Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ trên địa bàn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 58

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến Học viện Khoa học xã hội, các
khoa, phòng, đơn vị của Học viện, Cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại Đà
Nẵng, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi về chuyên
môn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ Chính sách công với đề tài “Thực hiện
chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ trên địa bàn thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Như Hoài, Viện KHXH vùng Trung Bộ.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô.
Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Tổ
chức Thành ủy Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã tạo điều kiện để tôi có thể tham
gia khóa học và hoàn thành luận văn. Tôi xin cảm ơn đồng nghiệp tại các
phòng, ban, đơn vị có liên quan của Thành phố Tam Kỳ đã cung cấp số liệu,
tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu hoàn thành luận văn.
Tôi đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để hoàn thành luận văn. Tuy
nhiên trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế, kính mong nhận được sự đóng góp, chia sẻ từ quý thầy, cô và đồng
nghiệp quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Chính sách công về “Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực
và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên


của thành phố Tam Kỳ...................................................................................... 54
3.3. Giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
của thành phố Tam Kỳ...................................................................................... 55
3.4. Một số kiến nghị, đề xuất........................................................................... 61
KẾT LUẬN.....................................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

BBT

Ban Bí thư

BCT

Bộ Chính trị

BCH

Ban Chấp hành

BTV

Ban Thường vụ



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
hiệu

Tên bảng

Trang

2.1

Kết quả thu hút, tuyển dụng của thành phố Tam Kỳ giai
đoạn 2010-2019

32

2.2

Kết quả quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp thành phố
nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020

35

2.3

Kết quả quy hoạch CB lãnh đạo, quản lý cấp xã. phường
nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020

36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc” [52, tr.269], “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay
kém”[53, tr.240]. Quán triệt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo công
tác cán bộ, đã dày công xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm
chất và năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số và 50% lực lượng lao
động xã hội, phụ nữ đã và đang tích cực tham gia vào hầu hết các lĩnh vực
hoạt động, có những đóng góp to lớn trong công cuộc phát triển đất nước. Vì
vậy, xây dựng và phát triển đội ngữ cán bộ nữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và đề cao vai trò của cán bộ, công
chức nữ trong công tác cán bộ. Nhiều chủ trương của đảng và chính sách của
nhà nước đã thể hiện rõ nhận thức và quan điểm về cán bộ, công chức nữ.
Hiệu quả từ những chủ trương, chính sách của Đảng đã tác động tích cực đến
công tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ, công chức nữ nói riêng. Cán
bộ, công chức nữ ngày càng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Hầu hết
các cơ quan, đơn vị, lĩnh vực ngành nghề nào cũng đều có cán bộ, công chức
nữ tham gia.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác CB, CC nữ vẫn gặp phải
nhiều rào cản, bất cập, ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ và vị trí của CB, CC nữ tham
gia công tác ở các cơ quan, đơn vị và địa phương. Nhiều địa phương, các cấp,
các ngành chưa thật sự quan tâm đến công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử đối với nữ. Tỉ lệ
cán bộ, công chức nữ được bầu cử vào hội đồng nhân dân các cấp, vào các
cấp ủy đảng so với quy định còn thấp. Tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở

1


Vấn đề cán bộ, công tác cán bộ nói chung và thực hiện chính sách
phát triển CB, CC nữ nói riêng luôn là mối quan tâm của các nhà hoạch
định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu khoa học. Có nhiều công
trình nghiên cứu của rất nhiều tác giả đã được công bố liên quan đến vấn
đề này dưới các góc độ khác nhau:
Võ Thị Mai (2003), “Vai trò của nữ CB quản lý nhà nước trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và (1997) “Phụ nữ tham gia lãnh đạo
quản lý”, đã đánh giá thực trạng của việc nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, nêu
hướng phát triển của cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ. Đồng thời đã đưa ra các
giải pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ CB, CC nữ trong thời gian tới.
Trong nghiên cứu 10 năm sau của Võ Thị Mai (2013), “Vấn đề sử dụng
nhân tài là CB nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị”, tiếp tục phân
tích, luận giải về các vấn đề sử dụng phụ nữ có năng lực vào các vị trí lãnh
đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) trong luận văn thạc sĩ “Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo thực hiện công tác CB nữ từ năm 1986 đến năm 2001”, đã
thống kê số liệu về hoạt động của Đảng, các bộ, ngành trong việc tạo điều
kiện, khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo chính trị của phụ nữ. Tác
giả đã phân tích kỹ những vấn đề liên quan đến thể chế chính trị.
PGS.TS Đỗ Thị Thạch (2013), “Tăng cường tham gia của phụ nữ vào
lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” in trong Tạp chí cộng sản, Trung ương
Đảng Công sản Việt Nam đã phân tích kỹ về vai trò, sự đóng góp, điểm mạnh
và điểm yếu của phụ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý.
Nguyễn Đức Hạt (2009), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của CB nữ
trong HTCT”, nghiên cứu này trên cơ sở lý luận về các vấn đề có liên quan
đến cán bộ nữ, thực tế về vị thế của CB, CC nữ trong bộ máy nhà nước tại
Việt Nam, đã khái quát các yếu tố tác động đến vấn đề trên. Qua đó, công


trình nghiên cứu đã đề cập cụ thể, chỉ ra các giải pháp để tập trung vào việc

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chính sách phát triển đội ngũ
CB nói chung, chính sách phát triển đối với đội ngũ CB, CC nữ nói riêng.
- Đánh giá thực trạng thực thực hiện chính sách phát triển CB, CC nữ
trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, qua đó chỉ ra những mặt
mạnh và hạn chế cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu và kiến nghị thực hiện có hiệu quả
chính sách phát triển CB, CC nữ trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển CB, CC nữ ở thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển
CB, CC nữ của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (trừ viên chức sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo và
Y tế của thành phố) trong công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, luân
chuyển và bổ nhiệm cán bộ, giới thiệu cán bộ ứng cử.
- Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách CB, CC nữ khoảng
thời gian từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2019; đồng thời đề xuất các giải pháp
hoàn thiện chính sách phát triển CB, CC nữ giai đoạn 2019 - 2025 và những
năm tiếp theo ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được hoàn thành dựa trên hệ thống quan điểm triết học của


Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của

- Làm rõ yêu cầu khách quan phải thực hiện chính sách phát triển CB,
CC nữ trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện
nay, từ đó đánh giá, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và vận dụng hiệu quả chính
sách phát triển CB, CC nữ trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hướng đến xây dựng được đội ngũ CB, CC nữ đảm bảo số lượng, cơ cấu và
chất lượng như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra; đồng thời phát huy
vai trò của CB, CC nữ vào sự phát triển chung của thành phố.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được sử dụng trong thực tế công việc
hàng ngày của bản thân học viên và là cơ sở để tham mưu cho Ban Thường
vụ Thành ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Tam Kỳ trong quá trình lãnh
đạo, điều hành thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính sách phát triển
CB, CC nữ nói riêng.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong thực hiện chính
sách cán bộ đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ ở
nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức
nữ trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp thực hiện chính sách
phát triển cán bộ, công chức nữ trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
trong giai đoạn tới.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NỮ

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;
công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh


chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” [56, tr.2-3]
1.1.2. Cán bộ, công chức nữ
Luận văn xác định khái niệm CB, CC nữ là CB, CC được quy định
trong Điều 4, “Luật cán bộ, công chức năm 2008” có giới tính là nữ.
1.1.3. Chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
Chính sách phát triển CB,CC nữ được hiểu là các quyết định chính trị
của Nhà nước về phát triển CB,CC nữ nhằm xây dựng đội ngũ CB, CC ngày

bản thân của chính người phụ nữ cũng phải vươn lên, phải khẳng định mình,
có như vậy mới có được quyền bình đẳng cho phụ nữ.
Bình đẳng giới đã được quy định rõ trong Luật Bình đẳng giới năm
2006, Khoản 3, Điều 5 “ Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó.”[55]. Đồng thời vấn đề bình đẳng giới còn được thực
hiện thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành
các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng,
chống bạo lực gia đình đến năm 2020... nhằm đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính
trong gia đình.
Luận văn xác định bình đẳng giới trong chính sách cán bộ là việc cán
bộ, công chức cả nam và nữ trong hệ thống chính trị đều có vai trò, vị trí như
nhau, được tạo mọi điều kiện và cơ hội ngang nhau, được thụ hưởng các


quyền lợi mà chủ trương của đảng, chính sách của nhà nước đề ra trong công
tác cán bộ nói chung, trong đó có CB, CC nữ để phát triển.
1.2. Lý luận chung về chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
1.2.1. Mục tiêu chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
Việc xây dựng đội ngũ CB,CC nói chung và đội ngũ CB, CC nữ nói
riêng có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực là nhiệm
vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng
và Nhà nước ta. Tại Đại hội XII của Đảng ta cũng đã tiếp tục đề cập đến vấn
đề bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ được nâng cao trình độ cũng như
đời sống để phát triển tài năng của mình. Chính sách phát triển CB,CC nữ bao
gồm: tuyển dụng, thu hút, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm,
luân chuyển… và một số chế độ đãi ngộ khác. Một số nội dung chủ yếu trong

1.2.2. Nội dung của chính sách phát triển cán bộ, công chức nữ
Một là, chính sách thu hút, tuyển dụng đối với CB, CC nữ: đây là hoạt
động của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước nhằm chọn những người nữ
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào công tác trong các cơ quan Nhà nước. Tuyển
dụng là khâu đầu tiên trong công tác cán bộ, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của địa phương, đơn vị. Chính sách tuyển dụng CB, CC trong đó có CB,
CC nữ đảm bảo theo đúng các văn bản quy định của cấp trên, thực hiện đúng
theo các nguyên tắc, điều kiện của việc tuyển dụng, không tuyển dụng CB,
CC chưa đảm bảo các quy định của cấp trên. Tuyển dụng phải căn cứ vào vị
trí việc làm. Trong công tác tuyển dụng chú ý đến việc tuyển dụng CB, CC
nữ, sau tuyển dụng nên có chính sách ưu tiên trong việc bố trí, sử dụng đối
với CB, CC là nữ. Xác định rõ mục tiêu về vị trí công tác, số lượng, cơ cấu
CB, CC nữ từ việc tuyển dụng để tạo được nguồn cán bộ, công chức nữ dồi


dào cho việc bố trí, sử dụng và phát triển sau này. Đây là bước đầu tiên và
quan trọng nhất trong việc thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính
sách phát triển CB, CC nữ nói riêng.
Hai là, chính sách quy hoạch đối với CB, CC nữ: sau khi thực hiện
tuyển dụng, bố trí, sử dụng, theo dõi nhận xét, đánh giá cán bộ, nhằm chuẩn
bị một đội ngũ CB, CC nữ đảm bảo để kế thừa và phát triển thì phải tiến hành
thực hiện chính sách quy hoạch đối với cán bộ, công chức nữ. Có quy hoạch
CB, CC nữ mới có thể xây dựng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB, CC
nữ. Trong quy hoạch cán bộ phải đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch,
đảm bảo cơ cấu 3 độ tuổi, cơ cấu cán bộ nữ, cán bộ trẻ trong quy hoạch. Có
kế hoạch rà soát, thống kê đội ngũ CB, CC nữ hiện có ở các cơ quan, đơn vị,
dự kiến và xác định một số ngành, nghề, vị trí cần bố trí CB, CC nữ. Trên cơ
sở đó, thực hiện giới thiệu quy hoạch và đưa vào quy hoạch cho đúng định
hướng, đảm bảo quy định. Thực hiện tốt việc quy hoạch CB, CC nữ sẽ tạo
tiền đề cho việc thực hiện các chính sách khác trong việc thực hiện chính sách

trương đảng, chính sách của nhà nước về cơ cấu CB, CC nữ theo quy định. Đề
bạt, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử đúng, kịp thời đối với CB, CC nữ sẽ giúp CB,
CC nữ có điều kiện để thể hiện, phát huy được năng lực, sở trường công tác,
phục vụ tốt hơn trong công tác và trong xây dựng địa phương, đất nước.
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển cán
bộ, công chức nữ
Công tác cán bộ luôn là vấn đề được coi là “then chốt" và quyết định
mọi vấn đề trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước. Ðầu tư xây
dựng đội ngũ CB, CC là đầu tư cho phát triển bền vững; Xây dựng đội ngũ
CB, CC trong đó có công tác CB, CC nữ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là
công việc hệ trọng mà Ðảng và phải tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa
học, chặt chẽ và hiệu quả. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến cán bộ và


đặc biệt là chính sách đối với nữ và cán bộ nữ, quan điểm này được thể hiện
xuyên suốt bằng việc cụ thể hóa trong các văn bản trong quá trình lãnh đạo,
thực hiện việc xây dựng và phát triển.
Hiến pháp đầu tiên vào năm 1946 của nước Việt Nam đã khẳng định:
“Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện”. [46]
Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam vào năm 1959 tiếp tục khẳng
định cụ thể hơn về phụ nữ “Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong tất cả
các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội”.[47]
Nghị quyết số 152-NQ/TW, ngày 10/01/1967 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa III “về một số vấn đề về tổ chức, lãnh đạo công tác phụ
vận” [1] đã nhấn mạnh, cụ thể các vấn đề về tổ chức lãnh đạo công tác phụ
vận của Đảng và công tác cán bộ nữ nhằm ngày càng nâng cao vai trò, vị thế
của phụ nữ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Chỉ thị số 37 - CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về “Một số vấn đề về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” [3] đã
nhấn mạnh đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng CB nữ, đẩy mạnh

tác cán bộ nữ. Cần quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ trẻ và phải xây dựng, hoàn
chỉnh có văn bản chỉ đạo thực hiện về công tác cán bộ nhằm bảo đảm việc
bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong việc thực hiện các khâu trong
chính sách cán bộ đối với phụ nữ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phù hợp trong
từng giai đoạn. Chỉ thị cũng đã chỉ rõ cần phải nghiên cứu tuổi nghỉ hưu đối
với một số nhóm lao động nữ cho phù hợp với pháp luật về lao động và quá
trình phát triển của đất nước ta.
“Luật bình đẳng giới” năm 2006 đã chỉ rõ việc nam, nữ bình đẳng trên
tất cả mọi lĩnh vực từ việc ứng cử, tham gia các hoạt động của nhà nước, của


xã hội và kể cả “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi
được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ
chức….”[55] .“Luật Bình đẳng giới”đã giúp nâng cao nhận thức về bình đẳng
giới cho mọi người, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc
thực thi luật. Luật đã đảm bảo cho phụ nữ có cơ hội được phát huy được khả
năng của bản thân, bình đẳng với nam giới khi tham gia mọi hoạt động của đời
sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý.
Nghị quyết Đại hội IX, X, XI của Đảng đều khẳng định phải thực hiện
tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các
hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp... và Nghị quyết
Đại hội lần thứ XII của Đảng đã tiếp tục đề cập đến việc “Nâng cao trình độ
mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng
giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng; tăng tỉ lệ cán bộ lãnh đạo,
cấp ủy là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ”. Đây chính là cơ sở
quan trọng để tăng cường, phát huy vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ nữ trong
hệ thống chính trị ở các cấp.
“Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (năm 2013)
cũng đã tiếp tục khẳng định về mọi mặt, công dân nam nữ đều bình đẳng như
nhau, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm về vấn đề này và gia đình, xã hội

đang đạt được nhiều kết quả, phụ nữ đã từng bước tự giác vươn lên, làm chủ
bản thân, làm chủ gia đình, làm chủ sự nghiệp của bản thân, số phụ nữ vượt
khó vươn lên làm chủ doanh nghiệp, doanh nhân nữ thành đạt… ngày càng
nhiều. Đặc biệt, trong bộ máy nhà nước số cán bộ, công chức nữ ngày càng
tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng; cán bộ, công chức nữ có học hàm, học
vị ngày ngày nhiều, có mặt ở hầu khắp các ngành nghề mà trước đây chỉ có
nam giới mới đảm nhiệm được, số lượng CB, CC nữ là kỹ sư, bác sĩ, là nhà



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status