Luận văn thạc sĩ Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------

CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn

HẢI PHÒNG, NĂM 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
2.1. Dưới góc độ phong cách học................................................................................2
2.2. Dưới góc độ Ngữ dụng học ..................................................................................3
2.3. Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ .........................................6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................7
3.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................................7
3.2. Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................7
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................8
6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................................8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ...............................................................................9
1.1. Câu hỏi đích thực (câu nghi vấn) .........................................................................9
1.1.1. Khái niệm ..........................................................................................................9
1.1.2. Phân loại câu hỏi (câu nghi vấn) .....................................................................10
1.1.2.1. Câu hỏi được dùng theo lối trực tiếp............................................................10
1.1.2.2. Câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp ...........................................................10
1.1.3. Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi (câu nghi vấn) ..................11
1.1.3.1. Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn ..................................................................11
1.1.3.2. Câu hỏi sử dụng phó từ nghi vấn ............................................................ 1211
1.1.3.3. Câu hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn ...........................................................12
1.1.3.4. Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng ....................................................12

2.1.5. Đại từ nghi vấn “ai” ........................................................................................36
2.1.6. Đại từ nghi vấn “gì”, “chi” ..............................................................................39
2.1.7. Đại từ nghi vấn “bao giờ” ...............................................................................42
2.2. Câu hỏi tu từ sử dụng cặp phó từ nghi vấn ........................................................43
2.2.1. Cặp phó từ “có… không” ................................................................................43
2.2.2. Cặp phó từ “có phải… không” ........................................................................46
2.3. Câu hỏi tu từ sử dụng tiểu từ tình thái................................................................47
2.3.1. Tiểu từ tình thái “nhỉ” .....................................................................................47
2.3.2. Tiểu từ tình thái “ư” ........................................................................................48
2.3.3. Tiểu từ tình thái “có lẽ nào” ............................................................................49
2.4. Câu hỏi tu từ sử dụng quan hệ từ lựa chọn "hay" ..............................................49
2.4.1. Quan hệ từ “hay” đứng đầu dòng ....................................................................49
2.4.2. Quan hệ từ “hay” đứng giữa dòng ..................................................................51
2.5. Câu hỏi tu từ khuyết dấu hiệu nghi vấn .............................................................51
2.5.1. Câu hỏi tu từ khuyết từ ngữ nghi vấn .............................................................51
2.5.2. Câu hỏi tu từ khuyết dấu “?” ...........................................................................52
2.6. Tiểu kết chương 2 ..............................................................................................53
CHƯƠNG 3: CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ XÉT THEO
Ý NGHĨA TÌNH THÁI TU TỪ TRONG NGỮ CẢNH SỬ DỤNG ...................55
3.1. Phân loại câu hỏi tu từ theo truyền thống ..........................................................55
3.2. Các kiểu dạng câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ và ý nghĩa tình thái tu từ
của chùng trong ngữ cảnh được sử dụng ..................................................................56
3.2.1. Câu hỏi tu từ không lời đáp.............................................................................56
3.2.1.1. Câu hỏi tu từ tầng bậc ..................................................................................57
3.2.1.2. Câu hỏi tu từ xuất hiện đơn lẻ ......................................................................67
3.2.2. Câu hỏi tu từ được người hỏi gợi ý hồi đáp ....................................................73
3.2.2.1. Câu hỏi tu từ được người hỏi gợi ý hồi đáp bằng câu trần thuật .................74
3.2.2.2. Câu hỏi tu từ được gợi ý hồi đáp bằng phó từ phỏng đoán ..........................77
3.3. Tiểu kết chương 3 ......................................................................................... 7877
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 8079

công trên nhiều thể loại, nhưng thơ ca vẫn là thể loại mà Lưu Quang Vũ đam
mê nhất. Thơ ca đi cùng tác giả trong suốt những năm tháng cuộc đời, từ thời
niên thiếu đến lúc xuôi tay, là “cuốn nhật kí” để ông thác gửi tâm sự, tài năng
của mình. Bởi vậy, thơ Lưu Quang Vũ chất chứa nhiều nét độc đáo, sâu sắc


2

về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, có một thời gian, thơ Lưu Quang Vũ bị
xem nhẹ, chịu đổ tiếng oan, mãi tới sau này mới được công nhận. Vì vậy,
những công trình nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ dù đã có nhưng chưa thực
sự đầy đủ để đánh giá toàn diện về tài năng cũng như vị trí của ông trong nền
thi ca nước nhà.
Cũng như nhiều nhà thơ khác, thơ Lưu Quang Vũ sử dụng rất nhiều câu
hỏi tu từ và xem nó như một phương tiện đắc lực để đong đầy cảm xúc và
truyền tải ý niệm nghệ thuật. Nhận thấy điều đó, tôi tiến hành đề tài "Câu hỏi
tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ" để khai thác, làm rõ nét hơn về thơ ông.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Dưới góc độ phong cách học
Câu hỏi tu từ (rhetorical question) xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực
nghiên cứu của phong cách học. Cho đến nay, các nhà phong cách học trong
và ngoài nước đều có ý kiến thống nhất cho rằng câu hỏi tu từ là kiểu câu hỏi
không chờ đợi sự trả lời và có tác dụng tăng cương diễn cảm cho phát ngôn.
Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu.
Theo D.E Rosental và M.A Telenkova, “câu hỏi tu từ chứa đựng hình
thức nghi vấn phủ định hay khẳng định nhưng không chờ đợi sự trả lời” [61,
61]. Còn Katie Wales cho rằng “ câu hỏi không chờ đợi được trả lời” do ”đã
xác định điều đã biết đối với người nhận là không thể trả lời được” [88, 407408]. Katie Wales đã nhấn mạnh đặc biệt đến vai trò của câu hỏi tu từ trong
hình thức hội thoại đặc thù: tranh biện cổ điển và tiểu thuyết “câu hỏi tu từ
được sử dụng từ trong thuật tranh biện cổ điển như là những thủ pháp khích

nhận hoặc thậm chí trả lời” [79, 107].
Như vậy, nhìn từ góc độ phong cách học đến ngữ dụng học, các tác giả
đều cho rằng câu hỏi tu từ là câu hỏi không yêu cầu thông tin hồi đáp mà
hướng tới một mục đích phát ngôn khác, một hoặc một số hiệu lực ở lời khác.
Lê Thị Thu Hoài từ góc độ ngữ nghĩa ngữ dụng cho rằng câu hỏi tu từ có
những đặc điểm sau: (i) Có hình thức nghi vấn; (ii) Bao giờ cũng ngầm ẩn nội
dung phán đoán khẳng định hay phủ định; (iii) Câu có chứa từ phủ định thì
ngầm ẩn nội dung khẳng định mệnh đề tương ứng và ngược lại câu không
chứa từ phủ định lại ngầm ẩn nội dung phủ định mệnh đề tương ứng [43,17].


4

Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định tồn tại tính hỏi (yêu cầu cung cấp
thông tin) trong câu hỏi tu từ và nó "tồn tại có lí do, mục đích” và “nếu ở câu
hỏi chính danh chúng đóng vai trò là mục đích giao tiếp của phát ngôn thì
trong câu hỏi tu từ chúng bị đẩy xuống thứ yếu và chỉ được xem như một công
cụ nhằm đạt đến một mục đích giao tiếp khác của người nói" [43, 181].
Như vậy theo quan niệm của Lê Thu Hoài, do câu hỏi tu từ có tính nghi
vấn (tính hỏi), vì vậy tất yếu sẽ kéo theo một trong đích ngôn trung của câu
hỏi tu từ là yêu cầu người hỏi phải cung cấp thông tin, tuy nhiên hiệu lực của
đích ngôn trung này là thứ yếu, mà xếp tầng trên nó là các hiệu lực ở lời khác,
vì vậy nhiệm vụ cung cấp thông tin có thể có hoặc không cũng không ảnh
hưởng đến tiến trình của cuộc giao tiếp.
Những nghiên cứu gần đây trên thế giới cũng đã khẳng định quan điểm
trong câu hỏi tu từ có tính hỏi. Các tác giả Ivano Caponigro, Jon Sprouse
khẳng định: “Chúng tôi cho rằng câu hỏi tu từ có ngữ nghĩa giống như câu
hỏi thông thường. Dữ liệu mới được trình bày để cho thấy rằng câu hỏi tu từ
cho phép các câu trả lời và một loạt các câu trả lời của nó cũng giống như
câu hỏi thông thường” và “câu hỏi tu từ và câu hỏi thông thường chỉ khác

Trong cả hai khóa luận tốt nghiệp nêu trên, khái niệm câu hỏi tu từ chưa
được minh định. Cả hai tác giả này chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa
câu hỏi đích thực (còn được gọi là câu hỏi chính danh) và câu hỏi tu từ. Theo
các tác giả, câu hỏi trong thơ trữ tình là câu hỏi có hình thức hỏi xuất hiện
trong thơ mà không phân biệt giữa câu hỏi dùng để hỏi đích thực hay câu hỏi
tu từ. Diện khảo sát của hai khóa luận cũng rộng và chưa có tính hệ thống, bởi
vậy không thể hiện được đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm hay phong cách
nghệ thuật của tác giả nào.
Năm 2005, Quách Thị Bình Thọ bảo vệ luận văn cao học Cách sử dụng
trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu trong Truyện Kiều và năm 2006, Trịnh
Minh Thành bảo vệ luận văn cao học Câu hỏi trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du và việc sử dụng câu hỏi để biểu thị mục đích nói. Tác giả Trịnh Minh
Thành đã thống kê được 275 câu hỏi và bước đầu chỉ ra được một số đặc
điểm tình thái của dạng câu hỏi gián tiếp trong tác phẩm Truyện Kiều. Tuy
nhiên, cả hai luận văn cũng đều không phân biệt câu hỏi chính danh và câu


6

hỏi tu từ, do đó tính tình thái, giá trị nghệ thuật của câu hỏi tu từ chưa được
làm rõ. Mặt khác, các đặc điểm tình thái của câu hỏi không chính danh được
chỉ ra còn mang tính suy đoán mà chưa dựa trên cơ sở và phương pháp khoa
học để phân tích và chứng minh, do đó tính thuyết phục chưa cao.
Năm 2008 Phạm Thị Như Hoa đã bảo vệ luận văn thạc sĩ Câu hỏi tu từ
trong thơ Chế Lan Viên. Tác giả đã có sự phân biệt câu hỏi đích thực, câu hỏi
tu từ; thống kê, phân loại câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên dựa vào kết
cấu hình thức; nghiên cứu các tình thái của câu hỏi tu từ, từ đó phân tích giá
trị thẩm mĩ của câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên. Năm 2014 Phạm Thị
Như Hoa phát triển thành luận án tiến sĩ theo lí thuyết ngữ dụng học: Hành
động ngôn ngữ qua câu hỏi tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu.

(Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy), v.v...
Trong những công trình trên, hầu hết những phương diện trong thơ Lưu
Quang Vũ đều đã được xem xét tới, trong đó có phương diện nghệ thuật. Các
tác giả đều nhấn mạnh vào tính biểu tượng, nhắc đến biểu tượng nghệ thuật
như một nhân tố quan trọng góp phần định hình phong cách thơ Lưu Quang
Vũ. Riêng nghiên cứu về ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ thì hầu như không
đáng kể. Cho đến nay mới có luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hoài nghiên cứu
về Ẩn dụ tri nhận trong thơ Lưu Quang Vũ (2013) mà thôi.
Riêng vấn đề câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ được xem xét như
một đặc điểm nghệ thuật biểu hiện phong cách nghệ thuật của thơ ông thì
chưa có công trình nghiên cứu nào. Do vậy, luận văn của chúng tôi đã chọn
đề tài Câu hỏi tu từ trong thơ Lưu Quang Vũ nhằm khám phá một nét quan
trọng để xác định phong cách thơ ông.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ hệ thống câu hỏi tu từ
trong thơ Lưu Quang Vũ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các kết cấu hình thức, ngữ cảnh xuất
hiện cùng với các ý nghĩa tình thái tu từ của câu hỏi tu từ trong thơ Lưu
Quang Vũ. Nguồn tư liệu chủ yếu là các tập thơ của Lưu Quang Vũ đã được


8

xuất bản dựa trên nguồn tư liệu chính là Lưu Quang Vũ- Gió và tình yêu thổi
trên đất nước tôi (NXB Hội nhà văn, 2014).
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cách sử dụng sáng tạo một
phương tiện tu từ vốn ít phổ biến trong thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ - nhà


cảnh

sử

dụng.


9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Câu hỏi đích thực (câu nghi vấn)
1.1.1. Khái niệm
Câu hỏi đích thực thường được gọi với nhiều tên khác nhau như: câu hỏi,
câu nghi vấn, câu hỏi đích danh, câu hỏi dùng theo lối trực tiếp. Theo Bùi
Đức Tịnh, câu hỏi đích thực dùng “để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một điều
gì” [80, 154]. Còn theo Nguyễn Kim Thản, “câu nghi vấn nhằm mục đích nêu
lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật về
đối tượng hay đặc trưng của đối tượng” [70, 254]. Cao Xuân Hạo không định
nghĩa trực tiếp về câu hỏi đích thực mà cho rằng nó là câu “có dấu hiệu riêng
về tình thái hỏi” [35, 224]. Đồng thời, tác giả cũng dựa vào dấu hiệu hình
thức chuyên dùng để chia thành 6 tiểu loại câu nghi vấn tương ứng với 6 hiệu
lực ở lời khác nhau. Diệp Quang Ban lại cho rằng “câu nghi vấn thường dùng
để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích
của người tiếp nhận câu đó; về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có những
dấu hiệu đặc trưng nhất định” [4,247]. Trong đó, điều chưa biết gợi mở
những ý hàm ẩn, còn sự chờ đợi sẽ lôi kéo người đọc vào cuộc giao tiếp.
Ngoài ra, tác giả cũng phân biệt câu nghi vấn với câu trần thuật, câu cảm
thán, câu cầu khiến theo tiêu chí về chức năng thông báo.
Tổng hợp các quan niệm trên, có thể thấy, các tác giả đều thống nhất về

Loại câu hỏi sử dụng theo lối trực tiếp có mặt nhiều trong giao tiếp ngôn
ngữ thường nhật, nhưng cũng xuất hiện ít nhiều trong thơ ca nghệ thuật. Xét
ngữ cảnh của câu hỏi dùng theo lối trực tiếp trong thơ thì có thể thấy rằng,
thường sau câu hỏi trực tiếp là câu trả lời,ví dụ:
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi ?
- Hai mươi Ờ nhỉ tháng năm trôi.
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
1.1.2.2. Câu hỏi được dùng theo lối gián tiếp
Câu hỏi được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ “hỏi” gián tiếp
được chúng tôi diễn đạt vắn tắt là câu hỏi dùng theo lối hành động ngôn ngữ


11

gián tiếp là loại câu hỏi có dấu hiệu hình thức hỏi nhưng lại nhằm tới đích ở
lời của hành vi khác, tức là sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp. Câu hỏi
gián tiếp tạo nên tính mơ hồ về nghĩa cho lời nói (đặc trưng của ngôn ngữ thơ
ca). Để nhận ra nghĩa đích thực của câu hỏi gián tiếp, người nghe, người đọc
phải dựa vào ngữ cảnh, thao tác suy ý và các quy tắc ngữ dụng học.
Thông thường, các câu hỏi sử dụng theo lối gián tiếp khi đi vào thơ ca,
ngôn ngữ nghệ thuật sẽ trở thành câu hỏi tu từ vì chúng đều là những câu hỏi
nhằm để khẳng định ý kiến của người nói, ví dụ:
Ngẫm duyên kì ngộ xưa nay
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương?
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
1.1.3. Các phương tiện ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi (câu nghi vấn)
Câu hỏi trong tiếng Việt thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sau:
1.1.3.1. Câu hỏi sử dụng đại từ nghi vấn
Theo Diệp Quang Ban, “câu nghi vấn dùng đại từ nghi vấn được dùng
để hỏi vào những điểm xác định trong câu, điểm hỏi là điểm chứa các đại từ

Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng, nếu không có các phương tiện
tạo tính nghi vấn khác đi kèm thì điểm hỏi trong câu sẽ rất mơ hồ khi tách ra
khỏi ngữ cảnh. Vì vậy, kiểu câu này là câu nghi vấn không rõ trọng điểm.
Các tiểu từ chuyên dụng được dùng trong câu nghi vấn như: à, ư, ạ, ạ,
hả, hử, hở, chứ, chớ, nhỉ,… Chúng thường kèm theo cả nghĩa tình thái, tức là
những sắc thái tình cảm tế nhị, ví dụ:
Bác lấy cái bút này à? (trung hòa)
Bác lấy cái bút này ư? (ngạc nhiên)
Bác lấy cái bút này ạ? (kính trọng)
Bác lấy cái bút này hả? (thân hữu hoặc suồng sã)
Bởi vậy, các tiểu từ nghi vấn thường được dùng trong thơ ca để biểu đạt
cảm xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình.
Khi không có các phương tiện đánh dấu khác để phân biệt, thì ngữ điệu
đặc thù cho câu hỏi là một ngữ điệu cao và sắc dành cho trọng điểm hỏi.
1.1.4. Tiêu điểm hỏi


13

Tiêu điểm hỏi là điểm nhấn mà người hỏi muốn nhận được thông tin từ
người nghe. Cùng một nội dung và hình thức, nhưng tiêu điểm hỏi trong một
phát ngôn/diễn ngôn có thể khác nhau. Khi người nghe không nhận ra được
tiêu điểm hỏi, sẽ dẫn đến mơ hồ về nghĩa và có nhiều câu trả lời khác nhau
cho một câu hỏi. Do vậy, ngữ cảnh và ngữ điệu của phát ngôn là căn cứ để
người nghe nhận ra tiêu điểm hỏi, ví dụ:
Ngữ cảnh 1:

- Hôm trước bạn đi chơi với Lan à?
- Không, mình ở nhà mà!



Phương tiện từ vựng biểu đạt ý nghĩa tình thái được thể hiện qua các
động từ tình thái (muốn, tưởng, định, dám,...); phó từ (đã, sẽ, đang, vẫn,
cứ,...); tiểu từ tình thái (à, ừ, nhỉ, a, thế, ạ,...); trợ từ (ngay, chính, cả,...); thán
từ (ôi, ối chà, chao ôi); và một số từ, tổ hợp từ chuyên dùng với ý nghĩa tình
thái xuất hiện trên bậc câu (có lẽ, có thể, chắc chắn,...).
Phương tiện ngữ pháp biểu đạt ý nghĩa tình thái được biểu hiện ở cách
đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu nhằm thể hiện ý định của người nói qua
điểm cần nhấn trong phát ngôn.
Ngoài các dấu hiệu hình thức trên, ý nghĩa tình thái của một phát ngôn
còn được nhận diện thông qua việc vi phạm các nguyên tắc sử dụng hành
động ở lời.
1.2. Câu hỏi tu từ
1.2.1. Khái niệm
Như đã trình bày, câu hỏi tu từ là kiểu câu có hình thức để hỏi nhưng
được người nói sử dụng nhằm khẳng định hay phủ nhận một ý kiến, hiện
tượng nào đó chứ không phải để nhận lại thông tin mình muốn biết. Nói cách
khác, đây là câu hỏi “không chờ đợi sự trả lời” ở người nghe, người đọc.
Câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm mục đích khêu gợi trí tưởng tượng của
người nghe hay cảm hứng của người nói. Nói cách khác, câu hỏi tu từ được
sử dụng để làm tăng tính đối thoại của văn bản. Nó có tác dụng kích thích
người nghe, người đọc tham gia vào cuộc giao tiếp.
Câu hỏi tu từ nếu được sử dụng đúng chỗ sẽ nâng cao cảm xúc của phát
ngôn, thay đổi hơi văn, hài hoà âm điệu. Nó được sử dụng trong văn bản nghệ
thuật như biện pháp tu từ làm cho văn bản thêm sinh động, hấp dẫn, giàu tính
gợi cảm, gợi tả.
Câu hỏi tu từ xuất hiện trong thơ ca nhằm tăng tính cảm xúc, xuất hiện
trong văn luận chiến làm tăng tính tranh biện, thuyết phục người nghe.
Từ các khái niệm và đặc điểm trên, chúng tôi xin đề xuất định nghĩa
riêng về câu hỏi tu từ để phục vụ đề tài như sau:

nước Việt Nam? Phải chăng, quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kỳ
và giết hại người Hoa Kỳ? Hay là Chính Phủ Mỹ đã đem quân đội Hoa Kỳ
đến xâm lược Việt Nam và giết hại người Việt Nam?”. Các câu hỏi liên tiếp


16

được đưa ra không để chờ đợi sự trả lời mà để tuyên bố, khẳng định tội ác của
Mỹ đối với Việt Nam và tạo áp lực cho đối phương khi tiếp nhận diễn ngôn.
1.2.2.2. Câu hỏi tu từ trong truyện kể
Truyện kể là loại hình tự sự, dấu ấn chủ quan của tác giả nhường chỗ
cho tiếng nói khách quan của các hình tượng nhân vật. Nói cách khác, trong
truyện kể, hình tượng nhân vật đại diện cho tư tưởng chủ đề tác phẩm và qua
đó thể hiện lí tưởng, thẩm mĩ của tác giả. Người kể truyện là nhân vật giấu
mặt, thường để nhân vật trong tác phẩm lên tiếng để đảm bảo tính chân thực,
khách quan. Nhà văn Balzac đã từng nói: “Không phải lỗi tại tôi, nếu nhân
vật nói ra và nói to đến thế” [dẫn theo 41] và chính ông cũng phải thừa nhận
rằng tác giả không chi phối được sự phát triển tính cách của nhân vật.
Vì vậy, câu hỏi tu từ xuất hiện trong truyện kể có thể là lời của nhân vật
trong đối thoại hoặc trong độc thoại nội tâm, cũng có thể là lời của tác giả,
hoặc đôi khi là lời nhân vật hoà với lời tác giả.
Câu hỏi tu từ trong lời đối thoại của nhân vật:
- Kẻ tội lỗi kia, ta biết tâm trạng ngươi. Hoá ra ngươi tầm thường thế?
Khi Chúa tạo ra loài người, Ngài đã biết thảm cảnh mà các ngươi sẽ trút lên
đầu nhau. Ngài đã kịp thời phái xuống những kẻ có tri thức để dẫn dắt đồng
loại. Cuộc đời trần thế các ngươi phàm tục, nhơ nhuốc lắm. Kẻ có quyền bính
là bắt đầu tác hoạ. Các ngươi khốn khổ vì các ngươi không bao giờ biết các
ngươi là ai. Người mà ngươi có sứ mệnh bảo trợ, bởi lẽ cao quý quá nên các
ngươi không thấy. Ngươi đáng tội bị chọc mù mắt. Vả lại, thiếu người ấy, dù
có ở nơi Thiên Đường ngươi cũng sẽ trở nên buồn chán. Ngươi nên quay về

Câu hỏi tu từ là lời tác giả: "Lão Hạc ơi! Giờ thì tôi hiểu tại sao lão lại
không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm
khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm,
chỉ thui thủi một mình thì ai chả phải buồn?" (Lão Hạc - Nam Cao). Câu hỏi
tu từ này như khẳng định chân lí, lẽ thường mà tác giả muốn đưa ra.
Các câu hỏi trên đều là câu hỏi tu từ hướng tới đối tượng cụ thể, hoặc là
người nghe hoặc chính bản thân mình. Vì hướng tới một đối tượng cụ thể nên
tính đối thoại của câu hỏi tu từ trong loại hình truyện kể rất nổi bật. Câu hỏi tu
từ xuất hiện trong một diễn ngôn văn xuôi luôn đòi hỏi sự trả lời, hoặc bằng


18

thái độ hoặc bằng lời nói. Cơ chế nhận diện câu hỏi tu từ trong loại hình
truyện kể rõ ràng hơn nhiều so với thơ ca. Bởi ngữ cảnh tu từ bao chứa câu
hỏi tu từ chứa đựng nhiều nhân tố khác nhau như tình huống giao tiếp, không
gian, thời gian giao tiếp, đặc điểm tâm lý, tính cách của người nói, người
nghe. Thậm chí, nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng là yếu tố giúp nhận
diện giá trị đích thực của kiểu câu hỏi trong văn xuôi.
1.2.2.3. Câu hỏi tu từ trong thơ trữ tình
Trữ tình mang đặc trưng là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Thơ là nơi
để chủ thể trữ tình biểu đạt sự thăng hoa cảm xúc, tâm trạng. Vì vậy, câu hỏi
tu từ trong thơ trữ tình thường là câu hỏi bộc lộ tình cảm. Nhà thơ sử dụng
câu hỏi tu từ để tự hỏi mình nhằm giãi bày tình cảm ở mức độ cao nhất những
băn khoăn, những gợi nhớ, những điều trái ngược,... ví dụ:
Áo đỏ em đi giữa phố đông
Cây xanh như dõi ánh theo hồng
Em đi lửa cháy trong bao mắt
Anh đứng thành tro em biết không?
(Áo đỏ - Vũ Quần Phương)

của chúa sơn lâm:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm riêng phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang tầm thường giả dối
Hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng


20

(Nhớ rừng - Thế Lữ)
Trong đoạn thơ trên, câu hỏi tu từ “Thời oanh liệt nay còn đâu?” có tác
dụng chuyển điệu cảm xúc. Nó tổng hợp và khép lại hồi tưởng về quá khứ oai
hùng của chúa sơn lâm, đồng thời đưa chúa sơn lâm trở về hiện tại giam cầm
và mở ra điệu cảm xúc ngao ngán, uất hận chán nản ở các dòng thơ dưới. Tất
cả các điệu cảm xúc đó đều thống nhất trong giọng thơ tự vấn của nhân vật
“ta”. Trong thơ trữ tình, không chỉ có dạng câu hỏi tu từ “không chờ đợi trả
lời” mà còn có dạng “gợi ý trả lời” từ phía người hỏi, ví dụ:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status