Noi dung va chuong trinh VHDG Việt Nam - Pdf 58

về nội dung kiến thức văn học dân gian trong
nhà trờng Trung học cơ sở
Th.S. Nguyễn Việt Hùng
Khoa Ngữ văn - ĐHSP Hà Nội
Căn cứ để chúng tôi đánh giá nội dung, kiến thức phần văn học dân
gian (VHDG) trong nhà trờng THCS là sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn Trung
học cơ sở (THCS), cụ thể ở đây là SGK Ngữ văn 6 tập 1, Ngữ văn 7 tập 1 và
2. SGK đóng vai trò là vật liệu trụ cột trong việc xây dựng nội dung môn học,
nó có quan hệ chặt chẽ với Chơng trình. SGK là sự cụ thể hoá những kiến thức
của Chơng trình, do đó, muốn có SGK tốt thì cần phải có một Chơng trình tốt,
hợp lí. Do những sự điều chỉnh về mục tiêu, phơng hớng của Chơng trình mà
SGK hiện hành so với SGK cũ có sự thay đổi ở một số đơn vị kiến thức cơ
bản.
1. Nhận định chung
Hệ thống kiến thức VHDG của SGK THCS nh sau:
+ Kiến thức về các tác phẩm cụ thể.
+ Kiến thức bổ trợ về tác phẩm và thể loại (ở phần đọc thêm)
+ Kiến thức về thể loại (ở phần chú thích)
Có thể thấy rằng, Chơng trình và SGK vẫn nặng về giảng văn, kiến thức
VHDG cung cấp cho HS chủ yếu thông qua các bài giảng văn. Ngoài ra, HS
có thể thu nhận một số kiến thức bổ trợ ở trong SGK. Nhng vì phần VHDG
không có giờ tổng kết về từng thể loại, hay giờ ôn tập nên kiến thức mang tính
lí luận về VHDG không đợc thể hiện nhiều trong SGK. Có lẽ vì mục tiêu của
chơng trình THCS chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn
học nên việc trang bị kiến thức mang tính toàn diện, phong phú cha có điều
kiện để thực hiện.
SGK hiện hành không có bài khái quát cũng nh bài tổng kết về VHDG, các
bài giới thiệu về thể loại cũng không có. Những mảng kiến thức lí luận và văn
học sử VHDG sẽ đợc cung cấp ở những cấp học tiếp theo (lớp 10 PTTH, ở
Cao đẳng và Đại học với những chuyên ngành ngữ văn học). Nhng với những
ai không có điều kiện học ở các cấp học tiếp theo đó thì kiến thức về VHDG

bỏ quên, không đợc giới thiệu trong chơng trình và SGK Ngữ văn. Có thể đây
là quan điểm của ngời biên soạn nhng rõ ràng các dân tộc anh em cũng có
những thành tựu về VHDG rất đáng trân trọng và cần đợc giới thiệu nh những
bộ phận hợp thành chỉnh thể nền văn học Việt Nam (trong đó đặc biệt quan
trọng là VHDG Việt Nam).
2. Kiến thức về các thể loại văn học dân gian
2.1. Các thể loại truyện dân gian
Trong các thể loại truyện dân gian, chơng trình THCS có mặt 4 thể loại:
Truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cời, truyện ngụ ngôn. Thể loại thần thoại
không đợc đa vào vì cha có sự thống nhất trong quan niệm của các nhà nghiên
cứu và biên soạn SGK về thể loại này. Nh vậy, sự có mặt của các thể loại
2
truyện dân gian là khá đầy đủ. Số lợng tác phẩm của mỗi thể loại có thể hình
thành nên những tri thức cơ bản về từng thể loại.
a. Truyền thuyết
SGK Ngữ văn 6 tập 1 có 5 truyền thuyết : Con Rồng cháu Tiên, Thánh
Gióng, Bánh chng bánh giầy, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Sự tích Hồ Gơm. Các
truyền thuyết khá đa dạng về đề tài, chủ đề phản ánh nh: về nguồn gốc dân
tộc, truyền thống chống ngoại xâm, ca ngợi những anh hùng sáng tạo văn hoá,
đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu
Trong 5 truyền thuyết thì 4 truyện về thời đại Hùng Vơng, một truyện
về thời Hậu Lê. Thời đại Hùng Vơng là thời đại mở đầu lịch sử Việt Nam,
gắn với vấn đề nguồn gốc dân tộc và công cuộc dựng nớc, giữ nớc buổi ban
đầu của dân tộc. Chủ đề của các truyền thuyết đã bao quát đợc các vấn đề
trọng đại đặt ra với cộng đồng, dân tộc lúc bấy giờ, đó là:
- Giải thích nguồn gốc giống nòi.
- Giải thích tục làm bánh chng, bánh giầy thờ cúng ông bà
- Đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu
- ý thức và ớc mơ về ngời anh hùng chống ngoại xâm
- Giải thích hiện tợng lũ lụt, ca ngợi chiến công dựng nớc

và Lê Nh Hổ. Truyền thuyết đầu là trờng hợp phức tạp cả về chủ đề, kết cấu
và t tởng tác phẩm nên việc đa ra ngoài SGK THCS là hợp lí. Truyện thứ hai ở
phần đọc thêm mang tính chất bổ sung cho kiểu truyện về ngời tài có tài kì lạ.
b. Truyện cổ tích
SGK đa vào 5 TCT, trong đó có 2 truyện của nớc ngoài: Cây bút thần
(Trung Quốc) và Ông lão đánh cá và con cá vàng. Tác giả SGK đã lựa chọn
mỗi truyện đại diện cho một kiểu truyện tiêu biểu của TCT:
- Kiểu truyện về nhân vật đội lốt
- Kiểu truyện dũng sĩ
- Kiểu truyện nhân vật thông minh
- Kiểu truyện nhân vật có tài năng kì lạ
Trong 5 truyện đó có 4 truyện là thuộc tiểu loại TCT thần kì, 1 truyện là
TCT sinh hoạt (Em bé thông minh). Xét về khía cạnh tiểu loại, SGK không có
TCT về loài vật. Số lợng tác phẩm của SGK cũ là 10, với sự có mặt đầy đủ của
các tiểu loại.
c. Truyện cời
Truyện cời có 2 tác phẩm: Treo biển và Lợn cới áo mới, trong đó mỗi
truyện thuộc một tiểu loại truyện cời là truyện hài hớc (Treo biển) và truyện
châm biếm (Lợn cới áo mới).
Truyện Treo biển đã phê phán một cách nhẹ nhành cách ứng xử của anh
chủ quán, một ngời thiếu chủ kiến trong công việc. Tiếng cời mang tính chất
mua vui nhẹ nhàng và nó bật ra từ cả hai phía: ngời góp ý và ngời chủ quán.
Mỗi ngời góp ý đều chân thành và có lí nhng họ chỉ chú ý đến một khía
cạnh của tấm biển nên cuối cùng thì cả tấm biển đều không còn lại một chữ
nào. Qua đó, truyện muốn răn dạy con ngời phải suy xét sự việc, hiện tợng
một cách thấu đáo, toàn vẹn. Đó là lớp ý nghĩa mang tính triết học của mỗi
truyện cời mà khi nắm đợc sẽ khiến câu chuyện trở nên sâu sắc hơn.
Truyện Lợn cới áo mới là truyện châm biếm, tác giả dân gian đã khéo
léo sắp xếp tình huống để hai nhân vật bộ lộ tính cách khoe khoang của mình.
4

tác phẩm giảng văn và một tác phẩm đọc thêm (Đeo nhạc cho mèo). Đây là
những truyện ngụ ngôn khá quen thuộc, gắn với các câu thành ngữ trong lời
ăn tiếng nói của dân gian: Đeo nhạc cho mèo, ếch ngồi đáy giếng, Thày bói
xem voi Điều này khiến cho những bài học của truyện ngụ ngôn, những lời
quy châm dễ dàng đợc HS tiếp thu và những cách vận dụng thành ngữ trong
cuộc sống giúp cho HS củng cố kiến thức về tác phẩm ngụ ngôn đã học.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status