Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ ĐỨC DUY

HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP TRONG
TIỂU THUYẾT‘MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA’
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ ĐỨC DUY

HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP TRONG
TIỂU THUYẾT‘MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA’
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8.22.90.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

HÀ NỘI, 2018

PHẨM MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA NGUYỄN KHẮC
TRƯỜNG ....................................................................................................... 52
3.1. Kết quả thống kê, phân loại .................................................................. 52
3.2. Phát ngôn hỏi gián tiếp và hồi đáp ....................................................... 53
3.3. Cặp thoại hẫng có phát ngôn hỏi gián tiếp và hồi đáp ......................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 80


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xưa, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương truyền thống mới chỉ dựa trên
ngữ pháp và ngữ nghĩa, tức là đi sâu vào bình diện kết học, nghĩa học của câu chữ
trong văn bản văn học mà bỏ qua mặt dụng học khi đi vào nghiên cứu các tác phẩm
văn học. Đây là hướng đi của ngôn ngữ học cổ điển (ngôn ngữ học tiền ngữ
dụng). Hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống này là mới chỉ
thấy được mô hình mã mà chưa thấy được mô hình suy ý, tách rời ngôn ngữ
nhân vật khỏi ngữ cảnh rộng và hẹp nên không thấy được nhiều hơn những nghĩa
nằm trên câu chữ trực tiếp. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua một
mảng lớn nội dung tác phẩm, bao gồm các hành động ngôn ngữ (trực tiếp/gián
tiếp), nghĩa hàm ẩn, hợp phần ngữ cảnh… là những nhân tố quan trọng kiến tạo
nên cuộc giao tiếp hoàn chỉnh giữa các nhân vật trong tác phẩm và giữa nhà văn
với bạn đọc. Nói một cách đơn giản, trong ngôn ngữ của nhân vật văn học và nhà
văn khi tạo nên tác phẩm văn học còn rất nhiều điều nằm ngoài câu chữ mà ngôn
ngữ học truyền thống đã bỏ qua hoặc chưa phát hiện ra. Những nội dung ngoài câu
chữ này đóng vai trò không nhỏ giúp người đọc hiểu sâu hơn nội dung tác phẩm
cũng như những điều nhà văn gửi gắm.
Nghiên cứu ngôn ngữ văn học ngày nay áp dụng những thành tựu của ngữ
dụng học để phát hiện thêm nhiều góc khuất đằng sau câu chữ. Chúng ta coi tác

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường” tìm hiểu hành động hỏi
và hồi đáp với hiệu lực ở lời khác nhau trong tác phẩm để từ đó thấy được mối quan
hệ giữa những người giao tiếp trong cuộc thoại, tính cách của từng nhân vật, tài năng
của tác giả trong việc xây dựng tính cách ấy. Bởi lẽ đối với tác phẩm văn học, hành
động hỏi và hồi đáp là một trong những hành động phổ biến góp phần làm nên thành
công của tác phẩm nói chung và về mặt ngôn ngữ được lựa chọn để sử dụng trong tác
phẩm nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Những nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp
Ngữ dụng học là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, đó là nghiên cứu
việc sử dụng ngôn ngữ trong tình huống giao tiếp. Trong giao tiếp, câu nghi vấn là
một trong bốn kiểu câu phân loại theo mục đích nói. Kiểu câu này được sử dụng
khá phổ biến trong tiếng Việt. Ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây, vấn đề
hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi, hồi đáp hỏi nói riêng đã thu hút được

2


sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học như: Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu,
Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp …
Khi nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp phải kể đến các công trình khoa
học của một số tác giả như: Nguyễn Thị Thìn (1994), Câu nghi vấn tiếng Việt, một
số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội.
Luận án đã đưa ra phương pháp miêu tả một số kiểu câu nghi vấn không dùng để
hỏi; Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu
thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội. Tác giả đã dựa
vào bốn điều kiện thỏa mãn các hành vi ở lời của Searle (điều kiện mệnh đề, điều
kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản) để chỉ ra cơ sở xác định các
hành vi gián tiếp có liên quan đến hành vi hỏi do tiểu từ tình thái dứt câu biểu thị;
Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ

người Việt, Luận án Tiến sĩ, Đại học Vinh, lại không đi vào tìm hiểu hành động hỏi
trong các tác phẩm văn xuôi mà đi vào tìm hiểu hành động hỏi trong ca dao của
người Việt, đây là một góc mới trong việc tìm hiểu, nghiên cứu nét độc đáo của văn
học dân gian nói chung và ca dao nói riêng. Đề tài đã làm rõ được các đặc điểm của
hành động hỏi trong ca dao trên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng
xử, trong đó nổi bật là phép lịch sự.
Bên cạnh đó cũng có một số bài viết liên quan đến đề tài này như: Lê Đông
(1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ (số phụ); Nguyễn
Chí Hoà (1993), Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác
lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Tạp chí Ngôn ngữ, (số 1); Lê Đông
(1994), Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của
câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, (số 2); Nguyễn Đăng Sửu (1998), Một vài đặc điểm
chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn ngữ), Kỉ yếu hội thảo Ngữ học
trẻ; Nguyễn Thị Tuyết Mai (2001), Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để
hỏi, Những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học, Viện Ngôn ngữ học.
2.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn
Khắc Trường
Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường là một tiểu
thuyết mới, ra đời vào những năm đầu thế kỉ XX nhưng từ khi ra đời đến nay tác
phẩm lại chiếm được vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại và để
lại nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc. Chính vì lẽ đó, tác phẩm trở thành đối tượng
nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học như:

4


Tác giả Vũ Thị Thanh (2015), Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết Mảnh đất
lắm người nhiều ma, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa, Đại học Sư phạm 2.
Ở đề tài này, tác giả đã đi sâu vào khám phá những nét văn hóa tiêu biểu, độc đáo
và đặc sắc của vùng nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX qua đó thấy

Khắc Trường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu nhưng chưa có
một công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa
những thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn đi sâu nghiên cứu về đặc điểm
hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác
giả Nguyễn Khắc Trường.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là thông qua khảo sát hành động hỏi
và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc
Trường góp phần tìm hiểu tác phẩm dưới cái nhìn của ngôn ngữ học về vấn đề giao
tiếp trong cuộc sống của người nông dân nói chung và giao tiếp ngôn ngữ trong tác
phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma nói riêng. Từ đó, góp thêm một cái nhìn mới
trong việc khẳng định vị trí vai trò của nhà văn Nguyễn Khắc Trường đối với nền
văn học Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:
1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu.
2/ Hệ thống hóa một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài.
3/ Khảo sát đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.
4/ Chỉ ra những đặc điểm đặc sắc qua hành động hỏi và hồi đáp trong tác
phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tập trung khảo sát, nghiên cứu
hành động hỏi và hồi đáp qua lời thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường qua cuốn Tiểu thuyết Mảnh đất
lắm người nhiều ma, NXB Văn hóa thông tin, 2012.

6

Chương 3: Hành động hỏi gián tiếp và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường

7


Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lý thuyết hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến nhất, được nhiều ngành học quan
tâm từ lâu, có nhiều quan niệm khác nhau về hội thoại. Dưới đây là quan niệm của
một số tác giả:
Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của
ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại
là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [12, tr. 201].
Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Giao
tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa người nói và người nghe, chẳng những
người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác
động lẫn nhau” [19, tr. 63].
Theo Hồ Lê thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều, cụ thể và
xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của người phát
ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn với hành vi thụ
ngôn tạo thành một thể thống nhất” [13, tr.13].
Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng khái niệm của Đỗ Hữu Châu.
Ông đã đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát rộng hơn, có thể áp dụng
cho nhiều loại hình ngôn ngữ. Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ
học – Tập hai Ngữ dụng học, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 201, hội thoại có một
số đặc điểm sau:
Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra

Thứ tư là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích.
Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích
được xác định trước rõ ràng. Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích.
Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay
không có hình thức. Những cuộc thương nghị, hội thảo… là những cuộc hội thảo
mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những
chuyện trò đời thường không cần một hình thức nào cả.
Cuối cùng là vấn đề ngữ vực. Do tính có hình thức hay không có hình thức
mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực đã biết.

9


1.1.2. Cấu trúc hội thoại
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (2009) trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, Tập
hai, Nxb Giáo Dục, tr. 290, cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới tồn tại ba
trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là trường phái
phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) – Trường phái này cho rằng hội
thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại. Thứ hai là trường phái phân tích
diễn ngôn (discourse analysis) – Trường phái này dựa trên mô hình cấu trúc bậc
(rank) chia hội thoại thành năm bậc như sau: I. Tương tác (Interaction); II. Đoạn
thoại (Transaction); III. Cặp thoại (exchange); IV. Bước thoại (move); V. Hành
động (act). Trong cấu trúc tầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của
cuộc thoại tức cuộc tương tác. Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo
nên cặp thoại và đơn vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại. Trong đó, ba đơn vị cuộc
thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình
thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại. Hai đơn vị có tính chất đơn
thoại, có nghĩa là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ. Thứ ba
là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp – Trường phái này đã phân
định các đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại,

Do tính chất không chặt chẽ của các tiêu chí trên, C. K. Orecchioni đã đưa ra một
định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện
cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong
một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về
một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”.
1.1.2.2. Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ
với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng. Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề, về
ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích. Tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự thực
hiện một quan hệ lập luận trong đoạn thoại đó. Cấu trúc tổng quát của một cuộc
thoại có thể là: Đoạn thoại mở thoại, thân cuộc thoại và đoạn thoại kết thúc. Trong
đó: Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở ra cuộc thoại
và nêu đề tài diễn ngôn; Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính
của cuôc thoại; Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về
chủ đề hội thoại. Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn,
chúc mừng, xin lỗi, từ biệt ...

11


1.1.2.3. Cặp thoại (Cặp trao đáp)
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc
hội thoại chính thức được tiến hành. Vì cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của
cuộc thoại do các tham thoại tạo nên, có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để
phân loại các cặp thoại:
Cặp thoại một tham thoại: thực tế, về nguyên tắc, cặp thoại ít nhất phải có hai
tham thoại của hai nhân vật, tuy nhiên khi chúng ta nói đến các cặp thoại một tham
thoại là nhắc đến những trường hợp tham thoại Sp1 không được Sp2 hưởng ứng hồi
đáp bằng một hành vi tương ứng. Ví dụ như: Sp1: Hôm nay em đẹp quá!/ Sp2:…
Chúng ta gọi những trường hợp này là cặp thoại hẫng. Tuy nhiên, không phải cặp

(6) – Sp2: Mình đi tìm Thắng. Cậu ấy sắp đi Nha Trang.
(1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng; (3) và (4) là
một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi. (4) là một lượt
lời gồm 3 tham thoại, một tham thoại đáp, một tham thoại cám ơn, một tham thoại
hỏi. Mỗi cặp thoại như trên do hai tham thoại tạo thành.
Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo
nên. Theo trường phái Geneve, một tham thoại có một hành vi chủ hướng (CH), và
có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (PT) [12, tr. 317]. Cấu trúc của tham
thoại có thể là:
CH
PT

CH
CH

PT

PT

CH

PT

CH

PT

Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và
quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại. Hành vi phụ thuộc có nhiều
chức năng khác nhau. Ví dụ:

đến những yếu tố làm giảm sự xúc phạm thể diện như rào đón, nói giảm nói tránh,
dùng hành động gián tiếp (hỏi, tường thuật, cầu khiến).
Tuy nhiên, ranh giới giữa các hành động đe dọa thể diện và các hành động
giữ thể diện nhiều khi không phải dễ phân biệt. Có khi một hành động tôn vinh thể
diện lại trở thành một hành động đe dọa thể diện. Cho nên, để đảm bảo được phép
lịch sự khi giao tiếp phải thực hiện chiến lược lịch sự qua những phép lịch sự dương
tính và lịch sự âm tính.
Phép lịch sự là tập hợp những phương tiện mà người nói vận dụng để điều
phối các thể diện giao tiếp. Phải tôn trọng lãnh địa của người nói nhưng cũng phải
làm sao cho lãnh địa của mình không bị xúc phạm. Bởi vậy, phép lịch sự là rất cần
thiết và là chuẩn mực mà người nói luôn hướng tới. Lịch sự gắn với văn hóa của

14


từng dân tộc nên việc nghiên cứu sự thể diện của phép lịch sự trong ngôn ngữ chính
là đi vào những đặc trưng văn hóa của từng dân tộc.
1.1.3.2. Quan hệ liên cá nhân
Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự
phát, nhận trong giao tiếp. Còn quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong
tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau. Quan hệ
liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục, trục tung là vị thế
xã hội còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách còn
được gọi là trục thân cận.
Trục hoành (trục khoảng cách, trục thân cận): Thể hiện khoảng cách tình
cảm gần gũi thân tình hay xa lạ giữa những người hội thoại với nhau, nó có thể
điều chỉnh được. Những quan hệ trên trục này gọi là quan hệ ngang. Có những
dấu hiệu phi lời, kèm lời và bằng lời để đánh dấu mức độ quan hệ này giữa
những người hội thoại.
Trục tung (trục quyền uy, trục vị thế): Thể hiện vị thế xã hội giữa những

Theo J.Austin, trong cùng một hành động ngôn ngữ có hành động ở lời, hành
động tạo lời và hành động mượn lời. Nhờ đưa ra tiêu chí phân biệt này, J.Austin đã
điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói.
Lý thuyết hành động ngôn ngữ do J.Austin đề xướng vào những năm 60 của
thế kỉ XX, về sau được các nhà ngôn ngữ kế tục thành công trong đó, tiêu biểu là
J.Searle. Tác giả này đã chỉ ra hạn chế trong lý thuyết của J.Austin là chưa phân biệt
được sự khác nhau giữa hành động ngôn ngữ và động từ biểu hiện ngôn ngữ.
J.Searle đã đưa ra những tiêu chí cơ bản làm nền tảng cho sự phân biệt các hành vi
ở lời và trên cơ sở đó, ông đã nêu ra tới mười hai phương diện mà các hành động có
thể khác nhau. Trong các tiêu chí đó, ông chọn ba tiêu chí cơ bản để phân loại các
hành động tại lời: Đích của hành động ngôn trung; Hướng của sự ăn khớp giữa lời –
hiện thực; Trạng thái tâm lí được biểu hiện.
Xu hướng nghiên cứu hiện nay là chấp nhận lý thuyết và cách phân loại của
J.Searle nhiều hơn cả. Hành động ngôn ngữ là một phạm trù phổ quát mang tính
nhân loại và hành động hỏi cụ thể cũng mang tính phổ quát. Đề tài của chúng tôi
chọn cách quan niệm về hành động ngôn ngữ của J.Searle làm cơ sở tiền đề để đi
vào tìm hiểu các hành động hỏi và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm người
nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.

16


1.2.2. Phân loại hành động ngôn ngữ
1.2.2.1. Hành động tạo lời
Theo J.Austin hành động tạo lời là hành động của “nói một cái gì đó”, là
hành động bao gồm (đại thể) các tiểu loại: hành động ngữ âm, hành động cấu âm và
hành động tạo nội dung mệnh đề, tức hành động sử dụng các từ có khái niệm và sở
chỉ ở một chừng mực nào đó có tính xác định.
1.2.2.2. Hành động tại lời
Hành động tại lời là hành động được thực hiện ngay khi nói năng. Nó là mục

nguyền, thông qua các quy ước, tham gia một phe nhóm.
- Trình bày: Những hành động này được dùng để trình bày các quan niệm,
dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như: khẳng định, phủ định, trả lời, phản
bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ, chuyển dạng lời...
- Ứng xử: Đây là những hành động phản ứng với cách xử sự của người khác,
đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành
động hay số phận của người khác: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê
phán, chia buồn, ban phước, thách thức...
1.2.3.2. Phân loại hành động ngôn ngữ của J.Searle
J.Searle đã đưa ra 12 điểm được dùng làm tiêu chí phân loại, trong đó có 4
tiêu chí cơ bản nhất (tiêu chí đích ở lời; tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng
thái tâm lí và tiêu chí nội dung mệnh đề) để phân loại 5 phạm trù hành động ở lời,
đó là:
- Tái hiện: Hành động này trước đó được J.Searle gọi tên là xác tín. Đích ở
lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến. Hướng khớp ghép là lời – hiện
thực, trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một
mệnh đề. Mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai lôgic. Hành động
tái hiện / xác tín gồm các động từ: kể, thông báo, giải trình, giới thiệu...
- Điều khiển: Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một
hành động tương lai; hướng khớp ghép là hiện thực – lời, trạng thái tâm lí là sự
mong muốn của người nói; nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người
nghe. Hành động điều khiển gồm các động từ: ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép, dặn
dò, mời mọc ...
- Cam kết (hứa hẹn, tặng, biếu): Đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện
hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc; hướng khớp ghép hiện thực – lời; trạng
thái tâm lí là ý định của Sp1 và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp1.

18




19


Những quan hệ từ này cũng thuộc dạng câu hỏi lựa chọn. Dạng thức này
không yêu cầu người đối thoại khẳng định hay phủ định nội dung thông tin trong
câu hỏi mà yêu cầu người đối thoại phải đưa ra phương án lựa chọn của bản thân
trong từng tình huống giao tiếp cụ thể.
d. Dùng ngữ điệu (gắn với ngữ cảnh và động từ)
e. Dùng một số từ tình thái kiểu như: à, ư, hử, hả… , không… v.v.
1.2.4.2. Biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi hàm ẩn
Biểu thức ngữ vi có thể có động từ ngữ vi hay không có động từ ngữ vi trên
bề mặt câu chữ. Nếu biểu thức ngữ vi có chứa động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ
thì đó là biểu thức ngữ vi tường minh. Ví dụ: Tôi mong chị sẽ đến; Mời bà xơi cơm;
Tôi cấm anh nói xấu cô ấy; Anh hứa sẽ đến đúng hẹn… v.v.
Nếu biểu thức ngữ vi không có các động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ thì đó
là biểu thức ngữ vi hàm ẩn hay còn gọi là biểu thức ngữ vi nguyên cấp. Ví dụ: Ô...
thế anh ra khỏi Đảng à?; Sao bảo ông ta chết rồi?; Thằng Long đâu?... v.v.
1.2.4.3. Dấu hiệu ngữ vi
Dấu hiệu ngữ vi là những cấu trúc và từ ngữ thể hiện hành vi tại lời. Để nhận
biết dấu hiệu ngữ vi người ta thường dựa vào các căn cứ sau đây:
- Các kiểu kết cấu như các kiểu câu có mục đích nói: trần thuật, hỏi, cầu
khiến, cảm thán… những kết cấu cụ thể ứng với từng hành động ở lời.
Với những phát ngôn ngữ vi nguyên cấp, Sp2 phải căn cứ vào dấu hiệu ngữ
vi và ngữ cảnh thì mới tìm được hành động tại lời chính xác.
Ví dụ: đi đi! - Nếu con đang chơi ở bếp, mẹ nói câu trên thì đó là hành vi ra
lệnh. Nếu con xin phép đi chơi, câu nói trên của người mẹ là hành động cho phép.
- Những từ ngữ chuyên dùng như những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu
thức ngữ vi hỏi: ai, cái gì, bao giờ, mấy, à, ư, nhỉ...
- Ngữ điệu: cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể, nếu được phát âm

văn học và nghệ thuật năm 2000.
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường yêu những tác giả viết về nông thôn từ bé.
Ông luôn có cảm giác bâng khuâng, bần thần khi đọc những trang văn viết về cảnh
“nhà quê” của Nam Cao, Kim Lân,… khi đó trong ông bỗng có một mơ ước được
thử sức về đề tài này và ông đã thành công. Cuốn tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người
nhiều ma” được nhà văn Nguyễn Khắc Trường hoàn thành năm ông 44 tuổi, khi đã
có độ chín về những cảm nhận đời sống và nghề văn. Khi ông cảm thấy rằng, văn
chương là một “bể mênh mông” nhưng cũng sẽ lọt thỏm vào vòng xoáy của nó nếu

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status