Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn huyện yên định, tỉnh thanh hóa - Pdf 58

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------

NGUYỄN VĂN HIỂN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA MỘT
SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN ĐỊNH,
TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------

NGUYỄN VĂN HIỂN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA MỘT
SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN ĐỊNH,
TỈNH THANH HÓA
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8.85.01.03

ii

LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được sự
quan tâm của nhà trường, cùng toàn thể các thầy, cô giáo, đến nay em đã hoàn
thành đề tài nghiên cứu "Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng của một số dư án trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa".
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo
cùng các thầy giáo, cô giáo người đã giảng dạy, đào tạo và hướng dẫn em; đặc
biệt là thầy giáo PGS.TS. Phan Đình Binh, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách
tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức viên chức
Phòng Tài nguyên - Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Ban
quản lý các dự án trên địa bàn huyện Yên Định; UBND Thị trấn Thống Nhất,
UBND xã Yên Thái đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên, khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày

tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hiển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

các thời kỳ ....................................................................................................... 20
1.3.2. Cơ sở pháp lý về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện hành..... 25
1.4. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng ở Việt Nam ...... 27
1.4.1. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại Việt Nam ......................................................................... 27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


iv

1.4.2. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại tỉnh Thanh Hóa ............................................................... 29
1.4.3. Những ưu, nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư thời gian qua ....................................................................... 31
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..... 35

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 35
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 35
2.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 36
2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp ..................................... 36
2.3.2. Phương pháp thu thập tài liệu thông tin sơ cấp ..................................... 36
2.3.3. Phương pháp chuyên gia ....................................................................... 36
2.3.4. Phương pháp thống kê, tổng hợp, viết báo cáo ..................................... 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 38

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; hiện trạng quản lý, sử dụng đất
huyện Yên Định .............................................................................................. 38

3.4.5. Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của ban bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư ........................................................................... 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 79

1. Kết luận ....................................................................................................... 79
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 81

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu

Các chữ viết tắt

BTGPMB

: Bồi thường giải phóng mặt bằng

BTHT

: Bồi thường, hỗ trợ

CN-TTCN




: Quyết định

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

SDĐ

: Sử dụng đất

TĐC

: Tái định cư

UBND

: Uỷ ban nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.

Bảng 3.8:

Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn tại 2 dự án
trước và sau khi thu hồi đất......................................................... 70

Bảng 3.9:

Kế hoạch sử dụng tiền bồi thường của người dân sau khi bị
thu hồi đất sản xuất ..................................................................... 71

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh quốc phòng. Đất đai là tài sản do Nhà nước thống nhất quản lý.
Đất đai là nguồn tài chính tiềm năng, nguồn nhân lực cơ bản để phát
triển kinh tế đất nước, nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Đất đai được coi là
một loại bất động sản, là một hàng hoá đặc biệt, vì những tính chất của nó như
cố định về vị trí, giới hạn về không gian, vô hạn về thời gian sử dụng và trong
quá trình sử dụng nếu sử dụng đất đai một cách hợp lý thì giá trị của đất
không những mất đi mà còn tăng lên.
Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc bồi thường đất

Yên Định là huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hoá nằm dọc theo sông
Mã. Trung tâm huyện cách thành phố Thanh Hóa 28 km về phía Tây bắc.
Huyện có đường quốc lộ 45 chạy qua. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để
Yên Định phát triển một nền kinh tế đa dạng, đồng thời có cơ hội tiếp cận
nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ cho công
cuộc công nghiệp hóa. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự
gia tăng dân số và việc hình thành các khu công nghiệp mới trên địa bàn
huyện đã gây áp lực lớn đối với đất đai đòi hỏi phải có cơ chế, giải pháp để
thực hiện công tác thu hồi đất, giao đất đảm bảo đúng pháp luật và đúng tiến
độ đặt ra.
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng
công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá” là rất cần thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng công tác thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng
và tiến độ thực hiện thông qua 2 dự án, cụ thể là dự án Trang trại chăn nuôi
bò sữa Vinamilk Organic Thanh Hóa tại Thị trấn Thống Nhất (DA1) và dự án
Nhà máy điện mặt trời xã Yên Thái (DA2).
- Phân tích tác động của việc thu hồi đất đến đời sống, việc làm, thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


3

nhập của người dân bị thu hồi đất tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Rút ra những ưu điểm và vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính
sách bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn huyện Yên Định.
- Đề xuất ý kiến, góp phần hoàn thiện và đẩy mạnh công tác bồi

đất (SDĐ) là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước
gây ra. Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;
iv) Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Điều này
chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền
lợi chính đáng của người dân;
v) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa trên
chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người
SDĐ. Như vậy, “kể từ đây quyền sử đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai
được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở
thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


5

cách khác, “Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện,
còn quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất”. Đặng Hùng Võ
(2010) cho rằng: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang
tính thuật ngữ,... Quyền lợi và nghĩa vụ sử dụng đất ở nước ta không khác so
với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”. Như vậy, khi
pháp luật đã thừa nhận quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của người
SDĐ, thì khi Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ.
1.1.1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1.1. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để hiểu rõ bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước

+ Bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất thực hiện theo giá thị trường.
Đối tượng được bồi thường: Không phải bất cứ người SDĐ nào bị Nhà
nước thu hồi cũng được bồi thường mà chỉ những chủ thể SDĐ thỏa mãn các
điều kiện do pháp luật đất đai quy định mới được Nhà nước bồi thường khi bị
thu hồi đất.
1.1.1.2. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ là một hành động thể hiện tinh thần đoàn kết tương thân, tương
ái thông qua sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần để giúp đỡ một thành viên hoặc
một nhóm người trong xã hội có thể vượt qua những khó khăn hay những rủi
ro mà họ gặp phải để sớm ổn định cuộc sống. Đây là một truyền thống văn
hóa tốt đẹp của người Việt Nam thể hiện sự nhân văn đối với đồng loại. Hoạt
động này được gọi là hỗ trợ. Hỗ trợ là: Giúp thêm, góp thêm vào (Hoàng Phê,
2000). Có thể hiểu hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ
hoặc chia sẻ bớt một phần khó khăn, rủi ro mà một thành viên hoặc một nhóm
người gặp phải trong cuộc sống. Hỗ trợ có thể phân loại thành hai dạng: hỗ
trợ về vật chất và hỗ trợ về tình thần.
Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai (2013) quan niệm: “Hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất và việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định
đời sống, sản xuất và phát triển”. (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Nguyên tắc hỗ trợ: Căn cứ vào khó khăn thực tế, hoàn cảnh, điều kiện
cụ thể của người bị thu hồi đất và khả năng tài chính của Nhà nước để xem
xét, ấn định mức hỗ trợ cho từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


7

Đối tượng được hỗ trợ: Người SDĐ bị thu hồi đất gặp khó khăn sẽ



8

phòng, an sinh xã hội và phát triển kinh tế; phát triển các cơ sở kinh tế, các
khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, khu đô thị, khi vui chơi
giải trí, công viên cây xanh. Qua đó làm tăng thêm khả năng thu hút đầu tư từ
các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, phục vụ phát triển kinh tế.
Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tốt làm tăng tiến
độ thu hồi đất góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công
nghiệp, dịch vụ. Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp,
Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản
xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới. Qua
đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm
việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ.
1.1.2.2. Đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của
người bị thu hồi đất
Việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người SDĐ để sử dụng vào các
mục đích khác nhau sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của những người bị thu hồi đất. Nếu không thực hiện tốt công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng là
trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị
thu hồi mang lại lợi ích cho cộng đồng thì trái ngược lại người bị thu hồi đất
lại rơi vào tình trang khó khăn về sản xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất
hoặc mất nhà ở.
Khi thay đổi nơi ở đó là phải chuyển đến khu tái định cư, việc quy
hoạch khu tái định cư không quan tâm đến phong tục tập quán sinh hoạt của
người dân dẫn đến nhiều khó khăn hơn cho người dân phải tái định cư, chất
lượng công trình tái định cư cũng là một trong những nỗi ám ảnh của người

quan trọng, công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư với mục tiêu không chỉ là
làm thế nào để thực hiện thu hồi đất một cách nhanh chóng mà phải tạo ra
được bài toán ổn định và phát triển bền vững cho người dân sau khi bị thu
hồi đất.
1.1.3. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1.3.1. Tính phức tạp
Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trọng đời sống
kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Đối với khu vực nông thôn, dân cư
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


10

chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu
sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng
chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được
đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản
xuất nhưng họ vẫn không cho thuê.
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau: Đất ở
là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người
dân mà tâm lý, tập quán của người dân là ngại di chuyển chỗ ở; nguồn gốc sử
dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác nhau, cơ chế
chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái
phép diễn ra thường xuyên.
1.1.3.2. Tính đa dạng
Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự
nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau. Khu vực thành thị, mật độ dân cư cao,
ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn, hoạt động sản xuất đa

đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết
quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của BTN&MT cho thấy UBND
các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận
thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất
yếu. Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải
quyết các vấn đề về đất đai. Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể
nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối
quan hệ về đất đai. Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm
tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp
luật về đất đai trên địa bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành
pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh
hưởng trực tiếp đến tiến độ giải phóng mặt bằng.
1.1.4.2. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ở nước ta hiện nay theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất
phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được
xét duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tái sản khác gắn liền với đất. Đăng ký quyền sử dụng đất là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


12

việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào
hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Hệ
thống hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có liên quan mật
thiết với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là một trong những yếu tố
quyết định khi xác định nguồn gốc, thời điểm bắt đầu sử dụng đất, đối tượng

bằng trong phân phối đất đai, để người sử dụng thực hiện nghĩa vụ của mình
và để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo pháp luật.
1.1.4.5. Định giá đất
Là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất đai
bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm xác định khi chúng tham gia trong một
thị trường nhất định. Vì vậy, về nguyên tắc việc định giá đất cũng như định
giá các tài sản thông thường nhưng đất đai là một tài sản đặc biệt, giá đất
ngoài các yếu tố về không gian, thời gian, kinh tế, pháp luật chi phối, nó còn
bị tác động bởi các yếu tố tâm lý xã hội. Cho nên, định giá đất được biểu hiện
là sự ước tính về giá trị của quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một
mục đích đã được xác định tại một thời điểm xác định. Việc định giá đất hiện
nay chủ yếu được sử dụng là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp
thu thập.
Theo qui định tại Luật Đất đai năm 2013, việc xác định giá đất phải
đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên
thị trường trong điều kiện bình thường. Thực tế cho thấy bảng giá đất các địa
phương công bố hàng năm chưa phù hợp với nguyên tắc trên dẫn tới các
khiếu kiện của người bị thu hồi đất và gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện
bồi thường giải phóng mặt bằng.
1.1.4.6. Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản là nơi buôn bán bất động sản mà ở đó có người
mua, người bán, người môi giới, người đại diện pháp lý để thực hiện các quan
hệ giao dịch về giấy tờ pháp lý, tài chính, giá cả, tiền tệ, hàng hoá - bất động
sản theo các quy định của nhà nước.
Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm
thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư. Người bị thu hồi đất có
thể tự mua hoặc thuê đất, công trình trên đất mà không bắt buộc phải thông
qua chính sách tái định cư của Nhà nước. Tuy nhiên giá đất để tính bồi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


1.2. Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số nước trên thế giới
1.2.1. Các trường hợp thu hồi đất
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu nên lợi ích công là điều
kiện tiền đề để áp dụng quyền thu hồi đất một cách hợp pháp. Việc thu hồi đất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


15

được thực hiện chặt chẽ để tránh sự lạm quyền của chính quyền địa phương.
Phạm vi đất bị thu hồi phục vụ cho lợi ích công gồm: đất phục vụ cho quân sự
- quốc phòng; các cơ quan nhà nước và các cơ quan nghiên cứu sự nghiệp;
công trình giao thông, năng lượng; kết cấu hạ tầng công cộng; công trình công
ích và phúc lợi xã hội, công trình trọng điểm quốc gia, bảo vệ môi trường sinh
thái và phục vụ cho các lợi ích công cộng khác theo quy định của pháp luật.
(Phương Thảo, 2018)
Ở Hàn Quốc, mặc dù đất đai là sở hữu tư nhân nhưng trong nhiều
trường hợp, Nhà nước có quyền thu hồi đất của người dân. Các trường hợp đó
là: thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh; dự án đường sắt,
đường bộ, sân bay, đập nước thủy điện, thủy lợi; dự án xây dựng trụ sở cơ
quan nhà nước, nhà máy điện, viện nghiên cứu; dự án xây dựng trường học,
thư viện, bảo tàng; dự án xây dựng nhà, xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu đô
thị mới, khu nhà ở để cho thuê hoặc chuyển nhượng. (Phương Thảo, 2018)
Ở Singapore, mặc dù có nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai
(sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân) song việc thu hồi đất chỉ được thực hiện để
sử dụng vào mục đích công cộng như: phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng công
trình phúc lợi xã hội; chỉnh trang đô thị... (Phương Thảo, 2018)
1.2.2. Trình tự, thủ tục thu hồi đất

kết quả thì cơ chế chiếm giữ đất đai bắt buộc được vận hành bằng thông báo
chính thức của Nhà nước về việc sử dụng đất đó vào mục đích công cộng trên
Công báo của Chính phủ Bang; (3) Chủ đất cũ bắt đầu thực hiện thủ tục đòi
bồi thường về đất; (4) Các thủ tục định giá đất theo thị trường được tiến hành;
(5) Chủ đất cũ có thể yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp
về giá bồi thường. (Phương Thảo, 2018)
1.2.3. Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất
Ở Trung Quốc, chỉ có Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền thu hồi đất. Công tác quản lý giải
phóng mặt bằng được giao cho Cục Quản lý tài nguyên đất đai tại các địa
phương thực hiện. Chủ thể được nhận khu đất sau khi được thu hồi sẽ thuê
một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó (thông thường là các đơn vị
chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa). (Phương Thảo, 2018)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status