ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ
Ở NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á học
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Học viên Trần Thị Thanh Thủy
LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu,
Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Nguyễn Thị Việt
Thanh, người thầy hướng dẫn đã đào tạo, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm, cùng toàn thể các thầy các
cô trong khoa Đông phương học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân
văn đã chỉ bảo, cung cấp những kiến thức quí báu và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường
Đại học Hà Nội, Khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội đã giúp đỡ và tạo
mọi điều thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp và sự giúp đỡ nhiệt
tình của bạn bè, đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi lời cám ơn tới toàn
thể gia đình tôi đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Hà Nội, tháng 01 năm 2015
Học viên
3.1. Các chính sách nhằm nâng cao vị thế và khả năng hoạt động của tiếng
Nhật trong xã hội 52
3.1.1. Công cuộc cải cách giáo dục 52
3.1.2. Các chính sách ngôn ngữ trong giáo dục 55
3.2. Chính sách nhằm cải tiến tiếng Nhật cho hợp lý, khoa học, dễ sử dụng 65
3.2.1. Chính sách về chữ viết 66
3.2.2. Vấn đề từ vựng 74
3.2.3. Vấn đề phương ngữ và ngôn ngữ chuẩn 78
3.3. Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến một số lĩnh vực 79
3.3.1. Ảnh hưởng đến văn học Nhật Bản 79
3.3.2. Ảnh hưởng đến thơ ca Nhật Bản 80
Tiểu kết 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chính sách ngôn ngữ là một phạm trù thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội,
biểu thị hệ thống những quan điểm, chủ trương và biện pháp của một nhà
nước hay một tổ chức chính trị - xã hội nhằm tác động một cách có ý thức
theo một định hướng nhất định vào sự phát triển và hành chức của ngôn ngữ,
phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ và bối cảnh chính trị - xã hội của một quốc
gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm phục vụ cho lợi ích của đất
nước hay các giai tầng xã hội mà nhà nước hay tổ chức chính trị xã hội là
người đại diện.
Trong chính sách ngôn ngữ, ngôn ngữ là đối tượng chịu tác động chủ
yếu nhất. Vừa tồn tại và hành chức với tư cách là một loại phương tiện giao
tiếp, phương tiện tư duy của con người, biến đổi và phát triển theo những
quy luật khách quan của riêng mình, ngôn ngữ còn chịu những tác động rất
để có một vị thế và khả năng đảm nhiệm tất cả các chức năng xã hội như hiện
có, tiếng Nhật đã trải qua những giai đoạn phát triển lâu dài, với những biến
động lớn dưới tác động của nhiều thời đại, nhiều thể chế chính trị, trong đó,
một trong những giai đoạn có tác động quan trọng tới sự phát triển và định
hình chức năng, vị thế và qua đó ảnh hưởng tới bản thân cấu trúc nội tại tiếng
Nhật là giai đoạn cận đại bắt đầu từ thời đại Minh Trị (明治時代 - Meiji jidai).
Thời đại Minh Trị (bắt đầu năm 1868), một giai đoạn có vai trò hết sức
quan trọng trong lịch sử Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều
công trình nghiên cứu tại Nhật Bản và quốc tế, từ những góc độ khác nhau
như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa Ở Việt Nam cũng có không ít nhà
nghiên cứu lấy giai đoạn cận đại này của Nhật Bản làm đối tượng nghiên
cứu của mình. Tuy nhiên, khảo sát những đặc trưng của giai đoạn này từ
3
góc độ chính sách ngôn ngữ với những quyết định có tầm ảnh hưởng quyết
định đến không chỉ sự phát triển của tiếng Nhật với tư cách là ngôn ngữ
quốc gia mà còn ảnh hưởng tới nhiều phương diện của đời sống xã hội, có
thể nói vẫn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu. Đó chính là lý do chúng
tôi lựa chọn vấn đề chính sách ngôn ngữ Nhật Bản giai đoạn cận đại làm
đối tượng nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Nghiên cứu chính sách ngôn ngữ ở Nhật Bản thời cận đại”,
luận văn hướng tới các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu để có một cái nhìn toàn cảnh về chính sách ngôn ngữ ở
Nhật Bản thời cận đại trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị, xã hội, văn
hóa giai đoạn này.
- Tìm hiểu vai trò của chính sách ngôn ngữ tác động đến sự phát triển,
vị thế và hoạt động của tiếng Nhật trong các phạm vi giáo dục, khoa học, văn
hóa, hành chính và đến chính sự biến đổi các phương diện của tiếng Nhật (từ
vựng, ngữ âm, ngữ pháp) trong giai đoạn cận đại và cả những giai đoạn phát
Thư. Còn thực tế, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập
trung nghiên cứu chuyên sâu về chính sách ngôn ngữ giai đoạn này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách ngôn ngữ.
Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn cận đại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành mục đích nghiên cứu trên, luận văn này sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chính là: tổng hợp tư liệu, tài liệu văn bản liên quan
đến chính sách ngôn ngữ, đến hiện trạng thực thi chính sách. Thực hiện thủ
pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở cứ liệu nhằm đưa ra các kết luận.
5
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 1 sẽ trình bày những quan điểm của các nhà nghiên cứu về
chính sách ngôn ngữ và một số vấn đề có liên quan chặt chẽ, không thể tách
rời với chính sách ngôn ngữ như: mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế
hoạch hóa ngôn ngữ, mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn
ngữ, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhà nước đối với việc tác động nhằm
định hướng, điều chỉnh sự phát triển hoặc sử dụng ngôn ngữ theo một cách
nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nào đó.
Chương 2: Một số đề xuất cải cách ngôn ngữ ở Nhật Bản giai đoạn cận đại
Chương 2 sẽ mô tả bức tranh về điều kiện lịch sử - xã hội và những mục
tiêu chính trị tác động đến sự hình thành chính sách ngôn ngữ của Nhật Bản
giai đoạn cận đại. Trước tình hình tiếng Nhật chưa ổn định và thống nhất, các
học giả, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra các đề xuất phương án cải cách
chữ viết trong tiếng Nhật như: đề xuất xóa bỏ chữ Hán chỉ sử dụng chữ Kana,
đề xuất sử dụng chữ cái Latinh, đề xuất sử dụng kiểu chữ mới, đề xuất hạn chế
số lượng chữ Hán, đề xuất sử dụng tiếng Anh.
với các nhà ngôn ngữ và các nhà hoạch định chính sách từ những năm 60 của
thế kỷ trước trong những nghiên cứu đề xuất xây dựng các chính sách ngôn
ngữ phù hợp cho một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ phức tạp như Việt
Nam. Có thể kể đến một số tác giả có nhiều bài viết nổi tiếng về chính sách
ngôn ngữ như Hoàng Tuệ, Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Khang,
Trần Trí Dõi…
Theo từ điển Tiếng Việt thì chính sách là “Sách lược và kế hoạch cụ thể
nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế mà đề ra” [29; 173]. Như vậy, khái niệm chính sách ngôn ngữ là
7
một trong những khái niệm của rất nhiều các khái niệm về chính sách mà nhà
nước, chính phủ đề ra về vấn đề ngôn ngữ nhằm hướng sự hoạt động của
ngôn ngữ phục vụ những mục đích mang tính quốc gia.
Như mọi chính sách, chính sách ngôn ngữ gồm hai mặt: “Mặt lý thuyết
là những cơ chế của sự giao tiếp ngôn ngữ, về chức năng, bản chất và quy luật
phát triển của ngôn ngữ. Mặt hành động thực tiễn là những chủ trương của
nhà nước và đồng thời là những chương trình, kế hoạch thực hiện những chủ
trương ấy nhằm tác động vào sự phát triển của ngôn ngữ” [15; 62].
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang có khá nhiều định nghĩa hay
cách hiểu về “Chính sách ngôn ngữ”. Tựu chung có các trường phái chính
như sau: [10; 145-146]
“Chính sách ngôn ngữ là phạm trù khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị -
xã hội, biểu thị hệ thống những quan điểm, những chủ trương và biện pháp
của một nhà nước hay của một tổ chức chính trị - xã hội, nhằm tác động một
cách có ý thức theo một định hướng nhất định vào sự hành chức và phát triển
của ngôn ngữ, phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ và bối cảnh chính trị - xã
hội của đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm phục vụ cho lợi
ích của đất nước, của các giai tầng xã hội mà nhà nước ấy, hay tổ chức chính
trị - xã hội ấy làm người đại diện” (Hoàng Văn Hành, 2002).
mực đang sử dụng. Chính sách ngôn ngữ là toàn bộ hoạt động thực tiễn có
mục đích nhằm điều chỉnh các quá trình ngôn ngữ tự nhiên, cả ở các nước đa
dân tộc cả ở các nước đơn dân tộc và mang tính cấp tiến vừa mang tính bảo
thủ” (Nikolskij, L.B, 1982).
Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến nêu trên, tác giả nhận thấy: chính sách
ngôn ngữ là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách dân tộc chung của
một đất nước. Đây là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, biện pháp
9
chính thức của nhà nước hoặc một tổ chức chính trị xã hội nào đó nhằm tác
động một cách có ý thức theo một định hướng nhất định vào sự hành chức
và phát triển ngôn ngữ sao cho phù hợp với tình hình ngôn ngữ và bối cảnh
chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước trong những giai đoạn lịch sử nhất
định, nhằm phục vụ lợi ích của đất nước hoặc của một tầng lớp xã hội nhất
định nào đó.
Chính sách ngôn ngữ phụ thuộc vào chính sách dân tộc của nhà nước.
Cùng với văn hóa, ngôn ngữ là một trong hai tác nhân quan trọng có khả năng
vừa tụ hợp, bảo vệ dân tộc vừa để chống lại sự xâm nhập và đồng hóa dân tộc.
Chính sách ngôn ngữ là khái niệm bao trùm lên toàn bộ vấn đề ngôn ngữ của
một quốc gia, thậm chí vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia.
Để thực thi những quan điểm của chính sách ngôn ngữ đòi hỏi phải có
chiến lược về ngôn ngữ quốc gia. Chính sách ngôn ngữ và chiến lược ngôn
ngữ quốc gia đều là những vấn đề chính trị xã hội, đòi hỏi được giải quyết
trong quá trình phát triển của một quốc gia trên cơ sở cảnh huống ngôn ngữ
của quốc gia đó. Giữa chính sách ngôn ngữ và cảnh huống ngôn ngữ có mối
quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, chỉ có chính sách ngôn ngữ mà tính đến tất
cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ thì mới có kết quả.
Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong sự
ổn định và phát triển của một dân tộc một quốc gia. Tuy nhiên, nội dung
chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia khác nhau thường không giống nhau.
chất là nhằm giải quyết các vấn đề: Quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngôn
ngữ các dân tộc thiểu số, giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói, giữa ngôn
ngữ bản địa và ngôn ngữ nước ngoài.
1.1.2. Các hệ vấn đề của chính sách ngôn ngữ
Thứ nhất, chính sách ngôn ngữ là một trong những nhân tố của quá
trình phát triển ngôn ngữ. Bởi vì chính sách ngôn ngữ tác động đến sự phân
11
bố chức năng giữa các thực thể ngôn ngữ trong quốc gia bao gồm quan hệ
giữa các ngôn ngữ, giữa các phương ngữ, giữa các hình thức ngôn ngữ nói,
viết… Hơn nữa chính sách ngôn ngữ còn tác động đến sự phát triển của hệ
thống ngôn ngữ. Cả hai tác động trên đều diễn ra theo hai hướng là kích thích
sự phát triển và kiềm chế sự phát triển. Trong phạm vi giữa các ngôn ngữ có
thể kích thích sự phát triển của ngôn ngữ ở vị trí hàng đầu đồng thời cản trở
sự mở rộng và hạn chế phạm vi chức năng của một số ngôn ngữ khác, tạo nên
sự phân bố chức năng theo kiểu đa thể ngữ giữa các ngôn ngữ trong một quốc
gia. Có thể thấy chính sách ngôn ngữ liên quan đến việc lựa chọn ngôn ngữ,
lựa chọn hình thức tồn tại của ngôn ngữ và lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ để
đạt được mục đích giao tiếp nhất định.
Thứ hai, chính sách ngôn ngữ được xây dựng để giải quyết những vấn
đề ngôn ngữ nảy sinh trong xã hội. Đó là những vấn đề đa dạng và phức tạp,
tuy nhiên có thể đưa về hai dạng chính: dạng vĩ mô và dạng vi mô. Thuộc
dạng vĩ mô là những vấn đề liên quan đến sự phân bố các thực thể ngôn ngữ
theo phạm vi giao tiếp. Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ cho mục đích giao tiếp nào
đó không chỉ bao gồm quá trình lựa chọn thể trạng ngôn ngữ mà còn bao gồm
cả quá trình tuyển lựa các đơn vị ngôn ngữ trong qua trình chuẩn hóa, qui
hoạch ngôn ngữ. Thuộc dạng vi mô là những vấn đề nảy sinh trong quá trình
giao tiếp của các thực thể riêng rẽ. Nghiên cứu các vấn đề thuộc vĩ mô và vi
mô một mặt giúp cho ta hiểu rõ hơn nội dung cụ thể của chính sách ngôn ngữ
và mặt khác tạo cơ sở khách quan cho chính sách ngôn ngữ.
như: lợi ích lâu dài của giai cấp vốn quy định bản chất giai cấp của chính
sách ngôn ngữ, lợi ích của cộng đồng dân tộc, mục đích văn hóa, quan điểm
tôn giáo.
13
1.1.3. Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa
ngôn ngữ
1.1.3.1. Khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ
Kế hoạch hóa ngôn ngữ (còn gọi là quy hoạch ngôn ngữ) có thể được
hiểu là công việc quản lý ngôn ngữ. Thuật ngữ này ra đời vào những năm
cuối thập niên 50 đầu thập niên 60 của thế kỷ XX. Kế hoạch hóa ngôn ngữ
chịu tác động rất lớn của bối cảnh ngôn ngữ xã hội lúc đó. Hay nói cách khác,
chính bối cảnh ngôn ngữ xã hội khi đó là cơ sở xã hội ngôn ngữ cho sự ra đời,
hình thành và phát triển của công việc kế hoạch hóa ngôn ngữ.
Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một bộ phận của chính sách ngôn ngữ, hay
nói cách khác đó là sự thực thi chính sách. Nghĩa là giữa kế hoạch hóa ngôn
ngữ và chính sách ngôn ngữ có một mối quan hệ vô cùng chặt chẽ.
Sau đại chiến thế giới thứ II, nhiều quốc gia trên thế giới giành được
độc lập, vấn đề di dân cũng nổi lên có liên quan đến sử dụng ngôn ngữ… tất
cả tạo nên một bức tranh đa tạp về văn hóa, ngôn ngữ và chính trị. Nhưng có
lẽ đối với chính quyền hành chính thì sự phức tạp trở nên bội phần là xử lí các
vấn đề liên quan đến ngôn ngữ. Bởi vậy, kế hoạch hóa ngôn ngữ có tầm quan
trọng to lớn đối với sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hóa của
một quốc gia. Thực tế chứng minh rằng, ngôn ngữ phát triển hợp lí sẽ tạo đà
tốt cho sự phát triển quốc gia, dân tộc. Ngược lại nó sẽ cản trở sự phát triển
hưng thịnh của quốc gia và rất dễ dẫn đến các xung đột dân tộc có nguyên
nhân từ xung đột ngôn ngữ.
Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một phản ứng điều tiết có chủ động, có tổ
chức, có kế hoạch đối với hoạt động của ngôn ngữ, bao gồm ba nội dung lớn
là kế hoạch địa vị ngôn ngữ, kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ và kế hoạch hóa
Với các định nghĩa trên, tác giả nhận thấy: điểm quan trọng nhất về kế
hoạch hóa ngôn ngữ là sự quan tâm có hệ thống, có tổ chức, mang tính xã hội
tới các vấn đề ngôn ngữ. Nó bao hàm cả những quy định có quan hệ tới việc
15
dạy và sử dụng ngôn ngữ, cùng với những qui tắc do những người có thẩm
quyền quy định để hướng dẫn mọi người thực hiện.
Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu cũng có những cách quan niệm không
thực sự thống nhất. Theo hai tác giả P.S. Ray và V. Tauli thì kế hoạch ngôn
ngữ tập trung chủ yếu vào nội bộ ngôn ngữ, tức là nhấn mạnh đến tính công
cụ của ngôn ngữ. Còn theo quan điểm của tác giả J. Rubin thì kế hoạch hóa
ngôn ngữ xuất phát từ sự biến đổi theo hướng phát triển ngôn ngữ một cách
có ý thức thông qua tác động của yếu tố con người và một điều quan trọng
hơn là ở định nghĩa này tác giả đã chỉ ra được sự khác nhau giữa sự biến đổi
của ngôn ngữ là do kế hoạch hóa ngôn ngữ mang lại so với sự biến đổi ngôn
ngữ do cá nhân mang đến. Tác động của một cá nhân thường là không tự giác,
ở một qui mô nhỏ hẹp còn tác động kiểu kế hoạch hóa ngôn ngữ là có qui mô,
mang tính chính thức và có ý thức rõ rệt.
Bên cạnh đó, quan điểm của Weinstein lại có những điểm mới khi cho
rằng kế hoạch ngôn ngữ là một nỗ lực cụ thể, có hệ thống nhằm giải quyết
các vấn đề ngôn ngữ và nhằm giải quyết các vấn đề ngôn ngữ và nhằm đạt
một mục tiêu có liên quan thông qua sự can thiệp có tổ chức về mặt thể chế
đối với việc sử dụng kế hoạch ngôn ngữ. Sau Weinstein, Markee lại bổ sung
thêm một nội dung nữa trong kế hoạch hóa ngôn ngữ, đó là vấn đề giảng dạy,
giáo dục ngôn ngữ, bao gồm ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ dân tộc và ngoại
ngữ như là những nội dung quan trọng, không thể thiếu.
Qua một số định nghĩa trên cũng như những cách giải thích mang tính
định nghĩa, có thể thấy xung quanh khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ bên
cạnh những quan điểm trùng nhau thì giữa các tác giả còn có cái nhìn khác
nhau. Sự khác nhau đó tập trung vào ba nội dung với ba câu hỏi sau: Ai làm
để đưa ra những nội dung kế hoạch hóa cho phù hợp. Đối với các ngôn ngữ
17
đã ở mức độ tương đối phát triển thì kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ chủ yếu
tập trung vào mặt chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ. Trong
khi đó đối với ngôn ngữ chưa có truyền thống chữ viết hoặc ở mức độ phát
triển thấp thì kế hoạch hóa ngôn ngữ lại tập trung chủ yếu vào mở rộng, nâng
cao năng lực thực hiện chức năng của bản thể ngôn ngữ (qua các yếu tố từ
vựng, ngữ pháp).
Bên cạnh hai nội dung cơ bản trên, trong một số quốc gia còn phải bổ
sung thêm nội dung kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ, tức là hướng tới xây dựng
những giá trị hoặc uy tín của một (hoặc một số ngôn ngữ) nào đấy trong xã
hội, nhằm những mục tiêu chính trị hay xã hội cho cộng đồng sử dụng ngôn
ngữ đó. Đối với những quốc gia có vấn đề về sắc tộc hoặc dân tộc, nhiều khi
những cố gắng của kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể
ngôn ngữ sẽ không thành công nếu thiếu kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ.
Như vậy, giữa chính sách ngôn ngữ và kế hoạch ngôn ngữ có mối quan
hệ chặt chẽ, phụ thuộc với nhau. Kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự vận dụng của
chính sách ngôn ngữ trong thực tế hoặc cũng có thể coi chính sách ngôn ngữ
như một khung pháp lý và việc kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự triển khai một
cách tổng thể, hệ thống các hoạt động nhằm xác định rõ và bảo đảm vị thể nào
đó cho một hoặc một số ngôn ngữ.
Tuy vậy, về vấn đề này có những sự khác biệt đáng kể giữa các nhà
nghiên cứu Hoa Kỳ và nhà nghiên cứu châu Âu. Các nhà nghiên cứu Hoa
Kỳ có xu thế hướng nhấn mạnh chủ yếu đến mặt kĩ thuật của việc can thiệp
vào cảnh huống ngôn ngữ tạo thành kế hoạch hóa, trong khi đó những nhà
nghiên cứu Châu Âu lại chú trọng tới vai trò hoặc quyền lực của chính
quyền đối với ngôn ngữ, tức là coi trọng sự can thiệp của con người vào
ngôn ngữ. Tuy nhiên, cả hai trường phái đều thống nhất kế hoạch hóa ngôn
ngữ không chỉ thuộc về bản thân ngôn ngữ mà còn chịu ảnh hưởng lớn của
19
luôn gắn liền với nhau và khái niệm này là một trong những phạm trù cơ bản
của ngôn ngữ học xã hội.
Về khái niệm cảnh huống ngôn ngữ có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Hoàng Văn Hành “Cảnh huống ngôn ngữ là phạm trù thuộc văn hóa tinh
thần của cộng đồng tộc người hay liên cộng đồng tộc người, định hình trong
tiến trình lịch sử lâu dài trên một vùng lãnh thổ (một quốc gia, một khu vực)
phản ánh trạng thái tồn tại và các hình thái thể hiện sự hoạt động và tác động
qua lại của các ngôn ngữ” [8; 30].
Nguyễn Như Ý thì cho rằng cảnh huống ngôn ngữ là: “Toàn bộ các
ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có các quan
hệ tương hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về
mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lý hoặc một thể thống nhất về
chính trị - hành chính nhất định. Thông thường cảnh huống ngôn ngữ được
hiểu là toàn bộ các hình thái tồn tại (kể cả các phong cách) của một ngôn
ngữ hay của các ngôn ngữ trong một quốc gia hay một khu vực địa lý nhất
định” [31; 30].
Từ những định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng: cảnh huống ngôn ngữ
chính là các chức năng và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ có liên quan
chặt chẽ với các điều kiện xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Cảnh
huống ngôn ngữ của một quốc gia hay một khu vực luôn chiếm một vị trí vô
cùng quan trọng trong việc xác định địa vị của các ngôn ngữ. Để xây dựng và
thực thi chính sách ngôn ngữ một cách hiệu quả thì cần thiết phải xác định
được cảnh huống ngôn ngữ, bao gồm các nhân tố: dân tộc - nhân khẩu, các
nhân tố ngôn ngữ học, các nhân tố vật chất và nhân tố con người.
Tiểu kết
Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề của ngôn ngữ - xã hội, thuộc lĩnh
vực nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội. Chính sách ngôn ngữ là một bộ