BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH
TẠI HÀ NỘI
Tên tình huống: “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
tại thị trấn Đình Cả, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữa ông
Hoàng Văn Thức và bà Nguyễn Thị Lan”
Học viên : ………………….
Chức vụ:
Chuyên viên
Đơn vị:
………………….
Hà Nội, năm 201…
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận tình huống này, tôi xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn của ……………… cùng các Thầy, Cô giảng viên, cán bộ quản lý
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cũng như sự động viên, hỗ trợ từ các bạn
đồng nghiệp.
Rất mong được sự góp ý của các Thầy, Cô và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn.
6
16
17
18
21
21
21
23
25
25
25
26
27
MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường, người ta
coi đất đai là hàng hoá đặc biệt. Câu nói “tấc đất, tấc vàng” nói lên sự quý giá
ở tầm mức cao nhất của đất đai thực ra cũng không đủ. Nếu nói dưới góc độ
3
giá trị lịch sử - xã hội : “mỗi tấc đất đều nhuốm máu cha ông”; đất đai là
“giang son gấm vóc” thì sự thiêng liêng, quý giá ấy khó lấy thước đo nào mà
định giá.
Trong quá trình vận động của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị
trường, nhiều vấn đề bức xúc xảy ra hàng ngày. Trong đó đứng đầu là vấn đề
tranh chấp đất đai. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là dân không có thói
quen cắm cột mốc, quá trình sử dụng bị sai lệch hoặc chuyển nhượng, tặng
cho không làm đày đủ các thủ tục càn thiết, hợp lệ. Hệ thống hồ sơ địa chính,
đặc biệt là bản đồ địa chính chính quy chưa đày đủ, thiếu đồng bộ, thống nhất,
và tìm hiểu thực tế, tôi lựa chọn tình huống “Giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất tại thị trấn Đình Cả, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữa ông
Hoàng Văn Thức và bà Nguyễn Thị Lan” làm chủ đề tiểu luận tình huống cuối
khóa học.
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1.1. Hoàn cảnh xuất hiện tình huống
Vào một ngày năm 2017, trong cuộc họp giao ban, tôi được đồng chí
lãnh đạo giao nhiệm vụ trực tiếp tìm hiểu tình hình, tham gia tổ giải quyết vụ
5
việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại thị trấn Đình Cả, huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên giữa ông Hoàng Văn Thức và bà Nguyễn Thị Lan.
Chúng tôi xác định giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai là một trong
những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nội dung
của công tác quản lý Nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật về đất
đai. Thực hiện tốt nội dung này không những góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, mà còn góp phần đáng kể
trong việc giữ gìn ổn định sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, hàn gắn tình
đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự và ngăn ngừa hành vi
vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể xảy ra, đảm bảo trật tự xã hội cũng
như củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, làm căn cứ để
điều chỉnh và xây dựng các chính sách quản lý phù hợp, đóng góp tích cực
vào sự phát triển chung của địa phương trong giai đoạn mới.
1.2. Mô tả tình huống
Tháng 8 năm 1994, UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai nhận được đơn
xin giải quyết tranh chấp đất đai của bà Nguyễn Thị Lan trú tại thị trấn Đình
Đại và bà Ngô Thị Hương trong năm 1995. Tới năm 1996, ông Thức tiếp tục
bán cho ông Nguyễn Văn Luyện 2.040 m2, diện tích này đang nằm trong diện
tranh chấp. Việc mua bán này chưa được UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai
xác nhận và cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy qua hai năm ông Thức đã bán cho ba hộ nói trên số ruộng với
tổng diện tích là 5.370 m2 trong đó có 2.730 m2 đất tranh chấp. Hiện nay ông
Thức còn sử dụng 4.150 m2, trong đó có 770 m2 đất đang tranh chấp với bà
Lan. Cho tới nay số diện tích trên chưa được cấp có thẩm quyền giao và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qua điều tra, xác minh cho thấy nguồn gốc của số ruộng đất kể trên
như sau:
Phần diện tích tranh chấp 3.500 m2 nằm trong tổng số 9.520 m2 do hộ
ông Thức sử dụng. Toàn bộ diện tích này trước đây là của ông Thắng (bố ông
Thức). Năm 1960 ông Thắng công hữu vào họp tác xã. Đến năm 1970 có thực
trạng các họp tác xã không còn hoạt động nữa, song UBND xã Thần Sa,
huyện Võ Nhai vẫn tiếp tục quản lý toàn bộ đất canh tác. Lúc đó các hộ tự sản
7
xuất trên diện tích của mình mà trước đây đã góp vào HTX nhưng không
được phép chuyển nhượng, gia đình ông Thắng cũng nằm trong bối cảnh đó.
Năm 1974 bà Lan được về nghỉ hưu trí tại địa phưong. Ông Thắng đã
chia cho bà 3.500 m2 đất ruộng để canh tác tăng thêm thu nhập cho kinh tế
gia đình vốn có khó khăn. Sau đó ông Thắng đề nghị UBND xã Thần Sa,
huyện Võ Nhai chuyển số diện tích trên cho bà Lan và đã có tên trong sổ quy
chủ, sổ thuế của xã (theo báo cáo của ông Lê Văn Đăng - nguyên Chủ tịch
kiêm Bí thư Đảng uỷ xã giai đoạn 1970-1977)
Năm 1976 ông Thắng làm giấy giao ruộng cho bà Lan. Điều này được
bà Phó Chủ tịch UBND xã Thần Sa, huyện Võ Nhai ký xác nhận ngày
03/12/1976, có một số người khác chứng kiến. Theo hồ sơ, bà Lan được chia
trên cơ sở pháp luật đất đai, nguồn gốc đất đai; đồng thời cũng tạo cơ sở nhằm
phân tích cho các bên chấp nhận một phương án giải quyết hợp lý, vừa có lý,
vừa có tình, đem lại sự công bằng và hoà thuận trong nhân dân.
2.2. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở phân tích hồ sơ tài liệu, các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật đất đai, có thể thấy đất đai thuộc quyền quản lý của Nhà nước, để có thể
nhận thức rõ hơn xin được đưa ra một số khái niệm như sau:
* Quản lý Nhà nước: là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập
pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại
của Nhà nước.
Nói cách khác: Quản lý Nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các
chủ thể mang quyền lực Nhà nước tới các đối tượng quản lỷ nhằm thực hiện
các chức năng đổi nội và đối ngoại của Nhà nước. Như vậy, tất cả các cơ quan
Nhà nước đều làm chức năng quản lỷ Nhà nước.
Trong quản lý xã hội thì quản lý Nhà nước có các đặc điểm sau:
- Chủ thể quản lý nhà nứơc là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực
hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đối tượng của quản lý Nhà nước là toàn thể nhân dân sóng và làm
việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Quản lý Nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao ... nhằm
thoả mãn nhu càu hợp pháp của nhân dân.
11
- Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là
phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý Nhà nước nhằm duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội.
* Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật:
một trong những nội dung quan trọng của pháp chế là quản lý nhà nước bằng
pháp luật, pháp luật là cơ sở chủ yếu của quản lý Nhà nước.
Như vậy có thể hiểu: Pháp chế là những yêu cầu, đòi hỏi các cơ quan
Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vú trang nhân dân và
mọi công dân phải tuân thủ, chấp hành, thực hiện đúng đắn nghiêm chỉnh
pháp luật trong mọi hoạt động, hành vi, xử sự của mình; đồng thời không
ngừng đẩu tranh phòng ngừa, chổng các tội phạm và các vi phạm pháp luật
khác, xử lỷ nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật.
Pháp chế và pháp luật xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ mật thiết vói
nhau. Là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất với nhau. Pháp luật
chỉ có thể phát huy hiệu lực của mình, điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã
hội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế và ngược lại. Pháp chế chỉ
có thể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật hoàn thiện
về nội dung và hình thức. Pháp luật là tiền đề của pháp chế. Nhưng để có
pháp chế, bên cạnh hệ thống pháp luật hoàn thiện phải có sự tuân thủ, chấp
hành, sử dụng pháp luật thường xuyên liên tục, nghiêm minh của mọi cơ
quan, tổ chức và công dân.
* Quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính nhà nước là hoạt
động tác động bằng quyền lực pháp luật của nhà nước, được thực hiện bởi các
cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành các văn
bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức, chỉ đạo một
cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc kinh tế, văn hoả - xã hội và hành
chỉnh - chỉnh trị. Nói cách khác quản lý hành chỉnh nhà nước là hoạt động
chấp hành - điều hành của nhà nước.
- Tính chất chấp hành thể hiện ở chỗ mọi hoạt động đều được tiến hành
trên cơ sở pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế.
- Tính chất điều hành được thể hiện ở chỗ bảo đảm cho các văn bản
pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế, các
chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải được tiến hành hoạt động tổ chức
13
nước và người sử dụng đất; nhằm mục đích sử dụng đất đai họp lý, hiệu quả.
Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và người sử dụng đất.
14
Nhận thấy được ý nghĩa to lớn của hoạt động quản lý Nhà nước về đất
đai; pháp luật về đất đai trong thời gian qua đã không ngừng được sửa đổi, bổ
sung và điều chỉnh các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai cho phù họp với
yêu càu mới của nền kinh tế xã hội.Trên cơ sở kế thừa và phát triền các nội
dung về quản lý Nhà nước đã được ghi nhận trong Luật đát đai 1993; luật đất
đai 2003 đặc biệt quan tâm đến một số nội dung quan trọng trước thực tế cuộc
sống đòi hỏi càn phải quản lý mà pháp luật đất đai trước đây chưa đề cập hoặc
đề cập chưa cụ thể, rõ ràng như: thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm đát đai;
giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
2.3. Phân tích diễn biến tình huống
Trên cơ sở phân tích hồ sơ tài liệu, các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật đất đai, có thể thấy tính chất phức tạp của vụ việc tranh chấp đất đai nói
trên, vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, diễn biến kéo dài nhiều năm, qua
nhiều cấp ngành xử lý, giải quyết, song chưa dứt điểm, gây dư luận không tốt
trong nhân dân.
Về tranh chấp đất đai, tại khoản 2 điều 38 luật đất đai năm 1993 đã quy
định: "Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có
giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền thì do UBND giải quyết theo
quy định sau đây:
- UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh
chấp giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân hộ gia đình với tổ chức,
giữa tổ chức với tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc quyền quản lý cuả mình.
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Tmng ương giải quyết các tranh
chấp, giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân nếu tổ
chức đó thuộc quyền quản lý của mình hoặc Tmng ương.
- Tại điều 2, luật đất đai năm 1993 quy định: "Nhà nước không thừa
nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện
chính sách đất đai của Nhà nước ...". Như vậy việc ông Thức đòi lại diện tích
770 m2 đất nông nghiệp mà bà Lan đang sử dụng là trái với quy định này.
- Tại điều 6 khoản 7 Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ
quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định,
lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp như sau: "Đối tượng được giao đất
16
nông nghiệp là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phưong. Đối với cán
bộ, công nhân viên chức nhà nước nghỉ mất sức, phải nghỉ việc do tinh giản
biên chế chỉ được hưởng trợ cấp một lần... Nếu có nhu càu sử dụng đất để sản
xuất nông nghiệp thì UBND xã, phường căn cứ vào quỹ đất của địa phương
xét và đề nghị UBND huyện, thị xã, thành phố giao đất...". Tại điểm 1 điều 5
của Chỉ thị số 06/CT-TU ngày 20/4/1990 của Tỉnh uỷ Bắc Thái (trước đây) và
Quyết định số 106/QĐ-ƯB của UBND tỉnh Bắc Thái ban hành ngày
09/5/1990 có quy định: Ruộng đất là sở hữu của Nhà nước, không có khái
niệm mộng ông cha, mộng tổ, mộng cũ. Không giao mộng đất cho hộ phi
nông nghiệp... Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên cho thấy việc giải quyết
của UBND huyện Võ Nhai tại quyết định số 125/QĐ-UB ngày 28/11/2001 là
không đúng pháp luật.
- Trong quá trình xem xét giải quyết vụ tranh chấp, các cấp các nghành
chức năng của huyện Võ Nhai đã thiếu thận trọng, thiếu hiểu biết về pháp luật
đất đai, do đó có những sai sót trong việc xử lý giải quyết, gây ra tranh chấp
kéo dài và ngày càng phức tạp.
- Bản thân ông Thức cũng như vợ ông Thức đều là cán bộ viên chức
nhà nước, không thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp theo quy định tại
Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993. Đối với số diện tích trước đây ông Thắng
(bố ông Thức) theo chính sách đất đai của Nhà nước đã góp vào HTX có
hộ trên, gây nên dư luận không tốt trong quần chúng.
18
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
Mục tiêu xử lý tình huống là giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp đất đai
giữa các hộ trên và giúp các bên hiểu, chấp nhận một phương án giải quyết
hợp lý, vừa có lý, vừa có tình, đem lại sự công bằng theo pháp luật và sự hoà
thuận trong nhân dân.
3.2. Đề xuất các phương án
Qua quá trình xem xét, phân tích hồ sơ tài liệu, các số liệu xác minh,
thu thập được, có thể nghĩ đến một số phương án giải quyết vụ việc tranh
chấp trên như sau:
* Phương án 1: Giao cho bà Lan quản lý và sử dụng diện tích 3.500 m2
đất nông nghiệp.
Phương án này không hợp lý vì mặc dù bà Lan đã được ông Thắng (bố
ông Thức) chia cho 3.500 m2 và đã có tên trong sổ quy chủ của xã, tuy nhiên
bà Lan từ năm 1974 đến năm 1993 chỉ sử dụng diện tích 770 m2 ở thửa 170
thuộc tờ bản đồ địa chính số 20. Do đó không thể giao số diện tích 3.500 m2
này cho bà Lan. Hơn nữa bà Hương hiện nay đang sử dụng diện tích 690 m2
ở thửa 80, tờ bản đồ địa chính số 20 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, hàng năm bà vẫn đóng và nộp thuế đầy đủ.
* Phương án 2: Giao cho ông Thức quản lý và sử dụng diện tích 3.500
m2 đất nông nghiệp.
Phương án này cũng không hợp lý vì diện tích 3.500 m2 trước đây là
của ông Thắng (bố ông Thức) sử dụng, qua các thời kỳ thay đổi chính sách
đất đai của Nhà nước, diện tích đó không thuộc quyền quản lý của ông Thắng
nữa. Mặt khác, khi có chủ trương thay đổi vể hình thức tổ chức quản lý trong
+ Không chấp nhận việc bà Nguyễn Thị Lan đòi quyền sử dụng đối
với diện tích 3.500m2 đất nông nghiệp do ông Hoàng Văn Thắng chia cho bà
vào năm 1976 (vì các căn cứ đã phân tích ở trên)
- Căn cứ các quy định tại Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 và Nghị
định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 quy định và bổ sung một số điều về
việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, hộ bà Lan không thuộc diện đối tượng
20
được giao đất nông nghiệp do bà không có hộ khẩu thường trú tại xã Thần Sa,
huyện Võ Nhai. Nhưng xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế có nhiều khó
khăn, để đảm bảo cho gia đình bà đỡ thiệt thòi, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo
UBND huyện Võ Nhai tiến hành thủ tục thu hồi diện tích 770 m2 đất nông
nghiệp mà ông Hoàng Văn Thức đang sử dụng, giao cho hai hộ con trai bà
Nguyễn Thị Lan là ông Bùi Văn Lâm và ông Bùi Xuân Trường để sử dụng
vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Hiện nay hai hộ này có hộ khẩu thường
trú tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai nhưng có ít diện tích canh tác, thực sự có
nhu càu sử dụng để sản xuất nông nghiệp.
- Do bà Hương đã có đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thực tế bà Hương đã quản lý, sử dụng và đóng thuế từ năm 1995
đến nay. Vì vậy đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét và cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hương diện tích là 690 m2 ở số thửa là
80, thuộc tờ bản đồ địa chính số 20.
- Diện tích còn lại 2.040 m2 có số thửa 145, thuộc tờ bản đồ địa chính
số 20 giao cho ông Hoàng Văn Thức quản lý và sử dụng. Ông Thức có trách
nhiệm quản lý và sử dụng diện tích đất trên có hiệu quả theo quy định của
Luật đất đai năm 2003.
21
tiên là cấp xã, phường tổ chức giải quyết ngay theo thẩm quyền cuả mình mà
22
pháp luật quy định, tránh để tồn đọng kéo dài gây mất đoàn kết trong nhân
dân.
- Khi đã giải quyết thì phải giải quyết triệt để trên cơ sở hợp pháp, họp
lý. Ngay sau khi giải quyết tranh chấp ổn thoả phải tiến hành việc hoàn chỉnh
các hồ sơ địa chính càn thiết có liên quan, để tránh có sự tranh chấp tiếp theo
mang tính dây chuyền. Đây chính là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý đất
đai sau này.
- Tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật đất đai nói riêng và các
pháp luật nói chung trong nhân dân bằng nhiều hình thức, nhằm giáo dục mọi
người có ý thức chấp hành đúng các chính sách pháp luật của nhà nước. Đồng
thời cấp uỷ và các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm đến công tác địa
chính một cách thoả đáng để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vấn đề đặt ra.
- Chính quyền địa phương cần cụ thể hoá bằng pháp luật đối với những
vấn đề được Trung ương uỷ quyền một cách kịp thời, phù họp với tình hình
kinh tế, xã hội ở địa phương.
- Phải tăng cường xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, đáp ứng
yêu cầu quản lý và điều hành các mặt hoạt động của địa phương. Tiếp tục kiện
toàn hệ thống cơ quan quản lý đất đai, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ công chức, quản lý đất đai trên địa bàn đáp ứng yêu càu quản lý đất đai trong
tình hình mới. Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp hoạt động, phân định
rõ trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý đất đai giữa các ngành, các cấp, khắc
phục tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống trong quản lý đất đai.
- Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Làm tốt công tác tuyên truyền
phổ biến giáo dục pháp luật đất đai, nâng cao ý thức pháp luật đất đai. Công
khai, minh bạch hoá các văn bản của Nhà nước liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của người sử dụng đất. Tập trung xử lý dứt điểm những vấn đề lịch sử để lại
trong quản lý, sử dụng đất đai, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử
quyết hết các trường họp tồn đọng, không để kéo dài, phức tạp thêm
24
KẾT LUẬN
Qua phân tích vụ việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
giải quyết tranh chấp đất đai trên, có thể rút ra kết luận là:
Một là, việc quản lý đất đai chặt chẽ, xét cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đúng quy định, đầy đủ cơ sở là cực kỳ quan trọng, đây chính là một
trong những nguyên nhân gây nên khiếu kiện phức tạp kéo dài.
Hai là, công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai là một trong
những nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Các vụ
việc đã được giải quyết thì phải tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc kịp thời
để không xảy ra khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc, làm phát sinh những quan
hệ khiếu kiện mới phức tạp hơn.
Thực hiện tốt các nội dung này không những góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, mà còn góp phần đáng
kể trong việc phát triển kinh tế, đảm bảo trật tự xã hội cũng như củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
25