MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 1
A. LỜI GIỚI THIỆU ...................................................................................... 2
B. NỘI DUNG .................................................................................................. 3
Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam ................. 3
I. Quá trình hình thành và phát triển ............................................................... 3
II. Vai trò và vị trí của ngành trong nền kinh tế quốc dân ............................. 4
Chương 2: Thực trạng ngành công nghiệp ô tô trong nước ........................ 5
I. Thực trạng ..................................................................................................... 5
1. Sản xuất ................................................................................................. 6
2. Công nghệ ............................................................................................. 7
3. Lao động ................................................................................................ 9
4. Thị trường tiêu thụ ............................................................................... 10
5. Cơ sở hạ tầng ...................................................................................... 12
6. Các vấn đề về thuế ............................................................................... 13
II. Đánh giá ..................................................................................................... 14
1. Ưu điểm ............................................................................................... 14
2. Nhược điểm ......................................................................................... 15
3. Nguyên nhân ........................................................................................ 16
Chương 3: Phương hướng và giải pháp ...................................................... 19
I. Phương hướng ............................................................................................ 19
II. Giải pháp ................................................................................................... 20
C. KẾT LUẬN ............................................................................................... 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 24
Đề án môn học
A. LỜI GIỚI THIỆU
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở nước ta ngày nay đang là 1 ngành hết
sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát triển ngành công nghiệp này
sẽ là động lực và sức mạnh để giúp đất nước hoàn thành công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa và trở thành một nước phát triển. Sự ảnh hưởng của
nó đến các ngành công nghiệp khác là rất đáng kể và thể hiện là một trong
Nền tảng của các doanh nghiệp ôtô trong nước là những doanh nghiệp cơ
khí lớn trước kia làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay được bổ sung, nâng
cao năng lực sản xuất. Các doanh nghiệp này hầu hết được tổ chức theo
hướng chuyên môn hoá một số chủng loại xe (xe tải, xe khách, xe chuyên
dùng) với dây chuyền sản xuất đơn giản là gò, hàn, sơn, lắp ráp... thiếu sự hợp
tác lẫn nhau. Trang thiết bị phần lớn lạc hậu. Trừ một vài doanh nghiệp có
đầu tư lớn như Xuân Kiên, Trường Hải... còn lại tổng giá trị tài sản mỗi doanh
nghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng.
Với các doanh nghiệp FDI ôtô, trừ Công ty Hino sản xuất xe tải nặng,
còn lại đều có thể tổ chức sản xuất bất kỳ sản phẩm nào. Các doanh nghiệp
này đại diện cho những nhà sản xuất lớn với bí quyết công nghệ khác nhau
nên hầu như ít phối hợp, mà cạnh tranh lộn xộn.
Hầu hết các liên doanh chỉ mới thực hiện phương thức lắp ráp với dây
chuyền công nghệ gần giống nhau như hàn lắp khung xe, tẩy rửa sơn... Tỷ lệ
nội địa hoá của các liên doanh cao nhất không quá 25% (Toyota Việt Nam
cho biết chiếc xe Vios mới ra mắt cuối tháng 9/2007 có tỷ lệ nội địa hoá đạt
25%), thấp nhất là 2%. Việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cũng
mới chỉ đáp ứng cho công đoạn lắp ráp ôtô.
3
Đề án môn học
II. Vai trò và vị trí của ngành trong nền kinh tế quốc dân
Việt Nam có cần ngành công nghiệp ôtô không?
Câu trả lời là rất cần. Điều này đã ghi rất rõ trong Chiến lược phát triển
công nghiệp ôtô giai đoạn 2010 tầm nhìn đến 2020 do Chính phủ phê duyệt.
Theo đó công nghiệp ôtô rất quan trọng được ưu tiên phát triển để phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và an ninh quốc phòng.
Theo các chuyên gia công nghiệp ôtô vốn được coi là xương sống của
ngành công nghiệp. Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất nhiều những công
nghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật liệu và điện
tử... Những công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng sang các lĩnh vực sản
tranh. Những doanh nghiệp tham gia vào ngành đa phần đều đi theo con
đường liên doanh liên kết với các hãng này để lắp ráp ô tô. Để sản xuất ra
những dòng xe tiện nghi của riêng người Việt vẫn đang là mong đợi của
những doanh nghiệp tham gia vào ngành.
Ngành công nghiệp ô tô đang được rất nhiều sự ưu ái của nhà nước.
Chính sách bảo hộ quá kĩ lưỡng có thể dẫn đến tình trạng trì trệ trong quá
trình sản xuất. Trong khi các hãng xe trên thế giới đang ồ ạt xâm nhập thị
trường nội địa thì các chính sách này của nhà nước càng làm giảm khả năng
cạnh tranh của ngành ô tô trong nước.
Để hiểu rõ hơn thực trạng của ngành công nghiệp chúng ta sẽ lần lượt
tìm hiểu các yếu tố trong ngành.
5
Đề án môn học
1. Sản xuất
Hơn 10 năm qua, ngành công nghiệp này vẫn luẩn quẩn trong vòng lắp
ráp với tỷ lệ nội địa hoá mờ nhạt. 17 doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và
lắp ráp ôtô có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư, trong đó
có 12 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1 tỷ
USD, tổng năng lực sản xuất đạt khoảng 150.000 xe/năm, nhưng đến nay vẫn
chưa có doanh nghiệp nào thực hiện đúng cam kết tỷ lệ nội địa hóa (đạt từ 20
- 40% sau thời gian 5 - 10 năm).
Riêng đối với các liên doanh sản xuất ôtô tại Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa
cũng rất thấp, chỉ khoảng 5 - 10% và không đạt kế hoạch đề ra.
Hiện nay, các vật liệu như thép tấm, thép hình, thép đặc biệt... để làm
phụ tùng nội địa hoá, trong nước chưa chế tạo được. Các vật liệu khác cũng
tương tự, đều không có nhà cung cấp. Khi chưa có hệ thống các nhà cung cấp
nguyên vật liệu, sản xuất linh kiện hùng hậu thì công nghiệp ôtô khó tránh
khỏi cảnh lắp ráp giản đơn.
Một câu hỏi nữa được đặt ra là chỉ tập trung cho sản xuất xe tải, xe
khách liệu có được cho là có ngành công nghiệp ôtô? Hiện nay các nhà hoạch
có chính sách đúng về khuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ thì sẽ
thành công.
Chúng ta có thể liên doanh liên kết với những hãng ô tô khác trên thế
giới, học hỏi công nghệ, mua dây chuyền sản xuất, cải tiến kĩ thuật nhằm đáp
ứng được những tiêu chuẩn về chất lượng.
Công nghiệp phụ trợ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
công nghiệp sản xuất ô tô. Hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất
được một số linh kiện, phụ tùng ô tô đơn giản như săm, lốp, dây điện... Trong
khi đó, để hoàn thiện được một chiếc ô tô cần tới gần 30.000 chi tiết, do vậy
rất cần nhiều đơn vị sản xuất cung cấp linh kiện, phụ tùng chuyên nghiệp.
7
Đề án môn học
Nếu ví ngành công nghiệp ô tô như một quả núi thì các doanh nghiệp sản
xuất, lắp ráp là phần ngọn, còn phần quan trọng nhất là chân núi chính là công
nghiệp phụ trợ.
Chính vì thế, tại các nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển có tới
hàng ngàn nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho một hãng ô tô. Thực tế trên
thế giới, công nghiệp ô tô cũng chỉ tập trung ở một số quốc gia có công nghệ
cao. Tại châu Âu chỉ chưa đầy 5 nước có ngành công nghiệp ô tô như Đức,
Pháp, Anh… ở khu vực Đông Nam Á cũng chỉ có Malaysia có công nghiệp
sản xuất ô tô còn Thái Lan chủ yếu chỉ sản xuất xe Pickup (xe bán tải). Tuy
nhiên Thái Lan lại chọn con đường phát triển công nghiệp phụ trợ trước khi
xây dựng các nhà máy sản xuất.
Theo PGS-TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính
sách - Chiến lược công nghiệp (Bộ Công thương), hiện nay Thái Lan đã có
trên 1.000 doanh nghiệp phụ trợ còn Việt Nam hiện mới chỉ có vẻn vẹn
khoảng 60 doanh nghiệp phụ trợ còn yếu thì đã có đến 14 liên doanh và 35
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Có thể nói Việt Nam và Thái
Lan là điển hình của hai chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô, trong
đó Thái Lan phát triển từ gốc còn chúng ta “xây nhà từ nóc”.
hóa. Trên thực tế, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong 10 năm qua vẫn
đang ở vạch xuất phát. Theo thống kê, Việt Nam hiện có 40 doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài và 30 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh kiện ô tô
- chủ yếu sản xuất các phụ tùng đơn giản. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập
WTO gần như đã “vô hiệu hóa” chính sách nội địa hóa công nghiệp ô tô.
3. Lao động
Yếu tố con người luôn luôn là yếu tố tiên quyết để đi tới thành công
trong bất kì lĩnh vực nào. Chúng ta không thể chờ đợi cơ hội đến với mình
nếu như con người không cố gắng và có đủ khả năng để nắm bắt cơ hội ấy.
9