ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 2.2.8-CS06
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG THÔNG TIN THỐNG KÊ
CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ ĐỂ TÍNH CÁC CHỈ TIÊU THỐNG KÊ
QUỐC GIA
2. Cấp đề tài
: Cơ sở
3. Thời gian nghiên cứu : 2006
4. Đơn vị chủ trì
: Vụ phƣơng pháp chế độ
5. Đơn vị quản lý
: Viện Khoa học Thống kê
6. Chủ nhiệm đề tài
: CN. Đào Ngọc Lâm
7. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
PGS. TS. Tăng Văn Khiên
CN. Đào Thị Kim Dung
CN. Vũ Thị Mai
8. Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 8,0 / Xếp loại: Khá
404
- Kênh thông tin từ ngành dọc, bao gồm chủ yếu những thông tin từ khu
vực sản xuất kinh doanh và khu vực hộ gia đình.
405
- Kênh thông tin từ Bộ, ngành, bao gồm những thông tin đƣợc tổng hợp
từ hồ sơ hành chính, từ báo cáo hành chính.
b) Việc thu thập tổng hợp thông tin thống kê từ cấp tỉnh đòi hỏi tính
chuyên nghiệp thống kê cao hơn.
Đã gọi là hồ sơ hành chính, báo cáo hành chính thì thông tin từ kênh này
gần nhƣ là một tất yếu, một sự tận dụng cái đã có sẵn phần lớn thu thập và
tổng hợp từ dƣới lên, thông qua việc quản lý hành chính; tính thống kê mà
đặc trƣng chủ yếu là số lớn, là mẫu ít đƣợc áp dụng. Trái lại, thông tin từ sản
xuất kinh doanh, từ hộ gia đình thì phần lớn đƣợc áp dụng bằng hình thức
điều tra mẫu là chủ yếu, báo cáo định kỳ chủ yếu áp dụng đối với doanh
nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Đã nói đến điều
tra, đặc biệt là điều tra mẫu là nói đến phƣơng án điều tra, với các nội dung
khác hẳn với việc thu thập, tổng hợp từ báo cáo, nhất là từ báo cáo hành
chính. Trong đó có những nội dung đòi hỏi trình độ nghiệp vụ thống kê cao
hơn, có tính chuyên nghiệp hơn, nhƣ:
- Xác định phạm vi điều tra;
- Xác định các đơn vị điều tra, đối tƣợng điều tra;
- Xây dựng dàn chọn mẫu để điều tra;
- Phƣơng pháp chọn đơn vị mẫu;
- Phƣơng pháp điều tra;
- Tính toán suy rộng kết quả điều tra.
c) Thông tin đƣợc thu thập từ kênh ngành dọc khối lƣợng nhiều hơn thu
thập từ hồ sơ hành chính thuộc nhiều Bộ ngành quản lý nhà nƣớc.
3. Xuất phát từ thực trạng của hệ thống thông tin thống kê thu thập từ cấp tỉnh
Việc thu thập hệ thống thông tin thống kê từ cấp tỉnh, hiện nay có những
ngành dọc, trong khi không tập trung đƣợc các thông tin tổng hợp từ hồ sơ và
báo cáo hành chính của các Bộ, ngành. Tình hình này dẫn đến hai hậu quả:
Một, gánh nặng dồn vào hệ thống tổ chức thống kê tập trung, làm cho hệ
thống thống kê tập trung không có điều kiện tập trung vào các thông tin thuộc
chức năng nhiệm vụ của mình mà không có Bộ, ngành nào có thể thay thế đƣợc.
Đi kèm theo gánh nặng thông tin là gánh nặng biên chế, gánh nặng kinh phí...
Hai, không tận dụng đƣợc các thông tin tổng hợp từ hồ sơ và báo cáo
hành chính của các Bộ, ngành vô hình dung đã giảm nhẹ vai trò của hệ thống
thống kê Bộ, ngành cả về tổ chức, bộ máy, cả về chức năng nhiệm vụ, cả về
sự đa dạng phong phú của hệ thông thông tin thống kê.
- Thứ ba, do tập trung chủ yếu vào việc thu thập thông tin từ hệ thống tổ
chức thống kê ngành dọc, trong khi nguồn số liệu để báo cáo từ hồ sơ hành
chính, Cục Thống kê tỉnh, thành phố, phòng thống kê huyện, quận, thị xã,
407
thành phố trực thuộc tỉnh lại nằm ở các Sở ban ngành, ở các phòng ban
chuyên môn thuộc ngành lĩnh vực do Bộ, ngành quản lý. Một số Cục Thống
kê đã phải thốt lên:” Tổng cục Thống kê đã biến Cục Thống kê thành ngƣời
đi xin số liệu của các Sở, ngành”
- Thứ tư, Cục Thống kê phải thu thập, tổng hợp thông tin thống kê theo
địa bàn lãnh thổ, tức là phải thu thập, tổng hợp thông tin thống kê không chỉ
của những đơn vị do địa phƣơng quản lý, còn phải thu thập, tổng hợp thông
tin thống kê của những đơn vị do trung ƣơng quản lý. Điều đó giải thích tại
sao, nếu tính giá thực tế, Cục Thống kê tổng hợp vẫn còn thiếu theo số thực
tế phát sinh trên địa bàn.
PHẦN II
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG THÔNG TIN
THU THẬP TỪ CẤP TỈNH
1) Căn cứ để xác định những chỉ tiêu cần thu thập từ cấp tỉnh
0308- Năng suất lao động xã hội do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ
GDP và lao động của cả nƣớc.
0411- Năng lực sản xuất của một số sản phẩm chủ yếu do Tổng cục
Thống kê trực tiếp tổng hợp từ các Bộ, ngành.
0502- Vốn đầu tƣ thực hiện so với tổng sản phẩm trong nƣớc do Tổng
cục Thống kê trực tiếp tính từ vốn đầu tƣ thực hiện và GDP của cả nƣớc.
0503- Hệ số sử dụng vốn đầu tƣ (ICOR) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính
từ các chỉ tiêu vốn đầu tƣ, GDP theo giá thực tế, giá so sánh, tốc độ tăng GDP.
0603- Cơ cấu Tổng sản phẩm trong nƣớc (giá thực tế) do Tổng cục
Thống kê trực tiếp tính toán trên cơ sở GDP theo giá thực tế của toàn bộ nền
kinh tế và của từng nhóm ngành (nông, lâm - thủy sản, công nghiệp - xây
dựng, dịch vụ), của từng ngành cấp I... ở tầm cả nƣớc.
0604- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nƣớc (giá so sánh) do Tổng cục
Thống kê trực tiếp tính trên cơ sở GDP của cả nƣớc tính theo giá so sánh.
0605- Tổng sản phẩm trong nƣớc bình quân đầu ngƣời (tính bằng VNĐ
theo giá thực tế, tính bằng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái và sức muƣa tƣơng
đƣơng) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính cho cả nƣớc.
0606- Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp do Tổng cục Thống
kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu của cả nƣớc.
0607- Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố vốn, lao động, năng suất các
nhân tổ tổng hợp vào tốc độ tăng trƣởng chung do Tổng cục Thống kê trực
tiếp tính từ các chỉ tiêu của cả nƣớc.
0608- Tính tích luỹ tài sản gộp (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục
Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nƣớc.
0609- Tích luỹ tài sản thuần (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục
Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nƣớc.
409
0610- Tiêu dùng cuối cùng của nhà nƣớc (giá thực tế, giá so sánh) do
kê tỉnh báo cáo.
1207 - Giá trị xuất khẩu dịch vụ
410
1208 - Giá trị nhập khẩu dịch vụ
1209 - Xuất siêu/nhập siêu dịch vụ.
3 chỉ tiêu này Tổng cục Thống kê trực tiếp thu thập tổng hợp từ các Bộ
ngành (Ngân hàng nhà nƣớc và các bộ ngành có quản lý dịch vụ).
1304- 1305 Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ do do Tổng
cục Thống kê trực tiếp số liệu của Tổng cục Hải Quan không yêu cầu các Cục
Thống kê tính.
1604- Số thuê bao điện thoại bình quân 100 dân do Tổng cục Thống kê
tính từ số thuê bao và dân số bình quân.
1807- Tỷ lệ đi học phổ thông do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính trên
cơ sở số học sinh phổ thông và số dân số trong độ tuổi đi học tƣơng ứng
1903- Số thầy thuốc, số bác sĩ bình quân 10.000 dân do Tổng cục Thống
kê trực tiếp tính từ số thầy thuốc, số bác sỹ do Bộ Y tế cung cấp và số dân số
ngành Thống kê nắm.
2101- Chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) do Tổng cục Thống kê trực tiếp
tính trên phạm vi cả nƣớc dựa vào chỉ số thành phần là GDP bình quân đầu
ngƣời, chỉ số tuổi thọ và chỉ số giáo dục.
Số chỉ tiêu còn lại trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phân công
cho Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm chính thu thập, tổng hợp từ tỉnh.
Tuy nhiên trong những chỉ tiêu này, cũng còn một số chỉ tiêu đƣợc thu thập
bằng các cuộc điều tra trực tiếp do Tổng cục Thống kê tiến hành theo phƣơng
án điều tra thống nhất từ trên xuống dƣới, phƣơng án xử lý tập trung cả nƣớc
hay theo vùng, khi xử lý tổng hợp thông tin Tổng cục Thống kê sẽ chia số
liệu theo tỉnh, thành phố chẳng hạn:
2010 - Dân số Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra mẫu dân số hàng năm
thể hiện đã có nguồn thu thập; nguồn vốn ngân sách do Trung ƣơng quản lý
đầu tƣ trên địa bàn thu thập có khó khăn hơn, nhƣng có thể lấy từ kho bạc
nhà nƣớc tỉnh; còn nguồn của hộ gia đình thì có thể cài đặt vào điều tra mức
sống hộ gia đình 2 năm một lần. Muốn có số liệu hàng năm thì phải dựa vào
kết quả điều tra hộ gia đình năm trƣớc để ƣớc tính, hoặc Tổng cục cấp kinh
phí để điều tra.
1004- Số lƣợng nhà ở và tổng diện tích mặt sàn xây dựng nhà ở mới đã
hoàn thành. Tổng cục phải cho điều tra mới thu thập đƣợc số liệu này.
1401- Số lƣợt khách quốc tế đến Việt Nam.
1404- Số lƣợng, năng lực và công suất sử dụng cơ sở lƣu trú. Tổng cục
phải cho điều tra mới thu thập đƣợc.
1606- Số máy vi tính đang sử dụng. Các đối tƣợng khác thì có thể cài
đặt đựơc nhƣng đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thì chƣa có
nguồn lấy.
412
1803- Tỷ lệ đị học phổ thông (phân tổ chính là chung/đúng tuổi, cấp
học, giới tính) gặp khó khăn do mẫu số không thể cung cấp đƣợc hàng năm.
1913 - Số ngƣời tàn tật có hai vấn đề: một là phải điều tra, hai là để ngành
Thống kê điều tra hay ngành Lao động - Thƣơng bình và Xã hội điều tra.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Việc nghiên cứu xác định hệ thống thông tin cấp tỉnh để tính chỉ tiêu
thống kê quốc gia là việc làm rất cần thiết và có tính cấp bách. Ngoài ý nghĩa
hệ thống thông tin này là cơ sở đầu vào quan trọng để tính chí tiêu thống kê
quốc gia theo quyết định của Thủ tƣớng chính phủ, việc nghiên cứu xác định
hệ thống thông tin cấp tỉnh còn có ý nghĩa nhiều mặt.
Một mặt, hệ thống chỉ tiêu này cùng với các thông tin do các Sở, ngành
cung cấp (theo chế độ báo cáo tổng hợp của các Bộ, ngành quy định cho các
nhắc về phạm vi điều tra (mở rộng đến cấp tỉnh hay cấp huyện) hoặc có cách
hợp lý (ƣớc tính, xây dựng hệ số điều chỉnh) đối với cấp huyện, cấp xã để bảo
đảm có nguồn thông tin và phù hợp với cơ chế và quản lý của nứơc ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Thống kê.
2. Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/2/2004/ của Chính phủ.
3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định
3005/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ.
4. Tham gia ý kiến của 64 Cục Thống kê tỉnh/thành phố.
5. Khảo sát thực tế tại 20 Cục Thống kê tỉnh/thành phố.
414