ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ VÂN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở MỘT SỐ
QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO: TRƯỜNG HỢP
INDONESIA VÀ MALAYSIA CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62.22.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phương pháp nghiên cứu
Đóng góp và cái mới của luận án
Bố cục của luận án
6
6
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
8
1.1
Cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ
8
1.1.1
Khái niệm chính sách ngôn ngữ
8
1.1.2
Bản chất và vai trò của chính sách ngôn ngữ
12
1.1.3
Mối quan hệ của chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hoá ngôn ngữ
13
1.1.4
Mối quan hệ của chính sách ngôn ngữ với lập pháp về ngôn ngữ
18
1.2
Cảnh huống ngôn ngữ của Indonesia và Malaysia
20
1.2.1
Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
45
2.2
Chính sách đối với ngôn ngữ quốc gia - tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia)
của Indonesia
49
2.2.1
Tiếng Melayu thời kỳ trước khi Indonesia giành được độc lập năm 1945
49
2.2.2
Chính sách đối với ngôn ngữ quốc gia - tiếng Indonesia thời kỳ sau độc lập
53
2.2.3
Chính sách phổ biến và phát triển tiếng Indonesia trong lĩnh vực giáo dục
61
2.2.4
Chính sách đối với tiếng Indonesia trong lĩnh vực thông tin đại chúng và giao
tiếp xã hội
67
2.3
Chính sách đối với ngôn ngữ quốc gia - tiếng Malaysia (Bahasa Malaysia)
của Malaysia
70
2.3.1
Các bước ngoặt trong việc thực hiện chính sách ngôn ngữ
71
2.3.2
Vai trò của Viện Ngôn ngữ và Hội đồng Ngôn ngữ và Văn học
77
2.3.3
Chính sách truyền bá và phát triển ngôn ngữ quốc gia - tiếng Malaysia trong
97
2.5.3
Thực trạng và những vấn đề đặt ra
99
2.6
Tiểu kết
102
Chương 3
104
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGÔN NGỮ CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC CỦA INDONESIA VÀ MALAYSIA
3.1
Tình hình ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc ở Indonesia và Malaysia
104
3.1.1
Tình hình ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc bản địa ở Indonesia
104
3.1.2
Tình hình ngôn ngữ của cộng đồng nhập cư và cộng đồng các dân tộc bản địa ít
người ở Malaysia
109
3.2
Chính sách đối với ngôn ngữ các dân tộc bản địa của Indonesia
113
3.2.1
Quy định của Hiến pháp và Luật Giáo dục
Vị trí của tiếng Anh ở Indonesia và Malaysia
149
4.1.1
Vị trí của tiếng Anh ở Indonesia
149
4.1.2
Vị trí của tiếng Anh ở Malaysia
152
4.2
Chính sách đối với tiếng Anh của Indonesia
155
4.2.1
Chiến lược quốc gia về tăng cường khả năng sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là
tiếng Anh
155
4.2.2
Tiếng Anh trong hệ thống giáo dục của Indonesia
158
4.2.3
Những biện pháp nâng cao tính hiệu quả của việc học tiếng Anh
163
4.2.4
Những thành quả và hạn chế của tiếng Anh ở Indonesia
165
4.3
Chính sách đối với tiếng Anh của Malaysia
167
4.3.1
Các chính sách và biện pháp phát triển tiếng Anh qua các thời kỳ lịch sử
167
CSNNQG Chính sách ngôn ngữ quốc gia
CSGDQG Chính sách giáo dục quốc gia
NNQG Ngôn ngữ quốc gia
KHHNN Kế hoạch hoá ngôn ngữ
ĐNA Đông Nam Á
POL Pupils
’
Own Languages - ngôn ngữ của chính học sinh
SIL Viện Ngôn ngữ học Mùa hè
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mấy chục năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề xây dựng CSNN đã trở
thành vô cùng cấp bách, đặc biệt là ở những nước thế giới thứ ba, nơi mà khi giành được
độc lập phải lựa chọn một ngôn ngữ giao tiếp chung cho toàn xã hội. Vấn đề NNQG,
đã cho ra đời rất nhiều các công trình nghiên cứu trên tất cả các mặt như lịch sử, văn
hoá, xã hội của các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Lào, Campuchia, Philipines,
Brunei Darussalam. “Tìm hiểu văn hoá Indonesia” và “Liên bang Malaysia - Lịch sử,
văn hoá và những vấn đề hiện đại” là hai cuốn sách giúp người đọc có được cái nhìn
tổng quan chung về hai nước, trong đó có đề cập đến vấn đề ngôn ngữ.
Nghiên cứu về Ngôn ngữ học xã hội không thể không nhắc đến hai chuyên luận
“Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản” (NXB Khoa học Xã hội 1999) và “Kế
hoạch hoá ngôn ngữ - Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô”(NXB Khoa học Xã hội 2003) của
học giả Nguyễn Văn Khang. Trong hai tác phẩm này, tác giả đã bàn luận rất sâu sắc về
các vấn đề lý thuyết của ngôn ngữ học xã hội, đặc biệt là KHHNN và CSNN… cũng
như tình hình thực tế của việc thực hiện CSNN của các quốc gia trên thế giới. Đây là hai
công trình rất hữu ích cho những người quan tâm đến ngôn ngữ học xã hội.
Năm 1997, Viện Ngôn Ngữ học đã cho ra đời cuốn sách “Cảnh huống và Chính
sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc”. Đây là một tập hợp các bài viết, chủ yếu của
các nhà ngôn ngữ học Nga về các vấn đề liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ và CSNN
ở một số quốc gia đa dân tộc trên thế giới như cảnh huống ngôn ngữ, xung đột ngôn
ngữ, các đạo luật về ngôn ngữ, xây dựng luật ngôn ngữ, CSNN, KHHNN, sự đảm bảo
pháp luật đối với ngôn ngữ (ở Liên bang Nga, Thái Lan, Lào, Philipines, Canada, Trung
Quốc, các nước Châu Phi ).
Đến năm 1998, Viện Ngôn Ngữ học đã hoàn thành chương trình cấp nhà nước:
“Chính sách của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong lĩnh vực ngôn
ngữ”, trong đó có một đề tài nhánh là “Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ ở các
quốc gia khu vực Đông Nam Á”. Đề tài nhánh này là các bài viết của các học giả nước
ngoài như Asmah Haji Omar, N.V. Solseva, N.V.Omeljanovich, T.V. Đôrôpêeva, M.A.
Makarenko về CSNN ở Singapore, Malaysia, Philipines, Brunei
Như vậy có thể thấy rằng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cho đến
tận gần đây việc nghiên cứu ngôn ngữ các nước Malaysia, Indonesia chưa được các học
giả Việt nam tìm hiểu một cách quy mô và đầy đủ. Đã có một số nhà nghiên cứu quan
3
Lumpur 1979.
4
English in Malaysia, University of Singapore, 7-9 September Nationnal 1982.
Tất cả các chuyên luận nghiên cứu của bà đều đề cập đến các vấn đề về ngôn ngữ
học xã hội ở Malaysia, đặc biệt là sự thực thi CSNN và mối quan hệ của tiếng Malaysia
với các ngôn ngữ cùng gốc với nó là tiếng Indonesia ở Indonesia, tiếng Melayu ở
Singapore và Brunei.
Nhưng đề cập cụ thể đến CSNN ở các nước ĐNA hải đảo không thể không nhắc
đến cuốn “Language Planning in Southest Asia” của Abdullah Hassan (Dewan Bahasa
dan Pustaka, Ministry of Education, Kuala Lumpur 1994). Tác giả cuốn sách đã đề cập
đến kế hoạch phát triển ngôn ngữ và CSNN của Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt
Nam, Lào. Trong đó chú trọng nhiều hơn cả đến việc thực thi chính sách giáo dục ngôn
ngữ ở Malaysia và các nước hải đảo. Ngoài ra còn một số chuyên luận tiêu biểu như:
- Language Policy Planning and Practice, Oxford University Press, 2004
- Robertl. Cooper, Language Planning and Social Change, Cambridge University
Press 1999
- Varieties of English in Southeast Asia and Beyond, University of Malaya Press, 2006
Và một số các chuyên luận bằng tiếng Melayu như:
- Politik Bahasa (Chính sách ngôn ngữ), Pusat Bahasa, Departemen Pendidikan
Nasional, Jakarta 2000
- A. Chaedar Alwsilah, Politik Bahasa dan Pendidikan (Chính sách ngôn ngữ và
Giáo dục), Remaja Rosdakarya Bandung 1997
- James T. Collins Bahasa Melayu - Bahasa Dunia (Tiếng Melayu - Ngụn ngữ
Quốc tế), NXB: Jayasan Obor Indonesia, 2005)
Như vậy, có thể thấy rằng CSNN ở các nước ĐNA hải đảo đã được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các học giả ở trong và
ngoài nước chỉ khảo sát và nghiên cứu từng mặt của vấn đề và thường được khảo sát
CSNN riêng biệt của từng nước.
Luận án này của chúng tôi đưa ra cái nhìn tổng quát về CSNN của Indonesia và
Thứ ba, các nước ĐNA hải đảo (trừ Indonesia) đều lựa chọn một ngôn ngữ nước
ngoài, cụ thể là tiếng Anh bên cạnh ngôn ngữ bản địa là NNQG và là ngôn ngữ chính
thức. Tiếng Anh với vị trí cao nhất là một trong hai NNQG ở Philipines, là một trong
bốn ngôn ngữ chính thức ở Singapore và là ngôn ngữ giáo dục ở Malaysia và Brunei.
Chúng tôi đã lựa chọn Malaysia là đại diện cho những nước thuộc ĐNA hải đảo sử dụng
tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức thứ hai (dùng trong giáo dục), Indonesia là quốc gia
6
đã lựa chọn mô hình đơn ngữ (giống như Việt Nam) và tiếng Anh chỉ được coi là ngoại
ngữ quan trọng nhất.
4.1.2. Trong quá trình triển khai luận án, chúng tôi sử dụng một khái niệm chung là
ngôn ngữ các cộng đồng dân tộc khi nói về ngôn ngữ các dân tộc bản địa ở Indonesia
và Malaysia và ngôn ngữ các cộng đồng nhập cư (người Hoa và người Ấn Độ) ở
Malaysia. Khái niệm ngôn ngữ các cộng đồng dân tộc để phân biệt với khái niệm
NNQG - tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia) và tiếng Malaysia (Bahasa Malaysia).
4.1.3. Phạm vi của luận án chủ yếu chỉ giới hạn nghiên cứu và khảo sát CSNN của
Indonesia và Malaysia từ sau khi các nước này giành được độc lập từ thực dân phương
Tây.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
CSNN của nhà nước Indonesia và Malaysia là đối tượng nghiên cứu của luận án.
Các văn bản luật pháp của hai nhà nước này là cơ sở đáng tin cậy để chúng tôi triển
khai nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp chính như sau:
- Điều tra, khảo sát tổng hợp tư liệu, tài liệu văn bản liên quan đến CSNN, đến hiện
trạng thực thi chính sách qua các thời kỳ
- Phân tích, miêu tả thực trạng từng nước
- So sánh, đối chiếu các mặt, các chính sách để thấy rõ cái chung, cái riêng, những
mặt phù hợp và hạn chế của CSNN hai quốc gia được nghiên cứu; liên hệ với Việt
Nam.
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm chính sách ngôn ngữ
Trong lịch sử loài người, từ xa xưa ngôn ngữ được ý thức như một đặc trưng dân
tộc. Ngôn ngữ can dự tích cực vào mọi hoạt động của con người như kinh tế, văn hoá,
chính trị, giáo dục và được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.
Ngôn ngữ phát triển theo những quy luật khách quan. Tuy nhiên, nhân tố chủ quan
của con người cũng góp phần không nhỏ trong sự phát triển của ngôn ngữ. CSNN thể
hiện ý chí chủ quan của con người đối với sự phát triển ấy hay nói cách khác CSNN thể
hiện sự can thiệp của con người vào ngôn ngữ hoặc cảnh huống ngôn ngữ, “tác động
trước hết đến mặt chức năng ngôn ngữ và trong một chừng mực nào đó, tác động đến
mặt kết cấu của ngôn ngữ” [20, 13].
Như vậy, sự can thiệp của con người vào ngôn ngữ không phải là điều mới mẻ
nhưng CSNN là một khái niệm khá mới. Cho tới những năm 1970, khái niệm CSNN
(Language Policy) mới xuất hiện trong ba tác phẩm: “Ngôn ngữ học xã hội”
(Sociolinguistics) năm 1970 của J.A. Fisman (bằng tiếng Anh), “Cấu trúc Xã hội và
ngữ trong một chừng mực nhất định, là CSNN của một giai cấp xã hội nhất định, của
Đảng, của nhà nước” [38, 55].
CSNN về cơ bản là “chủ trương, chính sách được chính phủ thực hiện để định
hướng sự phát triển của ngôn ngữ” (Tollefson 1991)
Đối với Liên bang Xô Viết các khái niệm “CSNN”, “xây dựng ngôn ngữ” và
“văn hoá ngôn ngữ” đều được nhiều các học giả quan tâm nhưng tựu chung lại đều
chung quan niệm đó là “khả năng tác động vào các quá trình phát triển của ngôn
ngữ” (Isajev, 1979).
“CSNN là phạm trù khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, biểu thị hệ thống
những quan điểm, những chủ trương và biện pháp của một nhà nước hay của một tổ
10
chức chính trị - xã hội, nhằm tác động một cách có ý thức theo một định hướng nhất
định vào sự hành chức và phát triển của ngôn ngữ, phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ và
bối cảnh chính trị - xã hội của đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm
phục vụ cho lợi ích của đất nước, của các giai tầng xã hội mà nhà nước ấy, hay tổ chức
chính trị - xã hội ấy làm người đại diện” (Hoàng Văn Hành 2002).
“Nói đến CSNN là nói đến sự can thiệp có ý thức, có tổ chức, có cơ sở khoa học
của xã hội vào sự hoạt động và phát triển của ngôn ngữ. Nói cách khác, CSNN là sự
lãnh đạo những yêu cầu ngôn ngữ học của xã hội dựa trên sự hiểu biết khoa học về
những quy luật của ngôn ngữ, đưa ngôn ngữ vào quỹ đạo phát triển chung của xã hội,
làm cho ngôn ngữ phục vụ ăn khớp với sự phát triển của xã hội” ( Nguyễn Hàm Dương,
1975).
“CSNN được hiểu là chủ trương chính trị của nhà nước, chính xác hơn là của giai
cấp thống trị nhà nước, một đảng phái hay một tổ chức xã hội và các biện pháp thực
hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại
của ngôn ngữ theo những mục đich nhất định. Tính quy định chính trị là cơ sở để phân
biệt và đánh giá tính chất tiến bộ và phản tiến bộ của CSNN trong các nước có chế độ
xã hội khác nhau. Nó cũng là chỗ dựa để phân biệt các khái niệm CSNN, xây dựng ngôn
ngữ vốn đang được dùng như là các khái niệm đồng nghĩa trong các khuynh hướng
và châu Mỹ La tinh.
Sức thuyết phục hạn chế của các luận giải trên là ở chỗ, các nhà nghiên cứu đã
không nắm lấy đặc trưng cơ bản nhất trong nội dung khái niệm chính sách, trong đó
khái niệm CSNN là tính quy định chính trị của nó. CSNN được hiểu là toàn bộ các biện
pháp ngôn ngữ cụ thể được thi hành và thực hiện các chủ trương lý thuyết về phương
pháp phát triển ngôn ngữ. Như vậy, cần phân biệt trong CSNN hai bình diện: Chủ
trương chính trị và các biện pháp để thực hiện chủ trương đó. Chủ trương chính trị làm
thành nội dung chính của CSNN và là yếu tố quy định CSNN.
Dù nhìn từ góc độ nào CSNN cũng được ý thức như một bộ phận hay một nội
dung trong hệ thống chính sách xã hội của một quốc gia. Theo chúng tôi, nếu hiểu một
cách tường tận hơn, CSNN chính là một hệ thống các biện pháp (có thể biểu hiện dưới
dạng các văn bản pháp luật, các đường lối chủ trương, các kế hoạch, quy chế ) nhằm
tác động vào các quá trình phát triển của cảnh huống ngôn ngữ, tạo phương hướng cho
ngôn ngữ phát triển phù hợp với các nhu cầu của xã hội. CSNN cũng chính là kế hoạch
12
phát triển ngôn ngữ có liên quan đến kế hoạch phát triển xã hội, tộc người; có liên quan
đến chính sách phát triển văn hoá, giáo dục của nhà nước. Kế hoạch phát triển ngôn ngữ
thường được thể hiện ra bằng một loạt biện pháp như: Quy định NNQG; xây dựng chữ
viết cho các dân tộc chưa có chữ viết; xác định ngôn ngữ chuẩn; giải quyết các mối quan
hệ giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói; giải quyết mối quan hệ của NNQG và ngôn
ngữ nước ngoài; xác định các chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả…
Việc xác định NNQG và CSNNQG trong mối quan hệ với ngôn ngữ các dân tộc
khác là không đơn giản. Không thể không thấy rằng trong một quốc gia đa dân tộc,
cương vị thấp kém hơn của các ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ mẹ đẻ luôn là vấn đề tế nhị,
rất dễ gây ra phản ứng chống đối NNQG, làm rạn nứt sự thống nhất về chính trị của
quốc gia. Việc thực hiện CSNN cũng tuỳ theo sự ứng xử của từng nhà nước. CSNN là
một hoạt động của con người nên bất cứ một tổ chức xã hội hay một Đảng phái cũng có
thể đưa ra một CSNN.
1.1.2. Bản chất và vai trò của chính sách ngôn ngữ
nâng cao vai trò của ngôn ngữ như là chất xúc tác cho sự phát triển kinh tế và nâng cao
thanh thế của quốc gia trên trường quốc tế. Chính vì vậy quốc gia nào cũng phải xây
dựng cho mình một chính sách thích hợp trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Hiện nay bên cạnh thuật ngữ CSNN (Language Policy) người ta còn nói nhiều đến
các khái niệm KHHNN (Language Planning), Lập pháp về ngôn ngữ (Language
Legislation) và hai khái niệm này có quan hệ khăng khít với CSNN hay nói một cách
chính xác hơn là một phần không thể tách rời của CSNN.
1.1.3. Mối quan hệ của chính sách ngôn ngữ với kế hoach hoá ngôn ngữ
1.1.3.1. Khái niệm kế hoạch hoá ngôn ngữ (Language Planning)
Thuật ngữ Kế hoạch hoá ngôn ngữ (còn được gọi là quy hoạch ngôn ngữ hay
hoạch định ngôn ngữ: Language Planning) xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ 20
dưới ngòi bút của E. Haughen, cùng thời với sự xuất hiện của thuật ngữ “Ngôn ngữ học
xã hội” (Sociolinguistics). Thời điểm được coi là có sự phân đôi giữa nghiên cứu cấu
trúc và nghiên cứu hậu cấu trúc (chú ý tới tính xã hội của ngôn ngữ), cho nên KHHNN
là một phần quan trọng của ngôn ngữ học xã hội. Đặc biệt tác động đến lý luận KHHNN
không thể không nhắc đến Trường phái ngôn ngữ học Praha (được thành lập vào những
năm 30 của thế kỷ 20) với những đóng góp quan trọng của trường phái này cho lý luận
14
KHHNN.
Từ điển tiếng Việt (1992) đã định nghĩa:
(1) Chính sách: “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định,
dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [59, 173].
(2) Kế hoạch: “Toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống những công việc
làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu cách thức, thời gian tiến hành” [59,
484].
(3) Kế hoạch hoá: “Làm cho phát triển một cách có kế hoạch (thường trên quy mô
lớn)” [59, 484].
Như vậy, kế hoạch là một bộ phận của chính sách và điều đó cũng có nghĩa rằng
CSNN và KHHNN có một mối quan hệ vô cũng chặt chẽ. KHHNN chính là sự tác
(Thorburn 1971).
3. “KHHNN là việc xem xét tỉ mỉ các thay đổi trong hệ thống các quy tắc ngôn
ngữ hoặc trong việc sử dụng ngôn ngữ do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Như
vậy, KHHNN chú trọng vào việc giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ và các biện pháp
được cụ thể hoá bằng việc xây dựng các kế hoạch nhằm tìm ra biện pháp hiệu quả nhất”
(Rubin và Jemudd 1971).
4. “ KHHNN không phải là sự chọn lọc và lý tưởng hoá ngôn ngữ mà là những
biện pháp quản lý hành chính và chính trị nhằm giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ trong
xã hội” (Jernudd và Das Gupta 1971).
5. “ KHHNN là việc tổ hợp các phương pháp nhằm lựa chọn, hệ thống hoá, trong
một vài trường hợp còn tạo thêm ra các quy tắc chính tả, ngữ pháp, từ vựng hay ngữ
pháp mới của một ngôn ngữ và triển khai, phổ biến chúng” (Gorman 1973).
6. “KHHNN đề cập tới một hệ thống những hoạt động tổ chức và phát triển ngôn
ngữ trong cộng đồng theo một lịch trình thời gian đã được định sẵn” (Das Gupta 1973).
7. “Thuật ngữ KHHNN đề cập tới những hoạt động có tính tổ chức nhằm tìm ra
các giải pháp cho những vấn đề ngôn ngữ thông thường ở cấp độ quốc gia” (Fishman
1974)
8. “KHHNN là sự hoạt động điều chỉnh và cải thiện các ngôn ngữ sẵn có hoặc tạo
ra những ngôn ngữ mới (Tauli 1974).
9. “KHHNN là những cố gắng giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ (thường trong
phạm vi quốc gia), chú trọng vào các quy tắc trong ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn
ngữ” (Karam 1974).
10. “KHHNN là thẩm quyền của chính phủ nhằm phát triển và chuyển đổi các
16
chức năng của một ngôn ngữ trong xã hội để giải quyết các vấn đề về truyền thông”
(Weinstein 1980).
11. “KHHNN là việc quan tâm một cách có hệ thống, có tổ chức và mang tính xã
hội tới các vấn đề ngôn ngữ” (phát biểu của Neustupny 1983).
12. “KHHNN bao hàm những quyết định có quan hệ tới việc dạy và sử dụng ngôn
những điều chỉnh trong ngôn ngữ .
Như vậy, KHHHH hướng đến không chỉ phạm vi quốc gia mà còn hướng tới
những phạm vi nhỏ hơn như các dân tộc, các tôn giáo. Hoạt động của hoạch định ngôn
ngữ có thể áp dụng từ thấp lên cao hoặc từ cao xuống thấp (và cấp cao nhất là cấp độ
thuộc chính phủ). Sẽ là sai sót khi chỉ định nghĩa KHHNN riêng rẽ trong phạm vi các
hoạt động xã hôi cực nhỏ.
Sau khi phân tích những mặt được và hạn chế của các định nghĩa trên, chúng tôi
cho rằng, KHHNN đề cập tới những quy định về cấu trúc, chức năng… trong hệ thống
các quy tắc ngôn ngữ nhằm tác động tới sự hoạt động của ngôn ngữ đối với các cộng
đồng trong xã hội.
Vậy thì KHHNN chú trọng vào gì? Theo Kross (1969) KHHNN chú trọng vào hai
thành phần rõ rệt, đó là thể hoạch định và cấp độ hoạch định [106, 37- 40]:
Thể hoạch định đề cập tới những biện pháp như xây dựng các thuật ngữ mới, đổi
mới việc phát âm hay áp dụng các chữ cái mới… Tóm lại là việc tạo ra các quy tắc mới,
thay đổi các dạng thức cũ. Mở rộng hơn nữa phạm vi hoạt động của ngôn ngữ, sửa đổi
và tiêu chuẩn hoá ngôn ngữ đều được nhắc đến trong định nghĩa của Haughen (1). Sự
lựa chọn và hệ thống hoá đã được trình bày trong định nghĩa của Gorman (5).
Cấp độ hoạch định: Kross nhìn nhận mục tiêu của cấp độ hoạch định đặt trong mối
quan hệ về tầm quan trọng hay vị trí của một ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác được
chính phủ một nước ý thức được. Tuy nhiên, thuật ngữ này từ khi mở rộng thường dùng
để chỉ quá trình phân chia ngôn ngữ hay những chức năng mới được đưa thêm vào các
loại ngôn ngữ đó, chẳng hạn chức năng về phương tiện truyền thông đại chúng, ngôn
ngữ hành chính, phương tiện truyền đạt thông tin. Gorman (1973:73) định nghĩa mở
rộng ngôn ngữ như là “các quyết định mang tính chuyên môn nhằm duy trì, mở rộng
hay thay đổi phạm vi sử dụng (phạm vi chức năng) của một ngôn ngữ trong một dạng
thức đặc biệt”. Bởi vậy sự thăng tiến của tiếng Hebrew trở thành một thứ ngôn ngữ được
dùng trong nhà trường tại Palestin và quyết định sử dụng nhiều loại ngôn ngữ như một
phương tiện truyền đạt văn chuơng cổ trong phong trào văn học quần chúng ở Etiopia có
thể coi là những ví dụ của phân định ngôn ngữ và rất nhiều trong số đó có thể coi là ví
sung từ cho những hình thức ngôn ngữ hiện có. Tuy nhiên, kế hoạch hoá bản thể ngôn
ngữ ở mỗi nước là khác nhau. Đối với những ngôn ngữ đã có truyền thống, đã ở mức
19
tương đối phát triển thì nhiệm vụ kế hoạch hoá bản thể ngôn ngữ chủ yếu tập trung vào
hai mặt: chuẩn hoá và giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ. Còn đối với những ngôn ngữ
chưa có truyền thống chữ viết, chưa phát triển thì phải tập trung chủ yếu vào cấu trúc
bản thể ngôn ngữ. Vì vậy, một trong những nội dung cơ bản của kế hoạch hoá bản thể
ngôn ngữ là biến ngôn ngữ không có truyền thống chữ viết thành ngôn ngữ có truyền
thống chữ viết.
- Kế hoạch hoá uy tín ngôn ngữ (Prestige Planning): Trong quá trình thực hiện
KHHNN nếu thiếu kế hoạch hoá uy tín ngôn ngữ thì sự cố gắng của kế hoạch hoá địa vị
ngôn ngữ và kế hoạch hoá bản thể ngôn ngữ có thể sẽ không thành công. Giữa ba nội
dung này có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời.
Một điều cần phải nhấn mạnh là muốn thực hiện được KHHNN thì phải có người
khởi phát, có nghĩa là phải có một cơ quan nhà nước uỷ quyền chuyên trách, hoặc tổ
chức kinh tế, tổ chức tôn giáo có ảnh hưởng đến việc thực thi.
1.1.4. Mối quan hệ của chính sách ngôn ngữ với lập pháp về ngôn ngữ
Vấn đề xung đột ngôn ngữ đã tồn tại từ lâu trong lịch sử, đặc biệt trong thời đại
ngày nay. Đối với các quốc gia đa dân tộc, đặc biệt là những nước nghèo, chậm phát
triển luôn tiềm ẩn những nguy cơ của sự mất ổn định, thường dẫn tới những xung đột
sắc tộc mà nguyên nhân bắt nguồn từ những mối bất hoà về ngôn ngữ, về tôn giáo, về
lãnh thổ… Vì vậy quốc gia nào cũng vậy, đặc biệt là đối với các quốc gia tồn tại nhiều
ngôn ngữ trên lãnh thổ đã phải đưa ra các đạo luật về ngôn ngữ.
Theo từ điển tiếng Việt 1992, “lập pháp” là việc “định ra pháp luật” [59, 551]. Vì
vây thuật ngữ “lập pháp về ngôn ngữ” (Language Legislation) được hiểu là sự định ra
pháp luật về ngôn ngữ.
“Mục tiêu cơ bản của lập pháp ngôn ngữ là thông qua pháp luật để xác định địa vị
của một ngôn ngữ nào đó và quy định phạm vi sử dụng của chúng” [28,188]. Bên cạnh
đó, quy định quyền lợi và nghĩa vụ ngôn ngữ, ưu tiên và hiện thực hoá một số ngôn ngữ