Tổng quan thực trạng ngành công nghiệp
dệt may Việt Nam
I. Vị trí ngành công nghiệp dệt may Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân.
Ngành dệt may Việt Nam có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân nhằm đảm bảo hàng hoá cho tiêu dùng trong nớc, có điều kiện mở rộng thơng
mại quốc tế, thu hút nhiều lao động, tạo ra u thế cạnh tranh cho các sản phẩm xuất
khẩu, mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nớc. Năm 1995 giá trị xuất khẩu ngành dệt
may đạt 14.4% so với giá trị xuất khẩu toàn quốc và liên tục tăng lên qua các
năm. Số liệu đợc tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu ngành dệt- may.
(Đơn vị: triệu USD)
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996
Giá trị 116 180 350 550 750 1150
(Nguồn: Bộ công nghiệp nhẹ - Tổng công ty dệt- may Việt nam)
Đồng thời ngành dệt may cũng là ngành mang tính xã hội cao, sử dụng
nhiều lao động rộng rãi trên khắp mọi miền đất nớc, đặc biệt là lao động nữ. Số
lao động công nghiệp của ngành vào loại đứng đầu cả nớc: khoảng 300.000 lao
động chính và nhiều lao động phụ khác.
Trong các thời kì đã qua, ngành đã có bớc phát triển và giữ một vai trò quan
trọng trong sản xuất hàng tiêu dùng, giải quyết công ăn việc làm, góp phần tạo sự
ổn định chính trị - kinh tế - xã hội nên đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm. Ngành dệt
may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng về ăn mặc của nhân dân, quốc phòng và
tiêu dùng trong công nghiệp khác.
II. Thực trạng mặt hàng may và phụ liệu may.
Sản phẩm ngành may rất đa dạng, có tính chất thời trang, vừa có tính
quốc tế, vừa có tính dân tộc. Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đợc nâng
cao, yêu cầu hàng may mặc lại càng phong phú, đa dạng, yêu cầu về chất lợng
cao hơn. Bên cạnh những mặt hàng truyền thống nhân dân mặc hàng ngày,
thông qua gia công cho các nớc, các doanh nghiệp may Việt nam có điều kiện
làm quen với công nghệ may các mặt hàng phức tạp, thời trang trên thế giới.
Các nhóm mặt hàng các doanh nghiệp may đang thực hiện, phục vụ nhu cầu
một cơ hội mới đã mở ra cho ngành dệt may Việt nam có đợc một thị trờng t bản
quan trọng với hơn 350 triệu dân có mức sống cao để xuất khẩu sản phẩm dệt may
với tổng khối lợng trao đổi hàng năm vào khoảng 22 - 23 ngàn tấn.
Ngành dệt may Việt nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức gia
công hoặc phơng thức thơng mại thông thơng với một số nớc có nền công nghiệp
phát triển nh : Nhật Bản, Canada... các nớc công nghiệp mới nh Đài Loan, Hồng
Kông, Hàn Quốc, Singapo và gần đây khi Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam hàng dệt
may Việt nam có thêm thị trờng Mỹ với sức mua rất cao.
Tuy đã có những thuận lợi hơn trong việc mở rộng thị trờng, nhng thử thách
đối với hàng dệt may của ta đối với thị trờng thế giới còn rất lớn. Đó là khả năng
thích ứng về mẫu mốt, chất lợng, giá cả, thời hạn giao hàng theo thời vụ và tập
quán buôn bán còn rất hạn chế. Số lợng sản phẩm chất lợng cao đáp ứng nhu cầu
ngời tiêu dùng ở các nớc phát triển cha nhiêù.
Cho đến nay, ngành dệt may Việt nam đã có quan hệ buôn bán với hơn
200 công ty thuộc hơn 40 nớc trên thế giới và khu vực. Tuy vậy, thị trờng xuất
khẩu vẫn không ổn định, đặc biệt là thị trờng phi hạn ngạch do các nguyên
nhân chủ yếu sau:
- Hàng hoá do ta sản xuất cha phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách
hàng.
- Phơng thức hoạt động chủ yếu là gia công xuất khẩu.
- Mẫu mã thờng sản xuất theo mẫu của khách hàng.
- Việc tổ chức mạng lới thông tin, tiếp thị ở nớc ngoài cha triển khai thống
nhất.
- Một số thị trờng cha đợc hởng quy chế u đãi.
- Còn chứa đựng nhiều hiểu biết về thủ tục tập quán và luật lệ của các nớc
và khu vực trên toàn thế giới.
2. Thị trờng dệt may trong nớc.
Do xu hớng tự do hoá mậu dịch nên hàng may mặc tràn vào nớc ta từ nhiều
nguồn: hàng nhập trốn thuế, hàng second-hand...giá rất rẻ, tràn ngập thị trờng
trong nớc đã làm cho sản xuất hàng dệt - may trong nớc bị thu hẹp. Thị hiếu trong
Trong đó công nghiệp ngoài quốc doanh từ 296 lên 384.
Khu vực ngoài quốc doanh, trớc năm 1990, chủ yếu là các hợp tác xã, đến
nay đã thay đổi cơ bản:
Công ty t doanh 17,7%
Công ty TNHH 53,5%
Công ty cổ phần 2,5%
Khu vực hợp tác xã giảm sút, tan rã khách hàng không còn mấy, một số
chuyển sang công ty TNHH, công ty cổ phần. Các công ty t nhân, công ty
TNHH phát triển rất nhanh, có khả năng huy động vốn trong dân, năng động
trong sản xuất kinh doanh, chủ động bám sát thị trờng trong và ngoài nớc, sản
xuất các mặt hàng chất lợng tốt, hợp thị hiếu, theo yêu cầu của khách hàng.
Hầu hết các cơ sở này có quy mô vừa và nhỏ 100 - 300 lao động. Đặc điểm của
các công ty TNHH, công ty t nhân là:
- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, làm ăn có tính toán, quyết định nhanh.
- Đảm bảo chất lợng hàng hoá, giữ uy tín với khách hàng .
- Hoạt động tiếp thị rất tích cực.
- Lao động có tay nghề cao.
- Vốn bỏ ra ít , thu lãi nhiều.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp cho ngành may, cho xã hội
một khối lợng hàng may mặc tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu tơng đối nhiều.
Tiềm năng của các doanh nghiệp may ngoài quóc doanh rất lớn, điều đó là thách
thức lớn đối với các doanh nghiệp may quốc doanh trong cạnh tranh.