Chuyên đề về Tây Sơn tam kiệt - Pdf 58

ĐỀ CƯƠNG CHUYÊN ĐỀ TÂY SƠN
Chuyên đề 1: Đặc trưng về truyền thống đoàn kết của phong trào Tây Sơn.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam mỗi phong trào đấu tranh của quần chúng nhân
dân bao giờ cũng có tính đoàn kết.
Chủ tịch Hồ Chí minh cũng đã nhấn mạnh yếu tố đoàn kết trong quá trình kháng chiến
chống Pháp và Mỹ bằng câu nói: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân
liệu cũng xong. Sức mạnh của nhân dân được nhân lên gấp bội khi thực hiện được khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nên sức mạnh vô địch của
cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành
công, thành công, đại thành công"… sự thật yếu tố đoàn kết là yếu tố sống còn của bất
kỳ một phong trào đấu tranh nào:
“Một cây làm chẳng lên non.
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”
Vậy đoàn kết là gì?
Đoàn kết : Đoàn có nghĩa là qui tụ, tập hợp nhiều đơn vị, nhiều cá nhân.
Kết là những tập hợp các cá nhân, các đơn vị cùng kết lại tạo lên sức
mạnh của tập thể.
Đoàn kết là một truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc; đoàn kết để chống
ngoại xâm, đoàn kết để xây dựng đất nước, trong lịch sử Việt nam thì đoàn kết luôn
được nhân dân tiến hành một cách sâu sắc và mãnh liệt, tạo lên sức mạnh của toàn dân
chống kẻ thù xâm lược, dù rằng kẻ thù đó lớn và mạnh hơn mình rất nhiều.
Ngay ở những năm cuối của thế kỷ XVIII thì anh em nhà Tây Sơn đã vận dụng
linh hoạt, đầy sáng tạo trong tính đoàn kết các lực lượng tham gia khởi nghĩa để thực
hiện những sứ mệnh lịch sử của mình. Đặc biệt trong phong trào đấu tranh của anh em
nhà Tây sơn thì tính đoàn kết được thể hiện rất rõ nét và xuyên suốt trong quá trình đấu
tranh và phát triển của phong trào.
Như vậy đoàn kết trong phong trào Tây Sơn là tập hợp quy tụ các thành phần lại
với nhau.
Tính đoàn kết trong phong trào Tây Sơn là sự kế thừa và phát huy truyền thống
của dân tộc nhưng nó biểu hiện một cách khác biệt: Đoàn kết trong phong trào Tây Sơn

thì lực lượng của quân Tây Sơn đã bị kẹp giữa phía bắc là quân của Chúa Trịnh, Phía
Nam là quân của chúa Nguyễn. Trước thế nguy hiểm đó Nguyễn Nhạc kịp thời thay đổi
sách lược, một mặt lo củng cố căn cứ ở miền núi Quy Nhơn, một mặt tạm hòa hoãn với
quân trịnh để tập trung lực lượng tấn công quân Nguyễn. Như vậy với sự khôn khéo và
biết lựa thời thế, anh em Tây Sơn đã biết tranh thủ thêm bạn, bớt thù để có điều kiện
củng cố lực lượng và rảnh tay triệt tiêu bớt đi kẻ thù, thú đẩy phong trào đấu tranh của
nghĩa quân ngày một phát triển với quy mô rộng hơn, mục tiêu lớn hơn.
+ Sau khi làm chủ toàn bộ khu vực Đàng trong nghĩa quân Tây Sơn đã tiến ra
Đàng ngoài để lật đổ tập đoàn thống trị Lê -Trịnh. Quân Tây Sơn đã chiêu nạp Nguyễn
Hữu Chỉnh vốn là môn hạ của Hoàng Ngũ Phúc. Chính Chỉnh đã khuyên Tây Sơn đem
gấp quân ra chiếm Phú Xuân, nhờ vào mối quan hệ của Chỉnh tạo ra mâu thuẫn nội bộ
quân Trịnh ở Phú Xuân mà Tây Sơn đã nhanh chóng chiếm được được thành Phú
Xuân.
+ Trong khi tiến quân ra Bắc để phân hóa đối phương và kêu gọi nhân dân hưởng
ứng và ủng hộ thì Nguyễn Huệ đã phát hịch: “Phù Lê diệt Trịnh”. Khi đã tiêu diệt được
lực lượng của chúa Trịnh thì Nguyễn Huệ đã thực hiện đúng như mục đích ban đầu là
trả quyền hành ở Đàng ngoài cho vua Lê . Điều này đã tạo niềm tin và kéo sự ủng hộ
của dân chúng về phía nghĩa quân ngày càng lớn hơn.
- Bên cạnh những yếu tố trên thì việc biết quy tụ nhân tài từ nhiều nguồn khác
nhau cũng là một trong những nét đặc trưng riêng biệt của Phong trào Tây Sơn. Cụ thể
là việc ban chiếu cầu hiền.
+ Từ rong quá trình lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nguyễn Huệ rất chú ý tới việc thu
nạp nhân tài, nhờ vậy đã tập hợp được nhiều sỹ phu có năng lực, thành tâm theo đuổi sự
nghiệp của phong trào như: giải nguyên Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và
đặc biệt thái độ “cầu hiền” mềm dẻo của Nguyễn Huệ trong việc 3 lần mời Nguyễn
Thiếp (La Phu Tử) ra giúp việc. Với thái độ “cầu hiền” chân thành của Nguyễn Huệ đã
tranh thủ được sự đóng góp của nhiều lứa tuổi khác nhau, nhiều nguồn gốc xã hội khác
nhau đặc biệt là các sỹ phu quan lại thời Lê – Trịnh, Nguyễn.
2
- Với việc chiêu mộ hiền tài và trọng dụng những người có tâm huyết như Ngô

=> Như vậy với đặc trưng đoàn kết rất mang nét riêng biệt của cuộc khởi nghĩa
nông dân Tây Sơn đã nói lên vai trò của tinh thần đoàn kết dân tộc, với sự đoàn kết sẽ
tạo lên sức mạnh thần kỳ và chiến thắng bất cứ kẻ thù nào. Xong để trường tồn mãi mãi
trong mỗi một triều đại thì cần phải làm tốt được mâu thuẫn nội bộ, điều này là một
trong những nhân tố dẫn đến sự lụi tàn và suy vong của các triều đại và mâu thuẫn đó
đã được chứng minh một cách cụ thể trong phong trào Tây Sơn.
3
Chuyên đề 2: Đặc trưng về truyền thống yêu nước:
-> Đặc trưng là nét riêng biệt và tiêu biểu, được xem là dấu hiệu để phân biệt với những
sự vật khác, hoặc để chỉ những thuộc tính bên trong của sự vật. giúp phân biệt giữa sự
vật này với sự vật khác.
Như vậy đặc trưng yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Dân
tộc Việt Nam là một dân tộc trong hàng ngìn năm nay đã luôn luôn minh chứng một
cách hùng hồn lòng yêu nước của những người con trên mảnh đất này. Từ năm 1975
trở về trước, dân tộc chúng ta phải đi qua hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh
khác. Nếu không có lòng yêu nước của con người Việt Nam, dân tộc chúng ta đã không
đi tới độc lập tự do. Trong bất cứ cuộc chiến tranh vệ quốc nào, chúng ta đều được
chứng kiến lòng yêu nước kỳ diệu của con người Việt Nam từ một em bé cho tới một
cụ già. Hàng triệu người Việt Nam luôn luôn sẵn sàng dâng hiến cả cuộc sống của cá
nhân mình cho Tổ quốc. Bởi thế mà tất cả những đội quân xâm lược hùng bạo nhất trên
thế giới đều gục ngã trên mảnh đất Việt Nam, một mảnh đất mà con người ngàn năm
nay luôn luôn bày tỏ khát vọng hòa bình, lòng nhân ái, yêu cái đẹp và tự do.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc, tạo lập cho
dân ta một nền văn hoá phong phú, đa dạng và thống nhất bền vững với những giá trị
truyền thống tốt đẹp, cao quý, trong đó chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang cao
nhất của văn hoá Việt Nam.
Đây cũng là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
người đã đúc kết: “Dân tộc ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu
của dân tộc..” và đây cũng là cơ sở xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người, là động lực giúp Người vượt qua mọi gian nan thử thách,

là đương đầu với hai kẻ thù xâm lược hùng mạnh: Xiêm, Thanh qua trận Rạch Gầm-
Xoài Mút năm 1785 và đại phá quân Thanh năm 1789.
+ Đạt đến đỉnh cao: Trong suốt thời gian tồn tại từ (1771 – 1792) phong trào Tây
Sơn đã tiến từ xuất phát điểm thấp đến đỉnh cao của những sứ mệnh lịch sử dân tộc đó
là.
- Từ đấu tranh chống giai cấp phong kiến thống trị Đàng Trong – Đàng Ngoài
phong trào đã tiến tới xóa bỏ giới tuyến Sông Gianh, nối liền lãnh thổ thiêng liêng của
quốc gia và cao hơn nữa là đấu tranh đánh đuổi các thế lực ngoại Xâm là quân Xiêm và
Thanh bảo vệ độc lập dân tộc. Điều này đã phản ánh sự hoàn tất quá trình chuyển hóa
“từ một đội quân nông dân thành đội quân dân tộc”.
- Đặc biệt đỉnh cao của cuộc khởi nghĩa là đấu tranh bảo tồn và xây dựng đất nước
về mọi mặt (kinh tế, quân sự, chính trị, tâm lý xã hội, luật pháp, ngoại giao …), đã hé
mở lối thoát mới cho xã hội, tạo thế bản lề cho lịch sử sang trang.
- Như vậy tư tưởng yêu nước trong phong trào Tây Sơn và điển hình đó là vai trò
của lãnh tụ Nguyễn Huệ, ông đã bước ra khỏi mọi ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo
vốn dĩ đã ít nhiều xâm nhập vào tư tưởng tình cảm của nhân dân ta bấy giờ. Ông đã tiến
hành những cải cách như: Đưa chữ Nôm vào sử dụng trong học tập và ban hành chiếu
chỉ của triều đình; thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, chính sách cầu hiền nhằm chiêu
mộ và trọng dụng những người có tài để góp sức cho đất nước; Xây dựng quân đội
mạnh nhằm bảo vệ chủ quyền của dân tộc; với tất cả những việc làm này cũng xuất
phát từ lòng yêu nước cao cả của Nguyễn Huệ trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.
- Với những việc làm trên đã minh chứng cho chúng ta thấy được lòng yêu nước
trong phong trào Tây Sơn đã được đưa lên cao hơn bao giờ hết đó là: Đặt lợi ích dân
tộc, lợi ích nhân dân lên trên. Qúa trình này được thể hiện rõ trong bài Hịch Tây Sơn:
“Giận quốc phó ra lòng bội thượng
Nên tây Sơn xướng nghĩa cần vương
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp ghé
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng nhân sa chốn lầm than
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân …”
- Bên cạnh đó yêu nước trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn không chỉ là bảo vệ đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status