Hợp đồng dân sự vô hiệu là một trong những chế định pháp lý lâu đời nhất
và xuất hiện sớm nhất trong nội dung luật dân sự. Hợp đồng dân sự là một
sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưu dân sự phong phú
của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể
tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình. Trong chế định này, những quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu có
một vai trò rất quan trọng, bởi chỉ những hợp đồng hợp pháp mới làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được. Bài làm của nhóm em sau đây xin
trình bày về các đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu.
I.Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu:
Để phân tích các khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu, chúng ta nên tìm hiểu
về hợp đồng dân sự trước. Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp
đồng dân sự khái quát, ngắn gọn như sau: “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ
xác định là sự thỏa thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong
muốn của họ. Nguyên tắc này tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các nước.
Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn… là không phù hợp
với ý muốn của các bên.
Các điều 410 và 411 BLDS 2005 có qui định về hợp đồng dân sự vô hiệu.
Theo Điều 410 BLDS, các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được
áp dụng với hợp đồng dân sựu vô hiệu. Điều đó có nghĩa là những hợp đồng
dân sự nếu vi phạm một trong các điều kiện về hình thức và nội dung của
giao dịch dân sự nói chung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu:
• Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;
• Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
• Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
• Hình thức giao dịch phù hợp với qui định của pháp luật;
Tính vô hiệu của hợp đồng dân sự được thẻ hiện ở chỗ nó không làm phát
sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập
bà đã làm hợp đồng bán căn nhà của mình cho chủ nợ. Hợp đồng mua bán
nhà này được công chứng vào tháng 11-2005. Tháng 12-2005, bà và bà D
làm một bản hợp đồng mua bán nhà nhưng ghi lùi ngày vào tháng 5-2005 để
thể hiện bà Hđã bán nhà cho bà D trước khi bán cho chủ nợ . Mục đích để bà
H không bị mất nhà. Trường hợp này các bên tham gia giao dịch hoàn toàn
tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí
thực của họ. Việc giả tạo này nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc để trốn
tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn( Điều 131):
Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về
đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải thể hiện rõ ràng và căn cứ vào nội dung
giao dịch có thể xác định được.
Khi một bên bị có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao
dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung giao
dịch, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Ví dụ: A bán cho B một chiếc xe máy nhưng A quên không thông báo cho B
biết rằng hệ thống đèn của chiếc xe đó đã bị cháy. B yêu cầu A giảm bớt giá
bán chiếc xe đó hoặc thay thế hệ thống đèn mới nhưng A không chấp nhận.
B có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch mua bán vô hiệu( Theo điều
131)
- Nếu lỗi cố ý làm cho nhầm lẫn thì xử lý như là trường hợp bị lừa dối, đe
dạo( Điều 132): Bên bị lừa dối hoặc bị đe dọa có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bộ giao dịch vô hiệu.
Những giao dịch được xác lập do lừa dối, đe dọa. Khi giao dịch bị tuyên bố
vô hiệu, bên lừa dối, đe dọa phải bồi thường những thiệt hại xảy ra đối với
bên bị lừa dối, đe dọa.
Ví dụ: Bà K kiện bà C ra tòa để tranh chấp hợp đồng mua bán đất. Bà K khai
vào năm 2007, bà có ký hợp đồng( có công chứng) mua gần 4.000 m2 đất
của bà C với giá 450 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận sẽ mua, bán cả nhà và
Điều 134 qui định: “ Trong trường hợp pháp luật qui định hình thức của giao
dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà các bên không
tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, vô hiệu, Tòa án, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền khác ra quyết định buộc các bên thực hiện qui định
hình thức về giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực
hiện thì giao dịch vô hiệu”. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi
thường thiệt hại.
Như vậy, giao dịch dân sự không tuân thủ hình thức pháp luật qui định vô
hiệu trong trường hợp quá thời hạn ấn định mà các bên không thực hiện
đúng qui định hình thức do pháp luật qui định thì vô hiệu( chẳng hạn ấn định
từ 1 đến 3 tháng).
Ví dụ: Năm 1990, A nhận chuyển nhượng của ông C nhà ở, hoa màu trên đất
– việc chuyển nhượng này có lập văn bản (viết tay) nhưng không có sự xác
nhận của chính quyền. Như vậy có hợp đồng này về hình thức có vi phạm
không? Tại thời điểm đó, pháp luật thi hành như thế nào? Năm 1990 C khởi
kiện đòi tòa án hủy hợp đồng vì chưa qua xác nhận của chính quyền? Pháp
luật xử lý như thế nào?
Trả lời :
Tại Luật Đất đai năm 1987 quy định cụ thể việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phải thực hiện bằng văn bản và có xác nhận của chính quyền địa
phương.
Và tại Điều 13 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 quy định Hình thức của
hợp đồng:
“1- Các bên có thể giao kết hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản.
2- Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản,
đăng ký, hoặc có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì các bên
phải tuân theo các quy định đó.”
Vì vậy, việc chuyển nhượng tại thời điểm năm 1990 không cần phải có xác
nhận của chính quyền địa phương
e. Người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình( Điều
-Trước hết, hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm
dứt quyền và nghũa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết.
Hợp đông dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, vì vậy khi hợp đồng này vô hiệu thì
đương nhiên các thỏa thuận đó cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 137
BLDS 2005 qui định “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay
đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”.
Hợp đồng dân sự vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên không được
pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nếu hợp đồng mới xác lập mà chưa thực hiện
thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực hiện thì
không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện thì các bên xử lý tài
sản. Không chỉ thế, hợp đồng vô hiệu còn không làm thay đổi hay chấm dứt
quyền và nghĩa vụ của các bên mà trong các trường hợp, nó còn làm thay đổi
hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của họ.
- Tiếp đến là vấn đề hoàn trả tài sản, khôi phục lại trạng thái ban đầu khi
hợp đồng dân sự vô hiệu và bồi thường thiệt hại.
Khoản 2 Điều 137 BLDS 2005:
“ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng