Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
––––––––––––––––
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT
(Nghiên cứu trường hợp các văn bản diễn thuyết tại TP. Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN
HẢI PHÒNG-2017
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................. v
DANH MỤC BẢNG .........................................................................................vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI ............................................ 9
1.1. Phong cách chức năng ngôn ngữ ............................................................... 9
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 9
1.1.2. Các nhân tố hình thành ............................................................................. 9
1.1.3. Các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt ................................... 11
1.2. Khái quát về diễn thuyết và văn bản diễn thuyết ..................................... 13
1.2.1. Diễn thuyết ............................................................................................. 13
1.2.2. Văn bản diễn thuyết ............................................................................... 14
1.2.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ diễn thuyết .............. 19
1.3. Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ diễn thuyết ............................ 21
1.3.1. Yếu tố không gian, thời gian .................................................................. 21
1.3.2. Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của diễn giả .............................................. 22
1.4. Tiểu kết chương 1...................................................................................... 24
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ TRONG VĂN BẢN DIỄN THUYẾT .. 26
2.1. Một số đặc điểm chung về từ tiếng Việt liên quan đến nội dung
luận văn ........................................................................................................... 26
2.1.1. Khái niệm về từ trong tiếng Việt ........................................................... 26
2.1.2. Những góc độ nghiên cứu cơ bản của từ tiếng Việt .............................. 27
2.2. Đặc điểm của từ trong văn bản diễn thuyết .............................................. 31
2.2.1. Đặc điểm của từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ từ loại ..... 31
2.2.2. Đặc điểm của từ trong các văn bản diễn thuyết xét ở góc độ nguồn gốc .... 46
2.3. Nhận xét ..................................................................................................... 48
iv
2.4. Tiểu kết chương 2...................................................................................... 49
vi
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
2.1
2.2
3.1
Tên bảng
Kết quả khảo sát từ trong các văn bản diễn
thuyết
Kết quả khảo sát từ xét theo nguồn gốc
trong văn bản diễn thuyết
Kết quả khảo sát khuôn văn bản diễn thuyết
Trang
31
46
65
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Diễn thuyết trước công chúng là cách thức (nghệ thuật) trình bày
một vấn đề trước một nhóm người hay đám đông nhằm truyền tải thông tin
hoặc thông điệp làm cho người nghe hiểu, tin tưởng, bị thuyết phục và có thể
thay đổi hành vi theo định hướng của diễn giả. Diễn thuyết cũng giống một số
hình thức truyền thông khác, có các yếu tố cơ bản thường được biểu thị như:
điểm chung về đặc điểm văn bản cũng như những yếu tố chi phối trong quá
trình nói trước công chúng.
Quyển sách giáo khoa đầu tiên về chủ đề này được viết hơn 2.400 năm
trước, những nguyên lý được trình bày cặn kẽ trong đó đã được đem vào ứng
dụng qua trải nghiệm của những nhà hùng biện Hy Lạp cổ đại. Từ thời Ai
Cập cổ đại, người ta đã biết đào luyện nghệ thuật diễn thuyết trước công
chúng. Trong các môn học kinh điển ở Hy Lạp và La Mã, thuật hùng biện
(soạn và trình bày các bài diễn văn) chiếm phần chính và là một kỹ năng quan
trọng trong cuộc sống thường nhật, ở nơi công cộng hoặc chỗ riêng
tư. Aristotle và Quintilian đều bàn luận về thuật hùng biện và mục tiêu của
nó, với những quy luật và hình thái rõ ràng. Thuật hùng biện cũng được xem
là một phần trong giáo dục đại học tổng quan suốt thời Trung Cổ và thời Phục
hưng. Nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng đã được phát triển từ thời Hy
Lạp cổ đại. Người thời sau biết đến thuật hùng biện Hy Lạp qua những tác
phẩm cổ xưa. Nhà hùng biện Hy Lạp diễn thuyết với tư cách cá nhân hơn là
đại diện cho khách hàng hoặc cho cộng đồng, vì vậy bất cứ ai muốn thành
công tại tòa án, trong chính trường, hay trong đời sống xã hội đều phải học để
biết kỹ thuật nói chuyện trước đám đông. Mặc dù Hy Lạp đánh mất sự thống
trị về chính trị, kỹ năng huấn luyện nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng
của người Hy Lạp đã được người La Mã tiếp nhận rộng rãi. Cùng lúc với sự
trỗi dậy của nền Cộng hòa La Mã, những nhà hùng biện La Mã sao chép và
dung hòa những kỹ năng diễn thuyết trước công chúng của người Hy Lạp.
3
Người La Mã phát triển thuật hùng biện thành một giáo trình đầy đủ với
những hướng dẫn về ngữ pháp (nghiên cứu thi ca), thực hành kỹ năng, và
phương pháp soạn diễn văn cả trong hai thể loại thảo luận hay tranh luận công
khai. Cicero đã có ảnh hưởng sâu đậm trên thuật hùng biện theo phong cách
Latin, nhấn mạnh đến nền giáo dục tổng quan trong mọi lãnh vực của khoa
phương pháp của hình thái này thuộc môn truyền thông học từ lâu vẫn dựa
vào cấu trúc hùng biện cũng như sự phụ thuộc vào cử tọa. Tuy nhiên, những
tiến bộ trong khoa học kỹ thuật cung ứng cho diễn giả những thiết bị tinh vi
hơn, thí dụ như hội nghị trực tuyến và viễn thông. Hội nghị trực tuyến là một
trong những công nghệ hiện đại đã làm thay đổi cung cách truyền thông giữa
diễn giả và đại chúng.
4
Tác giả Isabela và Norman Fairclough đã xuất bản cuốn sách Political
discourse analysis – A method for advanced students (Phân tích thuyết chính
trị - Phương pháp cho sinh viên cao cấp). Bên cạnh công trình của các nhà
nghiên cứu tên tuổi như vậy, cũng phải kể đến các bài viết trên tạp chí của
một vài nhà nghiên cứu khác Junling Wang - một học giả Trung Quốc đã có
bài viết A critical discourse analysis of Barack Obama’s speeches (Phân tích
các cuộc thảo luận phê bình về những bài phát biểu của Barack Obama ),
trong đó Junling Wang đã sử dụng lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống
của M.K.A. Halliday nền tảng của CDA để phân tích hai bài diễn văn của
Tổng thống Obama (diễn văn chiến thắng 4/11/2008 và diễn văn nhận chức
20/1/2009)…v.v.
Còn rất nhiều cuốn sách nói về nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng
đã được các tác giả Việt Nam quan tâm và dịch như: Cuốn Nghệ thuật nói
chuyện trước công chúng của tác giả Stephen E. Lucas, người dịch: ThS.
Trương Thị Huệ - ThS. Nguyễn Mạnh Quang (2011), NXB Tổng hợp TP Hồ
Chí Minh; cuốn Nghệ thuật nói trước công chúng của tác giả Dale Cernegie,
người dịch Song Hà (2005), NXB Văn hóa Thông tin;…v.v.
Trên thế giới các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến nghệ thuật diễn
thuyết và cho đó là một trong những thước đo của sự thành công đối với mỗi
một con người. Diễn thuyết hay, hiệu quả, thuyết phục người khác mang lại
cho không chỉ người diễn thuyết mà ngay cả cơ quan, đơn vị sử dụng “anh ta”
thuyết”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Ngôn ngữ học Việt Nam trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập quốc tế”, tr.1219-1234; Vũ Hoài Phương (2014), “Quan
điểm của Hồ Chí Minh về tuyên truyền miệng”, Tạp chí Lý luận chính trị &
Truyền thông (7), tr.6-9; Vũ Hoài Phương, Trần Thị Vân Anh (2015), “Phong
cách Hồ Chí Minh qua khảo sát các biện pháp tu từ trong tác phẩm Hồ Chí
Minh toàn tập”, Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông, tr.50-54; Vũ Hoài
Phương (2016), “Giá trị thời đại diễn ngôn Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu
6
của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông, tr.2023; Vũ Hoài Phương (2016), “Từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực trong diễn
văn chính trị tiếng Việt”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy
ngôn ngữ học – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tr.393-403…v.v....
Và rất nhiều tác giả khác quan tâm và nghiên cứu văn bản diễn thuyết
như: Nguyễn Hòa, Đinh Văn Đức, Phan Văn Hoà, Ngô Thị Thanh Mai,
Nguyễn Thị Như Ngọc, Vũ Ngọc Hoa…v.v.
Nhận xét: Như vậy, diễn thuyết đã được nhiều tác giả quan tâm, xem
xét nhưng nhìn chung đây cũng là một vấn đề rất mới mẻ ở Việt Nam mà
chưa có một công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu một cách toàn
diện, có hệ thống về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết. Chính vì
vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, đề tài đi sâu
nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết thông qua 10 văn
bản diễn thuyết tại Hải Phòng, khảo sát từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 3 năm
2017.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là thông qua nghiên cứu, khảo sát
đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản diễn thuyết góp phần vào nghiên cứu phong
cách ngôn ngữ diễn thuyết (PCDT) trong hệ thống phong cách chức năng
tiếng Việt. Phân biệt rõ đặc điểm của phong cách ngôn ngữ diễn thuyết và
(02 văn bản).
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong luận
văn gồm:
- Phương pháp miêu tả: để miêu tả đặc điểm của từ ngữ và khuôn ngôn
ngữ trong văn bản diễn thuyết được nghiên cứu;
- Phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích cấu trúc của văn bản
diễn thuyết.
8
- Thủ pháp thống kê, phân loại để thống kê, phân loại các lớp từ ngữ
xét theo từ loại và nguồn gốc trong văn bản diễn thuyết.
- Thủ pháp so sánh để chỉ ra đặc điểm sử dụng các phương tiện ngôn
ngữ trong văn bản diễn thuyết từ dạng viết chuyển sang dạng nói.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Về lý thuyết
Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu đặc điểm của văn bản diễn thuyết; góp
phần vào nghiên cứu phong cách ngôn ngữ diễn thuyết.
6.2. Về thực tiễn
Kết quả khảo sát, nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng khi diễn
thuyết trước công chúng; ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể
được áp dụng vào việc giảng dạy một số học phần về phong cách học tiếng Việt
nói chung, về văn bản diễn thuyết nói riêng.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Đặc điểm từ vựng trong văn bản diễn thuyết
Chương 3: Đặc điểm về ngữ điệu và khuôn ngôn ngữ trong văn bản
PCCNNN. Chính nhờ các phương tiện này mà chúng ta có thể khảo sát các
đặc trưng diễn đạt và đặc điểm ngôn ngữ của từng phong cách. Còn nói về
nhân tố ngoài ngôn ngữ thì có rất nhiều nhân tố chi phối việc lựa chọn các
10
phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp. Ví dụ như hoàn cảnh của người nói (viết)
và người đọc (nghe); hoàn cảnh xã hội; nói điều gì cho thích hợp; nói để làm
gì và nhằm mục đích gì; tổ chức nội dung và cách thức nói năng như thế nào
cho thích hợp; thời điểm giao tiếp...Nói cách khác, khi nói năng, chúng ta
phải xử lí hàng loạt các vấn đề như: Phát ngôn cho ai? Tình huống phát ngôn
như thế nào? Phát ngôn về cái gì? Phát ngôn để làm gì? Phát ngôn như thế
nào? Tuy nhiên, chúng ta thấy có ba nhân tố quan trọng nhất chi phối việc lựa
chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp và cũng chính từ ba nhân tố này
(tất nhiên cùng cả những nhân tố có liên quan khác) đã góp phần hình thành
nên các PCCNNN - đó là: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục
đích giao tiếp.
* Ðối tượng giao tiếp: Ðối tượng tham gia giao tiếp là nhân tố quan
trọng nhất có tác dụng quyết định đến việc lựa chọn các phương tiện ngôn
ngữ trong giao tiếp. Mỗi người trong giao tiếp bao giờ cũng xuất hiện với một
tư cách, một cương vị nhất định mà mối quan hệ gia đình và xã hội đã quy
định. Nói cho ai nghe ? Viết cho ai đọc ? Người nghe là ai ? Tâm tư tình cảm
thế nào, quan hệ với chúng ta ra sao? Trình độ học vấn, nghề nghiệp?... Tất cả
những điều đó ta cần phải tìm hiểu, xác định rõ trước khi nói (viết). Có như
thế mới đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.
* Hoàn cảnh giao tiếp: Giao tiếp xã hội hiện nay thường được xuất hiện
và tồn tại ở hai dạng: giao tiếp theo nghi thức và giao tiếp không theo nghi
thức. Hoàn cảnh theo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi
giao tiếp bằng lời nói mang tính chất đúng đắn, nghiêm túc, hoàn chỉnh. Hoàn
cảnh không theo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi giao
xây dựng và xác định trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ
và lời nói.
1.1.3. Các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt
Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và miêu tả các phong
cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì
ngôn ngữ nào đã và đang ở thời kì phát triển. Trong giao tiếp, phong cách
chức năng ngôn ngữ luôn giữ vai trò môi giới. Tất cả những nét phong phú và
12
sâu sắc, thâm thuý và tinh tế, tất cả những khả năng biến hoá của tiếng Việt
đều thể hiện trong phong cách và qua phong cách. Tất cả những vấn đề quan
trọng như Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá ngôn ngữ, phát
triển và nâng cao tiếng Việt văn hoá... đều phải được giải quyết trong sự gắn
bó mật thiết với phong cách. Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ
bộc lộ khi sử dụng các phong cách chức năng ngôn ngữ.
Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đã được đặt ra
từ thời Mĩ từ pháp cổ đại với lược đồ bánh xe phong cách của Virgile. Riêng
ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các giáo trình về
phong cách học, cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ tập III của Ðinh
Trọng Lạc xuất bản năm 1964 [32]. Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan điểm
khác nhau về cách phân loại các phong cách chức năng. Thực tế vấn đề này
vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về thuật
ngữ.. Có thể khảo sát hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo
trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Ðình Tú và Phong
cách học tiếng Việt của Ðinh Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà.
Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa phong cách khẩu ngữ tự
nhiên và phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Sau đó, trên cơ sở chức năng giao
tiếp của xã hội mà chia tiếp phong cách ngôn ngữ gọt giũa thành: phong cách
khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính, còn phong cách
Theo wikipedia.org “Diễn thuyết là nghệ thuật nói chuyện với một
nhóm người theo một phương cách được chuẩn bị kỹ nhằm cung cấp thông
tin, gây ảnh hưởng hoặc gây cười cho thính giả. Trong diễn thuyết, cũng
giống bất cứ hình thức truyền thông nào khác, có năm yếu tố căn bản thường
được biểu thị như sau, “ai đang nói điều gì với ai và đang sử dụng phương
tiện nào để gây ra kết quả gì?”.[63].
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất và đưa ra khái
niệm về diễn thuyết như sau: Diễn thuyết trước công chúng là cách thức (nghệ
thuật) trình bày một vấn đề trước một nhóm người, hay đám đông nhằm
truyền tải thông tin, hoặc thông điệp làm cho người nghe hiểu, tin tưởng, bị
thuyết phục và có thể thay đổi hành vi theo định hướng của diễn giả.
14
Khi tìm hiểu về diễn thuyết, có một điều đáng lưu ý đó là diễn thuyết
và báo cáo đều là những phương cách trao đổi ý tưởng và thông tin trong
nhóm. Nhưng khác với báo cáo, diễn thuyết chứa đựng trong đó cả cá tính của
người nói và cho phép các thành viên trong nhóm có thể tương tác trực tiếp
với nhau. Và như đã nói ở phần đầu, diễn thuyết cũng có một số nét giống với
diễn văn nhưng diễn văn thì diễn giả gần như đọc lại toàn bộ văn bản đã được
soạn thảo còn diễn thuyết có sự linh hoạt hơn trong quá trình nói trước công
chúng, hầu hết khi nói các văn bản diễn thuyết không còn được đảm bảo
100% sự chính xác về từ, câu… trong văn bản đã được soạn thảo, chuẩn bị.
Thậm chí có diễn giả có tầm trí tuệ uyên bác không cần sử dụng văn bản đã
được soạn thảo trước mà vẫn có thể diễn thuyết trước công chúng một cách tự
nhiên, hấp dẫn và thuyết phục.
Nội dung diễn thuyết là những thông tin cần thiết cho nhóm. Nhưng
không giống báo cáo, được đọc lên với nhịp điệu của chính người đọc, diễn
thuyết phải tính đến việc người nghe sẽ thu nhận được bao nhiêu thông tin
trong khi nghe. Ví dụ như: diễn thuyết về đề tài chính trị, diễn thuyết về vấn
mình rất ngắn gọn chỉ là các ý cơ bản, những gạch đầu dòng những định
hướng cho quá trình triển khai còn tất cả những nội dung cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ
thì đã “có sẵn trong bộ nhớ” mà diễn giả không cần phải soạn thảo ra giấy.
Như vậy, văn bản diễn thuyết ở dạng viết bản thân nó đã có rất nhiều hình
thức tồn tại có thể ngắn, có thể dài.. phụ thuộc nhiều vào người diễn thuyết.
Để có một văn bản diễn thuyết hoàn hảo, người diễn thuyết phải nghiên cứu
rất nhiều tài liệu để chắt lọc, xây dựng đề cương, v.v... Nói như vậy, khi
nghiên cứu đặc điểm văn bản diễn thuyết ta cần tập trung sâu hơn vào các văn
bản nói (dạng ghi âm) bởi lẽ khi diễn thuyết trước công chúng có rất nhiều
yếu tố chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến người diễn thuyết và buộc họ phải
linh hoạt trong việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh và lúc này, văn
bản diễn thuyết trước công chúng có phần “lệch” đi so với văn bản mà diễn
giả đã soạn thảo trước đó, nhưng nhìn chung quan điểm, tư tưởng trong văn
bản vẫn được đảm bảo. Đối tượng luận văn nghiên cứu chính ở đây là những
văn bản diễn thuyết ở dạng nói đã được ghi âm lại để khảo sát, tìm hiểu.
16
1.2.2.2. Văn bản diễn thuyết trước công chúng (dạng nói)
Diễn giả sử dụng ngôn ngữ âm thanh để truyền tải nội dung thông tin
cần diễn thuyết; trong đó người nói người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau.
Mỗi diễn giả có một phong cách khác nhau, phong cách ấy được hiện lên
ngay cả khi soạn thảo văn bản chuẩn bị diễn thuyết và càng thể hiện rõ ràng
hơn khi trực tiếp dùng ngôn ngữ âm thanh để truyền tải nội dung. Bởi lẽ ngôn
ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: Giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay
chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng. Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu
là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin, ngoài sự kết hợp
giữa âm thanh và giọng điệu còn có các phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác
như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… của người nói. Bên cạnh đó, từ ngữ
trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng: có những lớp từ mang tính
điển triết học,Từ điển kinh tế…), tài liệu thống kê... là nguồn tài liệu chủ yếu
để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu cho bài nói; các sách chuyên khảo
phù hợp là nguồn tài liệu rất quan trọng. Qua các tài liệu này có thể thu thập
khối lượng lớn kiến thức hệ thống, sâu sắc về nội dung diễn thuyết, đặc biệt là
khi diễn thuyết về chủ đề chính trị - xã hội. Trong quá trình diễn thuyết có thể
sử dụng các băng ghi âm, các băng hình phù hợp, các tác phẩm văn học để
khai thác hình tượng văn học, câu nói, câu thơ liên quan, làm nổi bật ý của bài
nói chuyện.
Người diễn thuyết cần thực hiện tốt các thao tác xử lý tài liệu khi được
tiếp xúc. Cụ thể, đó là: đọc tài liệu, thoạt đầu nên đọc lướt qua mục lục, lời chú
giải (nếu có) của từng tài liệu cũng như của tất cả các tài liệu đã thu nhận được
để trên cơ sở đó hình thành quan niệm về nội dung, kết cấu bài nói. Sau đó đọc
kỹ, tìm cái mới có phân tích, suy nghĩ, lựa chọn. Có thể đọc cả tài liệu phản
diện để hiểu nội dung và cách xuyên tạc của các thế lực xấu, xây dựng lập luận
phê phán sát với nội dung, có hiệu quả. Trong lúc đọc tài liệu, có thể ghi được
rất nhiều nhưng nói chung chỉ nên ghi lại nhũng chỗ hay nhất, những khái
niệm, những tư liệu chính xác, cần thiết nhất, tư liệu mới có liên quan đến chủ
đề đưa vào bài diễn thuyết. Có thể ghi vào sổ tay hoặc ghi trên phích. Khi ghi
nên ghi trên một mặt giấy, hoặc trang ghi chừa lề rộng để lấy chỗ ghi thêm
18
những vấn đề mới, thông tin mới hoặc ý kiến bình luận của mình. Khi cần giữ
lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh, có thể trích nguyên văn từng câu,
từng đoạn và chú giải xuất xứ của đoạn trích (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi
xuất bản, năm xuất bản, lần xuất bản, số trang). ..
Đặc biệt là việc sử dụng tài liệu: Sau khi đọc, ghi chép, cần tiến hành
lựa chọn những tư liệu mới nhất, có giá trị nhất, dự kiến có khả năng thu hút
người nghe nhất để đưa vào đề cương bài nói; Chọn và sắp xếp tư liệu theo
trình tự lôgíc để hình thành đề cương; Chỉ sử dụng những tư liệu rõ ràng,