Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc sau 20
năm tiến hành công cuộc đổi mới. Từ chỗ nền kinh tế không đáp ứng đủ
nhu cầu cho nhân dân, đến nay Việt Nam được đánh giá là nước có mức
tăng trưởng kinh tế cao nhất khu vực Đông Nam Á và đứng thứ hai thế giới
sau Trung Quốc. Thành tựu to lớn trên có được một phần xuất phát từ
đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc tập trung mọi nguồn
lực cho đầu tư phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn, trong đó có
ngành công nghiệp Dệt - May.
Với lợi thế về lao động cùng các chính sách khuyến khích đầu tư trong
nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam…ngành Dệt May Việt
Nam đã có những bước phát triển khá nhanh. Trong hơn 5 năm qua, Dệt
May Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ với tốc độ phát
triển bình quân ở mức hai con số và trở thành một trong những ngành kinh
tế xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Các sản phẩm dệt may Việt Nam đã
bước đầu tạo được vị thế trên thị trường trong và ngoài nước. Dệt May hiện
đang sử dụng gần 5% lao động toàn quốc (hơn 20% lao động trong khu vực
công nghiệp), đóng góp 8% GDP, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ hai
(sau xuất khẩu dầu thô) và đóng góp hơn 16 % trong kim ngạch xuất khẩu
của cả nước.
Tuy nhiên đằng sau tốc độ tăng trưởng cao trong suốt những năm qua,
ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã và đang mắc phải rất nhiều
những hạn chế. Nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu đến 90%, năng suất
lao động thấp, vốn đầu tư sử dụng không hiệu quả trong khi hai ngành Dệt
và May phát triển thiếu cân đối một cách trầm trọng làm cho chất lượng
tăng trưởng yếu kém. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam đang trên chặng nước
rút gia nhập WTO, Dệt May Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội mới nhưng
cũng rất nhiều những thách thức khi mà nội lực không thể đảm bảo cho
một sự tăng trưởng có chất lượng cao.
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 1
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
học Kinh tế Quốc dân và chú Hà Ngọc Quang, Trưởng Phòng Kinh tế
Ngành - Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Hà Nội, ngày…tháng…năm…
Sinh viên
Lê Thị Nhật Phương
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
CHƯƠNG I. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
NGÀNH DỆT MAY
I. VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DỆT MAY TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Vai trò của ngành Dệt May
Dệt May là một ngành sản xuất vật chất thuộc nhóm ngành công nghiệp
nhẹ sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu may mặc của con người như
sợi, vải, quần áo. Ngành Dệt May gắn liền với nhu cầu thiết yếu của mỗi
người. Vì thế, ngành này đã hình thành và đi lên cùng với sự phát triển ban
đầu của chủ nghĩa tư bản. Đây cũng là ngành yêu cầu vốn đầu tư không
lớn, thu hút nhiều lao động với kỹ năng trung bình và có điều kiện mở rộng
thương mại quốc tế…Do vậy, trong quá trình công nghiệp hoá các nước tư
bản đầu tiên như Anh, Pháp, Italia…đến các nước Nics (Hàn Quốc, Đài
Loan…) ngành Dệt may đều có vị trí quan trọng. Năm 1994, tổng kim
ngạch xuất khẩu ngành Dệt May thế giới đạt 250 tỷ USD và trong 10 năm
tới sẽ tăng 60% đối với may mặc và 34% đối với hàng dệt (theo dự báo của
WTO), trong đó châu Á chiếm khoảng 40% giá trị xuất khẩu. Ngành Dệt
May đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước,
đặc biệt là các nước đang phát triển. Song hiện nay, do nhiều yếu tố như
lượng và chủng loại mẫu mã nên phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Thứ tư, Dệt May là ngành có đóng góp lớn vào việc tăng kim ngạch
xuất khẩu, thu hút ngoại tệ cho đất nước. Từ năm 1992 đến nay, kim ngạch
xuất khẩu của ngành Dệt may liên tục tăng với tốc độ cao và là một trong
10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước và đứng thứ hai về giá trị sau
dầu thô. Năm 1995 kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam mới đạt
800 triệu USD, đến 2001 con số này tăng lên gần 2 tỷ USD (chiếm 24%
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), năm 2002 xuất khẩu đạt trên 2,7
tỷ USD.
Thứ năm, ngành dệt may góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dệt
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
May là một ngành, một bộ phận cấu thành của nền công nghiệp Việt Nam.
Sự phát triển của công nghiệp Dệt May có tác động tích cực đến sự chuyển
dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế Việt Nam. Ngành Dệt May phát
triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác. Trước tiên là việc
chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng ở một số vùng trồng nguyên liệu phục
vụ cho dệt may như đay, bông, dâu, tằm…Do đó, nó đòi hỏi ngành nông
nghiệp phát triển theo chiều hướng phá vỡ thế độc canh, chỉ trồng cây
lương thực, hoa màu. Sau đó là tác động đến việc phát triển những ngành
sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may, và ngành cơ khí cung cấp máy
móc thiết bị cho ngành Dệt May. Từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế các vùng. Vùng có ngành sản xuất Dệt May phát triển sẽ kéo theo sự
phát triển của các ngành sản xuất phụ trợ cho ngành Dệt May và cả những
ngành sử dụng sản phẩm của ngành Dệt May như giày da, nội thất, xây
dựng…từ đó tăng tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế.
Thứ sáu, với kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May năm 2002 đạt trên
2,7 tỷ USD, ngành Dệt May Việt Nam đang góp phần thúc đẩy quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Có thể khẳng định: Với lợi thế sử dụng được nhiều lao động, giải
động tăng lên. Việt Nam có điều kiện để trở thành cường quốc mới trong
lĩnh vực này do chi phí lao động thấp và các cơ sở thị trường đã được
chuẩn bị và tiếp cận. Việc lực chọn may gia công xuất khẩu trong bối cảnh
đó cho phép thu hút mạnh mẽ nguồn vốn và kỹ thuật của các nước đang có
nhu cầu chuyển giao cơ cấu.
Ngoài ra ngành Dệt May được coi là ngành giữ vị trí nòng cốt trong
chiến lược sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam. Từ năm 1991 đến nay,
kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may không ngừng tăng lên. Tốc độ tăng
trưởng bình quân giá trị sản lượng hàng dệt may giai đoạn 1992-1998 là
43,5%/năm. Tỷ trọng hàng dệt may xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của nước ta luôn tăng từ 7,6% năm 1991 đến 15% năm 98. Trước tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được nâng cao và mở rộng,
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
đặc biệt trong thời kỳ sắp tới, ngành Dệt May Việt Nam ngày càng khẳng
định vai trò là ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, góp
phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
II. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DỆT MAY
1. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật
dụng quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm
ghế, ô dù, mũ nón v.v. mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh
hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão,
các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi
trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn,
bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc,
để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa
như chỉ khâu và bông băng. Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền
với sự phát triển của các nước công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành
USD, trong khi đó suất đầu tư của ngành giấy là gần 3.000 USD. Bên cạnh
đó, do đặc thù sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong thời gian ngắn nên thời
hạn thu hồi vốn đối với ngành Dệt là 12-15 năm, ngành May là 5-7 năm,
trong khi đó đối với các ngành công nghiệp khác, thời gian thu hồi vốn là
15 năm, thậm chí hàng chục năm như công nghiệp thép chẳng hạn. Do đặc
điểm về công nghệ sản xuất không quá phức tạp, lao động của ngành Dệt
May lại dễ đào tạo nên việc tổ chức sản xuất các doanh nghiệp vừa và nhỏ
rất phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế và xã hội của các quốc gia nhỏ bé
như Việt Nam.
Đối với ngành Dệt May Việt Nam, truyền thống làng nghề, truyền thống
văn hóa là một yếu tố tác động khá lớn đến đặc điểm kỹ thuật sản xuất của
ngành. Lịch sử cho thấy, người dân Việt Nam có truyền thống lâu đời về
Dệt May. Từ thời phong kiến đã hình thành nên các làng nghề thủ công và
các tổ chức công nghiệp. Các làng Dệt ở ven Hồ Tây ngày nay như Trích
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
Sài, Yên Thái, Nghĩa Đô đã nổi tiếng ngay từ triều Lý Công Uẩn (năm
1010). Các vùng nuôi tằm tại Hưng Yên, Thái Bình…; trồng bông tại các
vùng cao nguyên miền núi phía Bắc Việt Nam và một số tỉnh như Ninh
Thuận, Đồng Nai.. cũng được hình thành từ rất sớm. Năm 1989 đánh dấu
sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp Dệt tại Việt Nam kể từ khi
người Pháp tiến hành xây dựng Khu công nghiệp dệt tại Nam Định.
Hiện nay song song với sự phát triển của các công ty dệt may trong
nước, các làng nghề Dệt May truyền thống của Việt Nam vẫn không ngừng
được bảo tồn và phát triển. Nghề dệt vải không ngừng được cải tiến và phát
triển mạnh mẽ. Từ những sản phẩm lụa mộc mạc ban đầu ngày nay đã có
những mặt hàng độc đáo, cao cấp như gấm, lụa, the, lĩnh…mịn, óng, mềm
mại, với màu sắc và hoa văn sinh động, tinh tế… Mặt hàng vải thổ cẩm dệt
thủ công, vải tơ lụa cũng không ngừng được nâng cao về chất lượng, phong
phú về chủng loại, màu sắc và hoa văn…được các bạn hàng trong nước
trưởng. Chất lượng tăng trưởng được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và
nghĩa hẹp.
Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp phản ánh sự biến động về cơ
cấu bên trong tạo thành bản chất của sự tăng trưởng và thể hiện được hiệu
quả trong sự vận động của quá trình tăng trưởng đó trong một hoàn cảnh,
giai đoạn nhất định. Thông qua khái niệm theo nghĩa hẹp này có thể thấy,
giống như bao hiện tượng khác, tăng trưởng cũng có mặt lượng và mặt
chất. Mặt lượng thể hiện ở tốc độ tăng trưởng trong từng thời kỳ, còn mặt
chất thể hiện tính hiệu quả, tính hiện đại, tính bền vững, và tính cân đối bên
trong quá trình tăng trưởng.
Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng hơn còn thể hiện mối liên hệ
qua lại giữa ba lĩnh vực: quá trình tăng trưởng về mặt kinh tế, các vấn đề về
xã hội và môi trường. Đây chính là cách hiểu chất lượng tăng trưởng đồng
nghĩa với tăng trưởng bền vững. Lâu nay ta vẫn nói tốc độ tăng trưởng cao.
Nhưng vấn đề đặt ra là duy trì tốc độ này được bao lâu, nguồn tăng trưởng
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 11
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
ấy do đâu mà có và suy cho đến cùng, liệu tốc độ tăng trưởng cao có đảm
bảo một cuộc sống no đủ cho người dân.
Từ cách hiểu chất lượng tăng trưởng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, có
thể thu hẹp lại khái niệm chất lượng tăng trưởng trong phạm vi từng ngành.
Đối với ngành Dệt May, khi xem xét quá trình tăng trưởng, người ta không
chỉ quan tâm tới tốc độ tăng của sản lượng, của giá trị sản xuất hay giá trị
xuất khẩu; mà còn quan tâm nhiều đến chất lượng tăng trưởng ngành dệt
may, tức xem xét sự vận động của các yếu tố nội tại bên trong như tỷ trọng
chi phí trung gian trong giá trị sản xuất, việc sử dụng lao động hay nguồn
vốn đầu tư, tương quan giữa hai ngành Dệt và May; hay theo nghĩa rộng là
tác động của quá trình tăng trưởng tới môi trường và tới cuộc sống của
người lao động.
2. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngành Dệt May
nhiều lao động), chi phí dành cho công tác quảng cáo, tiếp thị…
c. Các chi phí khác
Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, ngành công nghiệp Dệt May
Việt Nam còn chịu thêm một khoản chi phí khác: chi phí về hạn ngạch.
Đây là một khoản chi phí không chính thức nhưng lại có giá trị không nhỏ
chút nào, đặc biệt đối với những nước xuất khẩu hàng dệt may mà chưa
phải là thành viên của WTO như Việt Nam. Chi phí này phát sinh do các
doanh nghiệp phải bỏ ra để có thêm được một phần hạn ngạch khi xuất
khẩu ra thị trường thế giới. Thông thường các chi phí này không được công
khai và hạch toán cụ thể nên khó có thể kiểm soát được. Chi phí này chỉ có
thể được loại bỏ khi nước xuất khẩu trở thành thành viên WTO, mọi doanh
nghiệp sẽ được cạnh tranh một cách bình đẳng và tránh phải tiêu tốn vào
những khoản chi phí lớn nhưng không đem lại giá trị nào cho sản phẩm.
Có thể thấy, chi phí đóng vai trò quyết định đối với sự thành công của
doanh nghiệp. Sản lượng làm ra dù có nhiều, kim ngạch xuất khẩu dù có
lớn nhưng chi phí lại chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm thì
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 13
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
lợi nhuận tạo ra sẽ rất thấp, ngành công nghiệp dệt may nội địa sẽ mãi chỉ
là nơi gia công sản phẩm cho thị trường nước ngoài mà thôi.
2.2 Hiệu quả trong sử dụng lao động
Lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với một ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động như ngành dệt may. Lao động trong ngành
Dệt May có thể chia ra làm 2 loại chủ yếu dựa trên tính chất công việc của
họ, đó là lao động gián tiếp và công nhân lao động trực tiếp tạo ra sản
phẩm.
Những lao động gián tiếp tạo ra sản phẩm là các cán bộ khoa học kỹ
thuật, những người làm công tác quản lý và nhân viên kinh doanh. Đây là
nhóm lao động trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, vì vậy sử dụng những lao
động này có hiệu quả sẽ góp phần phát triển doanh nghiệp. Trung Quốc là
hoàn chỉnh cần trải qua rất nhiều giai đoạn, các giai đoạn này được chia
theo 2 ngành chủ yếu là ngành dệt và ngành may. Thông qua ngành dệt,
bông sợi được chuyển hoá thành vải. Sau đó vải tiếp tục trở thành nguyên
liệu cho ngành may mặc để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Sự phát triển cân
đối, hài hoà giữa 2 ngành dệt và may sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững,
chắc chắn của toàn ngành Dệt - May. Phát triển cân đối hai ngành Dệt và
May không có nghĩa là đầu tư như nhau để cùng sản xuất ra một sản lượng
như nhau mà sự phát triển của ngành này phải tương xứng với ngành kia,
tạo điều kiện cho ngành kia phát triển.
Lịch sử phát triển của ngành Dệt – May ở một số nước cho thấy một
quy luật chung là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, ngành dệt
may của tất cả các nước đều phải nhập nguyên liệu, kể cả nguyên liệu cho
ngành dệt lẫn nguyên liệu cho ngành may. Tuy nhiên để phát triển được
đến như ngày hôm nay, một số nước phải tiến hành chuyên môn hoá ngành
dệt trước sau đó mới tiếp tục chuyên môn hoá ngành may. Tức là ngành dệt
phải đi trước một bước để tạo điều kiện phát triển ngành may. Đài Loan là
một ví dụ điển hình cho việc thất bại của ngành dệt may khi không đảm
bảo sự phát triển cân đối giữa 2 ngành Dệt và May. Ngành dệt sợi bông đã
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
từng phát triển rực rỡ nhất ở Đài Loan vào những năm 60. Nhưng đến nay,
do không tiếp tục chú ý đến phát triển ngành này mà Đài Loan phải nhập
khẩu 100% khối lượng bông sử dụng. Bởi vậy tốc độ tăng trưởng toàn
ngành đã giảm mạnh vào năm 1993, khi các nước cung cấp sợi bông chính
cho Đài Loan đã đột ngột giảm lượng xuất khẩu của họ. Thực tế này cho
thấy việc phát triển cân đối 2 ngành Dệt và May là một nhân tố hết sức
quan trọng để đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả ngành
Dệt – May.
Đối với Việt Nam, là một nước đi sau Việt Nam có nhiều thuận lợi do
có nhiều cơ hội học hỏi kinh nghiệm của những nước tiên tiến. Bên cạnh
cho giá cả mang tính cạnh tranh, tạo ra sự khác biệt về giá hàng may mặc
của Srilanca so với giá hàng may mạc của nhiều đối thủ cạnh tranh khác từ
10-15%. Có nhiều điều kiện giúp Srilanca thực hiện được điều này như giá
nhân công khá thấp so với Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaisia. Mặt
khác, để đảm bảo nguồn nguyên phụ liệu đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng
may mặc xuất khẩu, Srilanca đã ký Hiệp định tự do thương mại song
phương với Ấn Độ từ năm 1998 để nhập khẩu bông, vải với giá thấp từ Ấn
Độ. Bên cạnh đó, do được hưởng hiệu ứng lan toả về công nghệ sản xuất
hiện đại và trình độ quản lý sản xuất tiên tiến từ các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, góp phần giảm giá thành trong sản xuất và giá bán trên
thị trường EU. Ví dụ vào thời điểm tháng 5/2004, áo Jacket, quần áo thể
thao dệt kim, đan hoặc móc của Srilanca bán với giá 7,54 Euro/chiếc, trong
khi Trung Quốc bán với giá 8,98 Euro/chiếc, Ấn Độ bán với giá 8,08 Euro/
chiếc, Việt Nam bán với giá 13,35 Euro/chiếc…Mặc dù yếu tố giá cả
không phải là yếu tố quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh
với các sản phẩm khác, nhưng với tâm lý của khách hàng nói chung thì
hàng may mặc nào có giá thấp hơn vẫn mang lại một khả năng cạnh tranh
tốt hơn.
b. Mẫu mã đa dạng và hợp mốt là một yếu tố vô cùng quan trọng để nâng
cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may, đặc biệt đối với các thị
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 17
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
trường các nước phát triển có những khách hàng khá quan trọng trong
ăn mặc như EU hay Mỹ…Nắm bắt đặc điểm này, Srilanca đã đa dạng
hoá các chủng loại hàng dệt may xuất khẩu. Srilanca đã tập trung vào
xuất khẩu những loại hàng may mặc mang lại giá trị gia tăng cao như
váy, comple, các bộ quần áo veston, nhóm hàng này đã có sức cạnh
tranh mạnh với hàng may mặc của các đối thủ cạnh tranh Malaysia, Hàn
Quốc, Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản nhờ giá bán thấp, chất lượng
cao và nhãn hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, những hàng may mặc được may,
khách hàng hiện nay thường chuộng các sản phẩm mang nhãn mác của
các công ty nổi tiếng, vì vậy doanh nghiệp nào, hãng may mặc nào có
uy tín sẽ có sức cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ khác. Srilanca là một
quốc gia đã khai thác rất tốt khía cạnh này để thúc đẩy khả năng cạnh
tranh của sản phẩm may mặc xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Nhiều
nhãn hiệu may mặc nổi tiếng trên thế giới được các nhà sản xuất
Srilanca trực tiếp sản xuất thông qua hình thức nhượng quyền thương
mại như Victoris’s Secret, Liz Claiborne, Pierre Cardin, Nike, GAP,
Triumph, LM, Shadowline, Tommy Hilfinger…, sau đó xuất khẩu sang
EU. Có tới 65% hàng may mặc xuất khẩu của Srilanca dưới những nhãn
hiệu này thông qua việc nhượng quyền thương mại. Đây là một lợi thế
rất lớn trong cạnh tranh của hàng may mặc Srilanca, những nhãn hiệu
nổi tiếng này rất quen thuộc với khách hàng trên khắp thế giới về uy tín,
chất lượng, tính thời trang, sự sang trọng trong mỗi sản phẩm nên luôn
được khách hàng ưu tiên lựa chọn, tạo ra khả năng cạnh tranh to lớn
trước sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
2.5 Tác động của tăng trưởng tới môi trường và xã hội
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng, tức là
xét tăng trưởng của ngành Dệt May trong mối liên quan với sự phát triển
kinh tế.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền
kinh tế. Nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 19
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
vấn đề kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Trong vài thập niên trở lại đây,
khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ
khá cao nhưng bắt đầu xuất hiện những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng
trưởng nhanh đó đến tương lai con người, người ta bắt đầu quan tâm đến
“Phát triển kinh tế bền vững”, một khái niệm rộng hơn “ Phát triển kinh
tế”. Phát triển kinh tế bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết
Tính chất mũi nhọn của ngành Dệt May được luận giải ở hai tiêu chuẩn
chính là năng lực tạo công ăn việc làm cao và khả năng mang lại nguồn thu
ngoại tệ lớn. Bên cạnh đó, việc ưu tiên phát triển ngành này còn phù hợp
với xu hướng chuyển dịch cơ cấu đang diễn ra trong khu vực.
Dệt may là một ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất. Hiện
nay ước tính có khoảng hơn 1100 doanh nghiệp dệt may trong toàn ngành
và hàng chục ngàn cơ sở nhỏ khác nhau, thu hút một lượng lớn lao động
hơn 3.100.000 người, chiếm khoảng 22,7% lao động công nghiệp toàn
quốc. Theo chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt May đến năm 2010,
lực lượng lao động ngành Dệt May sẽ tăng lên 4.000.000 người, đó là chưa
kể một lực lượng lao động khá lớn thu hút vào lĩnh vực phát triển cây bông
và trồng dâu nuôi tằm (ước tính số lao động này hiện nay khoảng 180.000
người, đến năm 2010 khoảng 450.000 người).
Bên cạnh đó ngành Dệt May là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao, chỉ
đứng sau dầu khí: năm 2000 KNXK của ngành đạt gần 2000 triệu USD,
năm 2005 đạt gần 5000 triệu USD và ước năm 2010 đạt khoảng 7000-8000
triệu USD. Thông qua việc xuất khẩu, ngành Dệt May góp phần vào công
cuộc hội nhập vào nền kinh tế thế giới và nền kinh tế khu vực của Việt
Nam, đồng thời mang về cho đất nước một khoản thu ngoại tệ lớn, đóng
góp vào tích luỹ tư bản cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nhưng để có được những kết quả này, ngành phải chịu một áp lực
cạnh tranh rất cao trên thị trường quốc tế, phải đáp ứng những tiêu chuẩn
khắt khe mà các đối tác nước ngoài đưa ra. Bởi vậy, ngành Dệt May cần
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 21
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
phải được đầu tư thích đáng để có thể trụ vững và phát triển không ngừng
trên thị trường quốc tế.
Thứ hai, thực trạng chất lượng tăng trưởng ngành Dệt May còn khá
nhiều hạn chế, không đảm bảo được một ngành Dệt May phát triển bền
vững trong tương lai.
chiến lược phát triển, đẩy mạnh các giải pháp nhằm khắc phục tính không
hiệu quả trong quá trình phát triển của ngành.
Gia nhập WTO mang lại cho Dệt May Việt Nam cơ hội có một thị
trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm; cơ hội được tiếp cận dễ dàng
hơn với các nguyên phụ liệu chưa có điều kiện sản xuất và các công nghệ
sản xuất, kinh nghiệm quản lý từ các nước phát triển; cũng như cơ hội thu
hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển
của các nước và các định chế tài chính quốc tế . Tuy nhiên đồng hành với
các cơ hội, nền kinh tế nước ta và các doanh nghiệp cũng phải đối đầu với
các thách thức lớn. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt trên cả 3 cấp độ do hàng
rào bảo hộ bị dỡ bỏ, do phải thực hiện chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và đối
xử quốc gia nên các sản phẩm của Việt Nam phải cạnh tranh bình đẳng với
các sản phẩm nước khác (đặc biệt là sản phẩm dệt may của Trung Quốc,
sản phẩm có tính cạnh tranh cao nhất trên thế giới) không chỉ trên thị
trường thế giới và ngay cả trên thị trường nội địa.
Những chi tiết cụ thể về thực trạng chất lượng tăng trưởng ngành Dệt
May Việt Nam sẽ được phân tích rõ ở chương sau, nhưng có thể thấy rõ
ràng một điều là quá trình phát triển của ngành Dệt May Việt Nam còn quá
nhiều hạn chế. Vì vậy để có thể tồn tại và phát triển được trong bối cảnh
trong nước và quốc tế hiện nay, ngành cần bám sát thị trường nội địa và thị
trường xuất khẩt, tâp trung đổi mới thiết bị công nghệ, đào tạo cán bộ quản
lý, kỹ thuật, công nhân lành nghề…
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 23
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kế hoạch và Phát triển
V. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN
NGÀNH DỆT MAY.
1. Đài Loan
Trong số các ngành công nghiệp truyền thống, ngành dệt là một trong
những ngành ra đời sớm nhất ở Đài Loan và có tốc độ tăng trưởng cao
trong những năm 1960, 1970. Trong những năm đầu của thập kỷ 80,
Với nhiệm vụ ban đầu là nhanh chóng đưa Hàn Quốc lên vị trí nước
xuất khẩu lớn hàng đầu thế giới, công nghiệp dệt và may mặc của nước này
bắt đầu có triển vọng ở thị trường bảo hộ mậu dịch trong nước vào những
năm 50 va đạt tới mức phát triển cao vào những năm 60 và 70. Từ 1962
đến 1975, ngành công nghiệp này đã tăng trưởng với mức độ phi thường,
16% mỗi năm, phần lớn nhờ việc đẩy mạnh xuất khẩu. Đến khoảng năm
1971 nó đã đạt tới đỉnh điểm phát triển, tính ra là 53% tổng số hàng hoá
xuất khẩu với trị giá 1 tỷ USD. Trong những năm 70, tốc độ tăng trưởng
còn phi thường hơn, đạt tốc độ 20%/năm, mặc dầu xuất khẩu hàng dệt và
may mặc bắt đầu xuống dốc, chỉ chiếm được một phần nhỏ trong tổng số
hàng xuất khẩu. Cho đến đầu thập kỷ 80, ngành công nghiệp này bắt đầu
rơi vào khủng hoảng với mức tăng trưởng nhỏ giọt là 5% từ 1979 đến
1984.
Vào năm 1988, mặc dù hàng điện tử đã vượt hàng dệt và hàng may mặc
như một mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất, công nghiệp dệt và may mặc
vẫn tiếp tục là một thành phần kinh tế chủ chốt dù đã suy yếu. Hiện nay nó
chiếm ¼ tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc, và vào giữa những năm 80
nó đã tạo ra việc làm cho khoảng 783.000 người trong số 3,3 triệu lao
động, tạo ra một thành phần kinh tế phi nông nghiệp độc lập lớn nhất. Bất
chấp chế độ bảo hộ nền công nghiệp nội địa đang tăng lên ở các thị trường
chính trong nước, Hàn Quốc vẫn đứng thứ ba trong số các nước xuất khẩu
hàng dệt lớn nhất thế giới sau Italia và cộng hoà liên bang Đức, cung cấp
9% sản lượng hàng dệt của thế giới. Các thị trường lớn nhất của ngành
Lê Thị Nhật Phương - Lớp KTPT 44A Trang 25