Luận văn thạc sĩ " Câu hỏi của giáo viên trong giảng dạy ở trường phổ thông trung học " pot - Pdf 11


Luận văn thạc sĩ

Câu hỏi của giáo viên
trong giảng dạy ở trường
phổ thông trung học
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 10
6. Cấu trúc luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1. Vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ 13
1.1.1. Hoạt động giao tiếp 13
1.1.2. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 14
1.1.2.1. Ngôn ngữ nói trong giao tiếp 15
1.1.2.2. Ngôn ngữ viết trong giao tiếp 17
1.1.3. Hành động ngôn ngữ 21
1.1.3.1. Hành động ngôn ngữ và các loại hành động ngôn ngữ 22
1.1.3.2. Hành động ngôn ngữ ở lời 24
1.1.3.3. Hành động hỏi 26
1.1.4. Sơ lược về lý thuyết lịch sự 29
1.1.5. Sơ lược về lý thuyết hội thoại 29
1.1.5.1. Khái niệm về hội thoại 29

3.1.1.2. Vai trò của lời dẫn trong dạy – học 84
3.1.1.3. Thực tế sử dụng câu hỏi trong lời dẫn 87
3.1.1.4. Đặc điểm câu hỏi trong lời dẫn 90
3.2. Câu hỏi trong lời giảng 93
3.2.1. Khẳng định, xác nhận thông tin, kết quả 94
3.2.2. Định hướng, chuyển hướng cho lời giảng 95
3.3. Câu hỏi trong hoạt động hỏi – đáp 95
3.3.1. Nêu vấn đề, giới thiệu vấn đề 96
3.3.2. Chức năng khuyến khích 97
3.3.3. Chức năng kiểm tra, kiểm soát 98
3.4. Các yếu tố tác động đến việc sử dụng câu hỏi của giáo viên 99
3.4.1. Yếu tố lứa tuổi 99
3.4.2. Yếu tố giới tính 99
3.4.3. Yếu tố đặc trưng bộ môn 100
3.4.4. Yếu tố lịch sự 101
3.4.4.1. Từ xưng hô 102
3.4.4.2. Hình thức câu hỏi đầy đủ 104
3.5. Tiểu kết 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 1
CHƯƠNG 2
PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÂU HỎI CỦA GIÁO VIÊN
TRONG GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Phân loại câu hỏi trong giảng dạy
Khi đề cập đến câu hỏi trong giảng dạy tức là nghiên cứu ngôn ngữ

213]. Hay nói cách khác, câu hỏi chính danh là một cấu trúc ngôn ngữ để
biểu thị sự hỏi, là một trong những công cụ để người nói thông qua đó thể
hiện hành động ngôn ngữ (chủ yếu là hành động hỏi).
Ví dụ (19): Trong một tiết Địa lí tìm hiểu về khai thác lãnh thổ theo
chiều sâu ở Đông Nam bộ:
Cô Mỹ: Đất bazan chiếm 40% diện tích thích hợp với việc trồng cây gì
em?
HS số 30: Trồng cây cao su.
Ở ví dụ trên, người hỏi (cô Mỹ) phát ra một phát ngôn hỏi vừa nêu một
điều thắc mắc cần biết (Diện tích đất bazan lớn như vậy thì thích hợp với loại
cây gì?) vừa để yêu cầu người nghe (HS số 30) đáp lại. Người nghe (HS số
30) đã thực hiện hành động trả lời đồng thời đáp ứng điều thắc mắc cần biết
của người hỏi (cô Mỹ).
Dựa vào hành động ngôn trung, có nhiều cách phân loại khác nhau đối
với câu hỏi. Qua tổng hợp và phân tích các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận
thấy có những cách phân loại sau:
- Lê Đông [27] phân câu hỏi thuộc hành động hỏi trực tiếp trong tiếng
Việt thành mấy loại chính sau: câu hỏi lựa chọn (bao gồm: câu hỏi lựa chọn
hiển ngôn và câu hỏi lựa chọn hàm ngôn), câu hỏi không lựa chọn (bao gồm:
câu hỏi được cấu tạo bằng các đại từ nghi vấn và một số câu hỏi đặc biệt
kiểu: Hả? Cái gì? Có…sao?),
- Nguyễn Thị Thìn [87] phân loại câu hỏi thuộc hành động hỏi trực tiếp
dựa vào hệ thống phương tiện nghi vấn chuyên dùng bao gồm: câu hỏi chứa
các đại từ nghi vấn, câu hỏi có cặp từ nghi vấn : có…không?, đã … chưa?,
câu hỏi có kết từ “hay”, câu hỏi có tiểu từ nghi vấn: à, ư, hở, nhỉ,….
- Cao Xuân Hạo phân loại câu hỏi thuộc hành động hỏi trực tiếp bao
gồm: câu hỏi chuyên biệt, câu hỏi tổng quát, câu hỏi hạn định, câu hỏi siêu
ngôn ngữ và một số biến dạng của câu hỏi siêu ngôn ngữ.
Chúng tôi sử dụng cách phân loại của tác giả Cao Xuân Hạo để nhận
diện và phân loại các câu hỏi thuộc hành động hỏi trực tiếp được sử dụng

HS Quỳnh: Dạ không.
Ở ví dụ này, khi hỏi câu hỏi này giáo viên yêu cầu học sinh Quỳnh xác
định có nhầm lẫn hay không nhầm lẫn ở phần tóm tắt của bạn Trí.
c. Câu hỏi hạn định
- Về hình thức: Những câu được cấu tạo bằng kết từ: hay, hay là…
- Về nội dung: Là câu hỏi chính danh yêu cầu người được hỏi xác định
rõ và dứt khoát về thành phần đã lựa chọn trong câu hỏi được người hỏi đưa
ra.
Ví dụ (22): Trong tiết Lý, khi giảng bài:
Cô Thà: Vậy khối lượng của proton nó lớn hay nhỏ?
HS (đồng thanh, nhỏ): Nhỏ.
Ở ví dụ này, người trả lời chỉ có thể lựa chọn một trong hai đoán định
mà người hỏi đưa ra.
d. Câu hỏi siêu ngôn ngữ
- Về hình thức: Theo các nhà ngôn ngữ, câu hỏi siêu ngôn ngữ được
cấu tạo với các dạng như sau:
Dạng 1: Có phải + mệnh đề + không?
Dạng 2: Mệnh đề, phải không/ đúng không (chưa)?
Dạng 3: Câu hỏi có chứa các tiểu từ nghi vấn à, ư, hở, hả, sao, chăng,
chứ, nhỉ, nhé ở cuối câu
Dạng 1, 2 của loại câu hỏi này có đặc điểm:  Chúng đều chứa một
thành phần thông tin đoán định mà người hỏi cần sự xác nhận có hay không
của người nghe.  Chúng đều dựa trên một thông tin nào đó để làm cơ sơ
cho điều nhận định, đoán định.  Hỏi để biết điều nhận định, đoán định đó có
đúng hay không.  Khi hỏi người hỏi đã thiên về tính chân xác của điều nhận
định, đoán định.
Ví dụ (23): Trong tiết Vật lí:
Cô Thà: Mấy đứa biết đó vật hay là chất đối với hóa học sẽ có mạng
tinh thể, đúng hông?
HS (im lặng)

Căn cứ vào đại từ nghi vấn trong câu, câu hỏi chuyên biệt được chia
thành những dạng như sau:
 Câu hỏi về thực thể (chủ thể – đối tượng)
Câu hỏi về thực thể thường sử dụng các yếu tố nghi vấn là: ai, gì, cái
gì, con gì,…. Để hỏi vật, câu hỏi thường có yếu tố nghi vấn “gì”, và để hỏi
người là yếu tố nghi vấn “ai”. Yếu tố nghi vấn dùng trong câu hỏi dạng này
có vị trí khá linh hoạt, thông thường xuất hiện ở đầu và cuối câu. Khi xuất
hiện ở cuối câu chúng thường đi cùng các từ: vậy, đó, nữa….
Khi phân loại câu hỏi chuyên biệt chúng tôi đã ghi nhận được 389 câu
trong 2421 câu hỏi chuyên biệt.
Trong hoạt động giảng dạy, giáo viên thường sử dụng câu hỏi dạng này
với mục đích xác định đối tượng đang được đề cập đến trong lời giảng, bài
giảng của mình. Với câu trả lời của học sinh, đối tượng đó sẽ được hiện thực
hóa bằng một cái tên cụ thể hoặc một cái tên đại diện (tầng lớp, giai cấp, chức
vụ,…)
- Để hỏi về thực thể là người:
Ví dụ (25): Trong tiết Ngữ văn 12
Cô Nguyên: Người tố giác Hạ Du, đó chính là ai?
Cô Nguyên và HS (đồng thanh): Đó là chú của Hạ Du.
Phát ngôn của giáo viên trong cặp thoại trên là “Người tố giác Hạ Du,
đó chính là ai?”, điểm để hỏi ở đây là “ai”. Điều đó có nghĩa là hãy cho biết
x, x là người, chủ thể hành động “tố giác” nêu trong câu.
Ví dụ (26): Trong tiết học Lịch sử lớp 10
Cô Mỵ: Đưa ai lên nắm thực quyền?
HS (im lặng)
Phát ngôn của giáo viên trong ví dụ trên là “Đưa ai lên nắm thực
quyền?” có nghĩa là hãy cho biết x, x là người là đối tượng của hành động
“đưa”.
Như vậy, trong dạng câu hỏi về thực thể, thực thể có thể là đối tượng
của hành động cũng có thể là chủ thể của hành động. Vị trí của x trong câu

vị trí của từ nghi vấn “ai” trong câu. Điều này cho ta thấy thực thể xuất hiện
ở đây có thể là là một thực thể cụ thể với tên gọi hoặc là tên gọi chung đại
diện một số đông người (tầng lớp, giai cấp, …)
Trong giờ học, vì là giao tiếp trực tiếp nên khi giáo viên phát ngôn “Ai
phân biệt cho cô hai từ đẳng cấp và giai cấp?”, học sinh có thể đáp lại bằng
hành động giơ tay hoặc đứng lên thay vì nêu tên của thực thể để đáp ứng cấu
trúc của câu hỏi này.
- Để hỏi về thực thể là vật:
Ví dụ (29): Trong tiết học Lịch sử lớp 11
Cô Mỵ: Cơ bản là sau khi học 5 cái thành phần, 5 cái tầng lớp này
xong mình sẽ phải xem mâu thuẫn giữa các tầng lớp này như thế nào để tiến
hành cuộc cách mạng tư sản, được chưa? Rồi, cái thứ hai là ai?
HS (đồng thanh, nhỏ) Samurai.
Cô Mỵ: À, Samurai.
HS (cười)
Cô Mỵ: Nghe như là cái gì nhở?
HS (cười)
Trong ví dụ trên, người giáo viên đã đưa ra một phát ngôn “Nghe như
cái gì nhở?” trong đó biến tố x “cái gì” là điểm hỏi mà học sinh cần đáp ứng.
Điểm hỏi này giúp học sinh xác định được thực thể mà giáo viên đang cần
đáp ứng ở đây là vật – một thứ nước uống tăng lực mà cả cô và trò đều biết
nên đáp lại câu hỏi của giáo viên học sinh cười.
Lưu ý:
“Là ai?” và “Ai?”: Đây là cấu trúc đặc biệt nó chỉ xuất hiện với điều
kiện là phía trước đã có một câu hỏi với đầy đủ thành phần. Đây chỉ là sự
nhắc lại mang tính chất tỉnh lược của câu hỏi ở phía trước. Trong giảng dạy
vì ngôn ngữ chủ yếu là ngôn ngữ nói nên yêu cầu nhắc lại là yêu cầu đương
nhiên. Và người giáo viên đôi khi không chỉ nhắc lại một lần mà thậm chí
nhắc 2, 3 lần, càng về sau càng rút gọn. Nhưng sau khi nhắc 2, 3 lần không
thấy được sự đáp ứng của học sinh người giáo viên thường biến hóa câu hỏi

sinh bổ sung thêm những thông tin đặc trưng hoặc những đặc điểm để khu
biệt thực thể này với những thực thể khác. Chính vì thế các từ nghi vấn như:
gì, nào,… thường xuất hiện ở cuối trong cấu trúc của câu hỏi hạn định.
Ví dụ (32):
Cô Mỵ: Mình là chủ của đất nước mà mình không có ăn, còn người ta
phục vụ cho mình mà người ta gì? Có ăn mập ú, có đúng vậy không?
HS (im lặng)
Cô Mỵ: Không, bởi vì từ lâu rồi Nhật Bản cũng giống như Việt Nam
thời vua Lê chúa Trịnh đấy là sao? Vua thì gì?
HS (im lặng)
Cô Mỵ: Không có thực quyền đúng không?
Với phát ngôn “Vua thì gì?”, giáo viên muốn học sinh bằng hiểu biết về
đối tượng “vua” bổ sung thêm những thông tin để làm rõ thêm về đối tượng
khiến cho đối tượng này khác so với những đối tượng khác. Trong đoạn thoại
trên, để tiết kiệm thời gian, giáo viên đã không ngừng lại để học sinh hồi đáp
mà ngay lập tức đưa ra thông tin và yêu cầu sự xác nhận thông tin đó vì giáo
viên tin chắc thông tin mà học sinh bổ sung sẽ phù hợp với thông tin mà mình
đưa ra để xác nhận.
Ví dụ (33):
Cô Mỵ: Năm hình thái, nhắc lại là gì? Cuối.
HS1 (đứng lên trả lời)
Cô Mỵ: Thứ nhất là gì? Xã hội gì?
HS1: Dạ xã hội nguyên thủy.
Cô Mỵ: À, đúng rồi! Xã hội nguyên thủy. Xã hội nguyên thủy là xã hội
gì?
HS1: Ăn lông ở lỗ.
Cô Mỵ: Ăn lông ở lỗ. Ăn lông tức là ăn cả lông?
HS (cười)
Cô Mỵ: Ở lỗ tức là gì?
HS (đồng thanh) Ở hang.

vào vị trí trong câu của các yếu tố nghi vấn này mà người trả lời có câu trả lời
phù hợp. Câu hỏi dạng này chiếm một số lượng rất ít 2 câu trong tổng số câu
hỏi chuyên biệt.
Ví dụ (34):
Cô Giao: Các em đọc trang 62 trong sách giáo khoa rồi cho cô biết
coi. Trong cả xuyên suốt cái cuộc tiến công nổi dậy năm 75 này diễn ra trong
bao lâu? Vả qua mấy chiến dịch? Rồi cô mời em gái số 4.
HS số 4: Thưa cô là cuộc tiến công và nổi dậy năm 1975 đã diễn ra
trong gần 2 tháng từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 2 tháng 5 và qua 3 chiến dịch
lớn là Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đoạn thoại trên diễn ra trong một giờ Lịch sử lớp 12, giáo viên đã đặt
ra hai câu hỏi, trong đó có một câu hỏi có yếu tố nghi vấn chỉ thời gian là
“bao lâu”. Và để trả lời câu hỏi này học sinh đã đưa ra khoảng thời gian là
“gần 2 tháng từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 2 tháng 5”.
Trong thực tế quan sát và sử dụng ta thấy các yếu tố nghi vấn chỉ thời
gian khi xuất hiện không phải lúc nào cũng nhằm là để hỏi thời gian, thời
điểm mà trong những điều kiện cụ thể của cuộc hội thoại, nó còn có chức
năng như một lời yêu cầu người trả lời nêu rõ đặc trưng, điều kiện, đặc điểm
của đối tượng được đề cập trong câu. Như hỏi về điều kiện để cho hai chất có
thể tác dụng với nhau, giáo viên Hóa học có thể hỏi “Khi nào anh này tác
dụng với anh này?”. Nghe câu hỏi này bất kì học sinh nào cũng hiểu, “khi
nào” không có nghĩa là thời gian, thời điểm mà là những điều kiện hội đủ để
hai chất có thể tác dụng với nhau.
Ví dụ (35):
Cô Hồng: Rồi phương trình có nghiệm kép? Nếu ta xem nó là phương
trình bậc hai thật sự thì phương trình có nghiệm kép thì điều kiện là gì?
Cô Hồng và HS: a khác không và đen-ta bằng không.
Cô Hồng: Rồi phương trình vô nghiệm? Phương trình vô nghiệm khi
nào? Khi a khác không và đen-ta nhỏ hơn không.
Đoạn thoại trên diễn ra trong một tiết bài tập Toán của lớp 12. Nhằm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status