luận về THAHC, góp
phần thống nhất trong nhận thức về những nội dung như khái niệm, bản chất, đặc
điểm và vai trò của THAHC. Đồng thời cung cấp những đánh giá về ưu và nhược
điểm của pháp luật THAHC từ khi được xác lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam
cho đến thời điểm hiện tại. Cung cấp, bổ sung những luận cứ khoa học vào việc
hoàn thiện pháp luật THAHC và bảo đảm hiệu quả THAHC đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể
trong THAHC, mà chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền
và đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước;
Toà án nhân dân (TAND) các cấp, đội ngũ Thẩm phán hành chính; hệ thống Cơ
quan THADS; đội ngũ Chấp hành viên làm công tác THAHC; Viện kiểm sát nhân
dân (VKSND) các cấp, đội ngũ Kiểm sát viên thực hiện chức năng kiểm sát
THAHC và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho các Cơ quan quản lý THADS, Cơ quan THADS; cơ quan hành chính
nhà nước ở Trung ương và địa phương; các cơ sở đào tạo trong việc nghiên cứu,
học tập và giảng dạy về THAHC.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Những vấn đề lý luận về thi hành bản án, quyết định của Toà án về
vụ án hành chính
Chương 3. Thực trạng thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành
chính ở Việt Nam hiện nay
Chương 4. Quan điểm và giải pháp bảo đảm hiệu quả thi hành bản án, quyết
định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam


trong VAHC, THAHC mang những đặc điểm, có những bản chất và vai trò của hoạt
động thi hành án nói chung. Do đó, theo tác giả, về mặt lý luận, sự đánh giá, kế thừa
các kết quả nghiên cứu không chỉ tập trung ở những công trình dành riêng về
THAHC. Cụ thể như sau:

8


Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về thi hành án nói chung, THADS
và THAHS nói riêng trong đó nhấn mạnh về bản chất của hoạt động thi hành án
PGS. TS Trần Đình Hảo (2003), Về cải cách tư pháp và vấn đề thi hành án xét
từ góc độ của Luật Kinh tế dân sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tr.19-28;
Nguyễn Công Bình (1998), Mấy vấn đề về THADS trong việc soạn thảo Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tạp chí Luật học số 5, tr. 43-44; Lê Vĩnh Châu (2016), Thi hành bản
án, quyết định của Toà án về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội đều thống nhất thi
hành án nói chung là một giai đoạn tố tụng độc lập, tức là về bản chất mang tính tư
pháp hoàn toàn. Thi hành án là giai đoạn tiếp sau giai đoạn xét xử, có xét xử thì
phải có thi hành, xét xử và thi hành là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ
quyền và lợi ích của các đương sự.
Ngược lại, GS. TS Võ Khánh Vinh (2013), Luật Thi hành án hình sự, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội; Lê Minh Tâm (2001), Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi
hành án, Tạp chí Luật học, số 2, tr. 21-22; Nguyễn Thanh Thuỷ (2008), Hoàn thiện
pháp luật Thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Chu Thị Hoa (2016), Pháp luật Thi hành
án dân sự trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học
xã hội đồng quan điểm khi luận giải tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục
lại trạng thái ban đầu của sự việc, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc
đã diễn ra theo đúng các quy định của pháp luật và khi có phán quyết của toà án thì
quá trình tố tụng kết thúc. Còn, thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động

đoạn tố tụng hay không là giai đoạn tố tụng mà nhấn mạnh đây là hoạt động do các chủ
thể có thẩm quyền tiến hành nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực của
Tòa án về VAHC theo trình tự, thủ tục do pháp luật về THAHC quy định.
Như vậy, bản chất của hoạt động thi hành án nói chung và THAHC nói riêng
hiện vẫn còn nhiều quan điểm trái nhiều và chưa đạt được sự thống nhất. Song, tác
giả đồng tình với quan điểm cho rằng THAHC không phải là một giai đoạn của
TTHC mà là những hoạt động sau đó mang tính hành chính – tư pháp, tính hành
chính nổi bật hơn so với tính tư pháp. Nội dung này tác giả sẽ chứng minh và làm rõ
hơn trong nội dung của Luận án. Những vấn đề mang tính lý luận khác như đặc
điểm, ý nghĩa của THAHC; trình tự, thủ tục THAHC cũng được các công trình
nghiên cứu đề cập đến song theo tác giả vẫn chưa đầy đủ; đặc biệt việc phân biệt
giữa bản án và quyết định có hiệu lực của Toà án về VAHC – đối tượng THAHC và
các yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả THAHC đến nay vẫn còn bỏ ngõ.
Tóm lại, về mặt lý luận, cùng với việc xác định bản chất của hoạt động
THAHC để đưa ra khái niệm phù hợp nhất, tác giả sẽ bổ sung những phân tích về
đặc điểm, ý nghĩa của THAHC, trình tự, thủ tục của hoạt động này; phân biệt giữa
các đối tượng thi hành và làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả THAHC.

10


1.1.2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của đề tài luận án
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật THAHC tại Việt Nam giai đoạn khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC
năm 1996 và Luật TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành
Tác giả Nguyễn Văn Tân với bài viết Thi hành án hành chính và những hạn
chế trên Báo Đại biểu nhân dân, ngày 15/9/2009 và Vũ Thị Hằng (2012), Thực
trạng thi hành bản án hành chính, quá trình xây dựng và một số nội dung cơ bản
của Luật Tố tụng hành chính về thi hành án hành chính, Tài liệu tập huấn nghiệp vụ
THAHC, thi hành phần dân sự trong Bản án hình sự và công tác quản lý dự án xây

thi hành án, Báo Tuổi trẻ, ngày 12/10/2014 cụ thể hơn về hạn chế của thực tiễn
THAHC khi đưa ra nhiều phân tích đối với cơ chế đôn đốc THAHC do Cơ quan
THADS thực hiện.
Ý thức chấp hành án hạn chế, việc tuân thủ pháp luật trong THAHC không
nghiêm hay việc thiếu những biện pháp chế tài trong xử lý vi phạm THAHC một
lần nữa được các tác giả xác định là những nguyên nhân quan trọng khác ngoài yếu
tố pháp lý làm cho án hành chính xét xử đã khó, thi hành còn khó hơn. Cùng với
Trương Hồng Quang, tác giả Hồ Quân Chính tại nghiên cứu Thi hành các bản án,
quyết định hành chính ở Thành phố Hồ Chí Minh – Những khó khăn, vướng mắc và
một số kiến nghị”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyên đề về THADS, tr. 2227 đã khẳng định những khó khăn, vướng mắc trên của công tác THAHC tại Thành
phố Hồ Chí Minh – địa phương vốn có số lượng án hành chính cao nhất cả nước.
Tác giả Thu Hằng trong Hỗ trợ tài chính để thi hành án: Người sốt sắng, kẻ thờ ơ,
Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 19/5/2008 thì cho rằng hiệu quả THAHC giai đoạn
này không cao một phần lỗi thuộc về các cơ quan đã ban hành QĐHC hoặc có
HVHC trường hợp là người phải thi hành án đã tỏ ra khá “thờ ơ” trong quá trình
thực hiện cơ chế hỗ trợ tài chính.
Tóm lại, với giai đoạn khi Pháp lệnh TTGQ các VAHC năm 1996 và Luật
TTHC năm 2010 có hiệu lực thi hành, các công trình nghiên cứu mà tác giả có cơ
hội tiếp cận ở trên đã có những phân tích khá cụ thể về hạn chế của pháp luật
THAHC, những yếu kém trong công tác THAHC trên thực tế, trong đó nhiều công
trình khi nghiên cứu chỉ đi sâu luận bàn về một hạn chế nhất định như việc thực
hiện cơ chế đôn đốc THAHC tại các Cơ quan THADS. Những kết quả nghiên cứu
này thực sự là cơ sở quan trọng để tác giả có cái nhìn tổng quát nhất về sự chuyển
biến trong những quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật THAHC qua
các giai đoạn.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật THAHC tại Việt Nam sau khi Luật TTHC năm 2015 và Nghị
định 71/2016/NĐ-CP có hiệu lực thi hành
Luật TTHC năm 2015 có nhiều sửa đổi quan trọng nhằm khắc phục những hạn
chế của Luật TTHC năm 2010, trong đó có nội dung về THAHC. Các tác giả Phan

định của Luật TTHC năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về
thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người
không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định 71/2016/NĐ-CP), việc
đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong đó chủ yếu tập trung thực trạng theo dõi
THAHC của hệ thống Cơ quan THADS được các tác giả sau đề cập trong những
nghiên cứu của mình, cụ thể gồm Trần Phương Hồng (2017), Theo dõi thi hành án
hành chính và vai trò của các Cơ quan Thi hành án dân sự trong hoạt động theo dõi

13


thi hành án hành chính, Tổng cục THADS (Bộ Tư pháp); Nguyễn Thị Kim Quy
(2017), Pháp luật về thi hành án hành chính và thực trạng thi hành các bản án,
quyết định của Toà án về vụ án hành chính ở Việt Nam, Tổng cục THADS (Bộ Tư
pháp); Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Những khó khăn, vướng mắc
về pháp luật thi hành án hành chính từ góc nhìn theo dõi thi hành án hành chính,
Tổng cục THADS (Bộ Tư pháp); Phạm Văn Dùng, Nhiều vướng mắc trong theo dõi
thi hành án hành chính, Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 23/4/2018.
Tóm lại, với giai đoạn Luật TTHC năm 2015 và Nghị định 71/2016/NĐ-CP có
hiệu lực thi hành, các nghiên cứu kể trên chủ yếu đánh giá những điểm tích cực nói
chung của pháp luật THAHC. Các tác giả nhấn mạnh điểm mới từ quy định về xử lý
kỷ luật đội ngũ cán bộ, công chức trong THAHC; nhấn mạnh những tích cực của
quy định về thẩm quyền theo dõi THAHC của Cơ quan THADS thay cho cơ chế
đôn đốc THAHC. Do đó, các công trình chưa có những đánh giá về hạn chế của sự
thay đổi giữa hai cơ chế này, đồng thời chưa nêu được nguyên nhân vì sao sai phạm
trong THAHC nhiều, quy định về xử lý kỷ luật cũng đã cụ thể nhưng chưa có
trường hợp nào bị xử lý trên thực tế. Ngoài ra, khi đánh giá tình hình THAHC nói
chung, các tác giả chủ yếu dựa trên tình hình theo dõi THAHC mà chưa có sự phân
tích một cách toàn diện từ kết quả giải quyết, xét xử các VAHC tại TAND các cấp;
tình hình quản lý nhà nước về THAHC và đặc biệt là hoạt động kiểm sát THAHC.

Luật Hà Nội đã phân tích khá cụ thể về 3 biện pháp bảo đảm, hỗ trợ THAHC được
pháp luật Pháp quy định bao gồm: (1) Trao quyền cho Toà án hành chính; (2) Trao
quyền cho Cơ quan trung gian giải quyết khiếu nại (TGGQKN) của công dân; (3)
Dựa trên các biện pháp lập pháp. Trong đó, hoạt động của Cơ quan TGGQKN của
công dân trong bảo đảm THAHC theo tác giả sẽ không hiệu quả vì Cơ quan này có
khá nhiều nhiệm vụ phải tiến hành ngoài chức năng bảo đảm THAHC và biện pháp
cuối cùng mà cơ quan này được áp dụng để gây áp lực đối với trường hợp cơ quan
hành chính cố tình không THAHC chỉ là sự ghi nhận trong một báo cáo đặc biệt
được đăng trên công báo hay việc đề xuất sửa đổi luật, văn bản dưới luật để hạn chế
tình trạng bất bình đẳng trong THAHC. Sự khẳng định trên cũng tương tự với biện
pháp lập pháp – một hình thức hợp pháp hoá các QĐHC bị kiện dựa trên phán quyết
của Toà án. Nghiên cứu cũng cho thấy nếu không cẩn trọng trong việc áp dụng,
biện pháp này rất dễ vi phạm Tuyên bố về quyền con người và quyền công dân năm
1798. Các nước khác ở Châu Âu cũng tỏ ra khá dè dặt với biện pháp lập pháp trong
bảo đảm THAHC. Do đó, pháp luật THAHC tại Pháp trao cho Tham chính viện
thẩm quyền quyết định cưỡng chế phạt tiền đối với cơ quan nhà nước không thi
hành quyết định của Toà án hành chính sau đó cũng trao thẩm quyền này cho các
Toà án hành chính cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Ngoài ra, tác giả Hà Tú Cầu (2015), Mô
hình thi hành án hành chính của Pháp và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tài liệu
hội thảo Kinh nghiệm THAHC của một số nước trên Thế giới và khả năng áp dụng
tại Việt Nam cũng nêu ra sự phát triển về thẩm quyền của Thẩm phán hành chính tại

15


Pháp trong việc buộc thực hiện các quyết định của Toà án. Tác giả cho rằng sự thay
đổi này bảo đảm việc tôn trọng pháp luật khách quan của cơ quan hành chính đồng
thời còn bảo vệ tối đa quyền lợi của các cá nhân có liên quan.
Thông qua nghiên cứu Mô hình thi hành án hành chính của Anh và xứ Wales
và khả năng áp dụng kinh nghiệm của Anh và xứ Wales tại Việt Nam của tác giả



giác thi hành phán quyết của Toà án về các khiếu kiện hành chính. Song, tác giả
Trần Kim Liễu cũng nêu rõ trên thực tế, tại hai quốc gia này các phán quyết về
khiếu kiện hành chính luôn được tôn trọng thực hiện, việc áp dụng các biện pháp
chế tài hầu như không phải đặt ra.
Tại Thuỵ Điển, tác giả Trương Hồng Quang khi nghiên cứu Kỷ yếu hội thảo
Public Law Changes do Đại học Lund của Thuỵ Điển tổ chức năm 2011 đã nêu ra việc
tranh cãi khá gay gắt tại quốc gia này về quy định thủ tục THAHC có nên áp dụng
tương tự như thủ tục thi hành án thông thường, việc tranh cãi này diễn ra từ những năm
1990. Đến nay, Luật TTHC Thuỵ Điển quy định việc THAHC áp dụng tương tự thủ
tục thi hành án thông thường và mang tính bắt buộc với cả cá nhân và chủ thể có quyền
lực công. Như vậy, không có sự phân biệt giữa các bên trong THAHC tại Thuỵ Điển.
Về chế tài, việc không tự nguyện THAHC có thể bị áp dụng những biện pháp như: áp
dụng hình thức phạt tiền hành chính và các biện pháp trợ giúp khác như thông báo cho
cơ quan cấp trên, thông báo lên phương tiện thông tin đại chúng, truy cứu trách nhiệm
hình sự cùng với áp dụng hình thức phạt tiền. Ngoài ra, chấp hành viên cũng có quyền
phạt tiền hành chính hay yêu cầu cảnh sát bắt người phải thi hành án cố tình trốn tránh,
không kê biên tài sản thi hành án [104, tr. 23-40].
Khi thực hiện đề tài luận án tiến sĩ về Mô hình Toà hành chính ở Việt Nam
năm 2012 tại Đức, được xuất bản bởi Lambert Academic, tác giả Phạm Hồng
Quang có đề cập đến hoạt động THAHC của Nhật Bản khi nghiên cứu về thẩm
quyền xét xử hành chính tại quốc gia này. Theo nghiên cứu của tác giả, Nhật Bản đã
trao quyền xét xử hành chính cho Toà án từ những năm đầu của thế kỷ 19, những
QĐHC bị toà tuyên huỷ sẽ không còn giá trị pháp lý, buộc các cơ quan hành chính
cũng như các bên có liên quan phải tuyệt đối tuân theo. Nhật Bản cũng đề cao tinh
thần tự giác, tự nguyện trong thi hành của các cơ quan hành chính nhà nước. Ngoài
ra, Luật Kiện tụng hành chính Nhật Bản hiện hành không cho phép Toà án đã xét
xử vụ kiện can thiệp sâu vào hoạt động quản lý hành chính.
Tác giả Lê Lan Chi và Đỗ Thị Thu Hằng khi nghiên cứu về Mô hình thi hành

1.1.3. Tình hình nghiên cứu về đề xuất, kiến nghị của đề tài luận án
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về đề xuất, kiến nghị dựa trên thực
trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHC tại Việt Nam
Đa số các công trình nghiên cứu khi phân tích về thực trạng pháp luật và thực
tiễn áp dụng pháp luật THAHC đều có những đề xuất kiến nghị nhất định song chủ
yếu là đề xuất hoàn thiện pháp luật THAHC. Do đó, những vấn đề khác liên quan
đến việc đảm bảo hiệu quả THAHC ngoài hoàn thiện pháp luật còn khá mờ nhạt,
đặc biệt dành cho giai đoạn Luật TTHC năm 2015 và Nghị định 71/2016/NĐ-CP có
hiệu lực thi hành. Hầu hết các đề xuất, kiến nghị đảm bảo hiệu quả THAHC còn tức
thời, sự lâu dài, ổn định có phần hạn chế.
Một số đề xuất, kiến nghị trong các công trình nghiên cứu giai đoạn Luật
TTHC năm 2010 được áp dụng đã được giải quyết tại những quy định mới của Luật

18


TTHC năm 2015 và Nghị định 71/2016/NĐ-CP như bỏ cơ chế đôn đốc THAHC của
Hệ thống Cơ quan THADS, bỏ thẩm quyền giải quyết các VAHC của TAND cấp
huyện đối với đối tượng khởi kiện là QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND, UBND
cấp huyện hay cụ thể hơn về thời hạn tự nguyện THAHC, về các hình thức xử lý
trách nhiệm trong THAHC. Tuy nhiên, nhiều đề xuất hoàn thiện pháp luật THAHC
cho đến nay vẫn chưa được giải quyết, nổi bật như việc ban hành Luật THAHC
riêng bên cạnh Luật TTHC mà tác giả Trương Hồng Quang, Hồ Quân Chính đã nêu
ra từ khá lâu trong những nghiên cứu của mình. Đây cũng là đề xuất mà tác giả
Nguyễn Thị Hoàng Giang xác định là giải pháp chủ yếu thời gian tới để đảm bảo
hiệu quả THAHC vì theo tác giả đề xuất này có đầy đủ các cơ sở hình thành và thực
hiện từ lý luận, pháp lý, chính trị cho đến thực tiễn.
Các công trình nghiên cứu khác khi đưa ra kiến nghị, đề xuất đối với hoạt
động THAHC hiện nay đều tập trung cho việc nâng cao chất lượng hoạt động theo
dõi THAHC từ việc hoàn thiện pháp luật THAHC về theo dõi cho đến những giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status