Luận văn Thạc sĩ: Ứng dụng phương pháp dạy học tương tác trong giảng dạy môn Kỹ thuật lập trình cho học sinh Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc - Pdf 58

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết ra trong luận văn này là do sự tìm 
hiểu và nghiên cứu của bản than. Mọi kết quả nghiên cứu cũng như  ý tưởng 
của cá tác giả khác nếu có đều được trích dẫn cụ thể và đầy đủ.
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề  được bảo vệ  tại bất kỳ  một  
hội động bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và  
cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin, truyền 
thông nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên 
đây.
Vĩnh Phúc, ngày  ….. tháng ….năm 2013
Tác giả

Hoàng Đắc Mạnh

Trang 1


MỤC LỤC

Trang 2


DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tắt
BGĐT
CĐN
CNTT
CNDH

Người dạy làm trung tâm
Người học làm trung tâm
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Sư phạm
Sư phạm tương tác
Thực nghiệm
Quá trình dạy học

Trang 3


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Trang 4


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Danh mục các bảng
Hình 1.1: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
Hình 1.2: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 1 )
Hình 1.3: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 2 )
Hình 1.4 : Các liên đới của phương pháp giảng dạy tương tác
Hinh 1.5 : Giao tiếp kiểu dòng lệnh
Hình 1.6: Giao tiếp kiểu bảng chọn trong Word 2003
Hình 1.7: Giao tiếp kiểu truy vấn cơ sở dữ liệu trong Access 2003

lĩnh kiến thức và kỹ  năng thông qua các hoạt động được thiết kế  bởi người 
dạy. Trong các hình thức dạy học tương tác, việc sử  dụng phần mềm và các 
phòng học đa chức năng nối nạng internet hoặc mạng nội bộ tỏ ra có nhiều  
ưu điểm và được nhiều cơ sở đào tạo quan tâm.
            Môn học "Kỹ thuật lập trình" là một môn học rất quan trọng đối với  
các chuyên ngành cao đẳng Công nghệ  phần mềm, cao đẳng Quản trị mạng. 
Môn học này được giảng dạy  ở  các lớp Cao đẳng nghề....của trường Cao 
Trang 6


đẳng nghề Việt Đức ­ Vĩnh Phúc với thời lượng 90 tiết. Tuy nhiên việc ứng 
dụng Công nghệ thông tin kết hợp với Phương pháp dạy học tương tác nhằm 
nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này tại trường Cao đẳng nghề Việt ­  
Đức Vĩnh Phúc chưa được quan tâm đúng mức.
                       Xuất phát từ  những lý do trên chúng tôi chọn đề  tài "Ứng dụng 
phương pháp dạy học tương tác trong giảng dạy môn Kỹ  thuật  lập 
trình cho học sinh Trường Cao đẳng nghề Việt ­ Đức Vĩnh Phúc".
2. Mục đích của đề tài (các kết quả cần đạt được):
 Nghiên cứu Lý luận và công nghệ dạy học tương tác, ứng dụng công 
nghệ thông tin, các phần mềm tích hợp để xây dựng Bài giảng điện tử tương 
tác đối với môn học "Kỹ thuật lập trình" nhằm nâng cao hiệu quả dạy học 
theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, tính tích cự chủ động của người học, 
góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn " Kỹ thuật lập trình"
Đối tượng nghiên cứu của đề  tài: Xây dựng Bài giảng điện tử  tương 
tác đối với môn học "Kỹ  thuật lập trình" nhằm nâng cao hiệu quả  dạy học 
môn học này tại trường Cao đẳng nghề Việt Đức, Vĩnh Phúc.
3. Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:
 3.1. Nhiệm vụ của đề tài
­ Nghiên cứu lý luận về dạy học tương tác, đặc biệt là tương tác người 
­ máy;

Trang 8


   

 Có thể biên soạn được một hệ thống bài giảng tương tác đối với môn  

học "Kỹ  thuật lập trình" giảng dạy trong trường cao đẳng nghề  và nếu vận 
dụng tốt hệ thống đó thì sẽ  góp phần nâng cao hiệu quả  công tác giảng dạy  
môn học này tại trường Cao đẳng nghề  Việt Đúc, Vĩnh Phúc, đồng thời góp 
phần xây dựng và bổ  sung vào ngân hàng Bài giảng điện tử  theo hình thức 
dạy học tương tác nói chung.
3.4. Điểm mới của luận văn:
­ Xây dựng hệ  thống bài giảng tương tác đối với môn học "Kỹ  thuật  
lập trình", giảng dạy trong trường cao đẳng nghề  nhằm nâng cao hiệu quả 
dạy học theo hướng phát huy tư  duy sáng tạo, tính tích cực chủ  động của 
người học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn " Kỹ  thuật lập  
trình".
­ Hệ  thống bài giảng tương tác đối với môn học "Kỹ  thuật lập trình" 
được thực nghiệm phân tích xử  lý để  có độ  tin cậy cao, có thể  đưa vào áp 
dụng để giảng dạy môn học "Kỹ thuật lập trình" trong các trường cao đẳng, 
đại học nói chung và  ở  trường Cao đẳng nghề  Việt Đức ­ Vĩnh Phúc nói 
riêng.
3.5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương:
­ Chương I: Cơ  sở  lí luận và thực tiễn của việc xây dựng Bài giảng  
điện tử tương tác.
­ Chương II: Thực trạng Giảng dạy môn "Kỹ thuật lập trình" tại Khoa 
Công nghệ thông tin ­ trường Cao đẳng nghề Việt ­ Đức Vĩnh Phúc.


tốt nhiệm vụ dạy học [13].
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình 
dạy học. Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học. Tương tác 
tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định  

Trang 11


hướng và không đạt kết quả  nếu để  các tương tác trong quá trình dạy học  
diễn ra một cách tự nhiên.
Dạy học tương tác (DHTT) là quá trình dạy học dựa trên sự  tác động 
qua lại giữa người ba tác nhân cơ bản/; người dạy, người học, môi trường và  
sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó.
1.3. Lý luận dạy học tương tác
Tất cả  các phương pháp dạy học truyền thống từ  xưa tới nay đều có 
tương tác, vấn đề  này ai cũng biết và sử  dụng. Từ  phương thức dạy học  
truyền khẩu của các cụ đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện 
hiện đại để tăng tính tương tác trong dạy học. Nhưng việc sử dụng tương tác  
trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong các quá trình nghiên cứu về 
các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học. Phải đến khi 
tác phẩm “ Sự  phạm tương tác ­ Một tiếp cận thần kinh trong học và dạy ”  
của hai nhà khoa học giáo dục Canada ­ Jean ­ Marc Denommé và Madelein 
Roy, mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc h ọc  
và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp 
thu và xử lý thông tin.
Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan  
điểm(hay tiếp cận) sư  phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá  
trình tương tác đặc thù giữa bộ  ba tác nhân ­ Người học, người dạy và môi 
trường – trong đó, người học là trung tâm, là người thợ  chính, người dạy là 
người hướng dẫn và giúp đỡ [10].

giúp đỡ người học học và hiểu. Theo phương pháp DHTT thì người dạy phải  
Trang 13


làm nảy sinh tri thức  ở người học theo cách của người dạy. Người dạy phục  
vụ người học.
­ Môi trường:
+ Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và 
thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài 
khác nhau. Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy 
và người học cùng nhau phối hợp và tổ chức.
+ Theo quan điểm tương tác ”Người dạy và người học không phải là 
những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ  là thế  giới vật chất văn hóa. Cả 
người  học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị  cá nhân  
được phát triển trong một đất nước có các thể  chế, chính trị, gia đình và nhà  
trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ. Tất cả những yếu tố này bên  
trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học ”[7].
+ Có thể hiểu môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng 
do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người  
học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ  dạy học. Môi trường có thể  là  
phương tiện dạy học, môi trường học tập (cơ sở vật chất nhà trường, không 
khí lớp học,…) đến các phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,

+ Trong môi trường dạy học thì phương tiện đóng một vai trò không 
kém phần quan trọng. Phương tiện trực tiếp  để  dạy học bao gồm những  
phương tiện chứa các thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy  
ra trong tự nhiên như: sách giáo khoa, giáo trình, chương trình môn học, sổ tay, 
vở ghi chép…Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng,  
đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: bản vẽ, bản đồ, biểu đồ, …; Các 
phương   tiện   mang   tin   nghe   nhìn   như:   Audio,   Video,   Máy   vi   tính,…;   Các 



­ Học
Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản than. Học được hiểu 
theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo tâm lí học nhận thức: “Học là quá 
trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” ;  
Theo lí thuyết thông tin: “ Học là quá trình thu nhận và xử  lí thông tin từ môi 
trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi”.Từ đó học được hiểu  
là  “quá trình chuyển hóa tri thức của nhân loại thành tri thức của cá nhân”.
Người học sử  dụng nội lực để  kiểm định kiến thức và kỹ  năng nảy 
sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó. “ Phương pháp học là khái 
niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động 
học”[7].
Phương pháp học tập phụ thuộc rất nhiều vào ý thức học tập của từng  
người học, người học phải biết tự vượt qua chính mình. Sự say mê, hứng thú, 
quyết tâm, sự  tập trung chú ý vào các nhiệm vụ  học tập sẽ  tạo ra một kết  
quả  học tập rất tốt. Phương pháp học còn phụ  thuộc vào năng lực, kinh 
nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng người học. Kết 
quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử ý, trình bày 
thông tin của từng cá nhân của người học.
­ Giúp đỡ
Theo C.Margolinas, dạy là làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức 
được tạo ra bởi chính người học như  là câu trả  lời cho tình huống; giúp đỡ 
người học đạt đến một sự  hiểu biết cá nhân và chính xác hóa hiểu biết cá 
nhân thành kiến thức khoa học.
Người dạy can thiệp vào tất cả các yếu tố của hoạt động dạy học một  
cách có chủ đích (người dạy là người quyết định tri thức nào cần dạy và dạy 
như thế nào; tri thức nào mà người học cần học và học như thế nào). Người 
Trang 16


như  một hồi âm trả  lời bộ  ba tác nhân E ( Người học ­ Người dạy ­ Môi  
trường ).

TAM E

Người học

Học

Người dạy

Giúp đỡ

Môi trường

Tác động

TAM A

Hình 1.1: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng

1.3.3. Định hướng tương tác
Ngoài việc dựa trên các tác nhân, các thao tác rất chính xác, phương 
pháp DHTT cũng tự xác định cho mình những định hướng rất rõ rang. Để thấy  
rõ những định hướng của sư  phạm tương tác đã lựa chọn chúng ta tìm hiểu  
các trào lưu sư phạm và định hướng của chúng.
Theo [12], người ta thừa nhận trong giới sư phạm ( SP ) đã tồn tại bốn  
trào lưu SP chính sau đây:
­ Trào lưu SP tự do: dựa hoàn toàn vào người học, tất cả phải xuất phát 
tư  người học và lợi ích của họ. Người học tự  chọn mục tiêu, thời gian và  

người học chỉ có vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức.

Trang 19


Với định hướng lấy NHLTT, dạy học tương tác sẽ  là lựa chọn hàng 
đầu trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đặc biệt trong việc 
chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) bởi vì:
­ HCTC là phương thức đào tạo trong đó sinh viên chủ  động lựa chọn 
từng môn học theo một số dàng buộc qui định trước nhằm tích lũy từng phần  
và tiến tới hoàn tất toàn bộ  chương trình  đào tạo để  được cấp bằng tốt  
nghiệp.
­ HCTC sẽ  tạo điều kiện tối đa để  cá nhân hóa qui trình đào tạo, trao 
quyền chủ động cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, kể cả sắp  
xếp thời gian học ở trường, thời gia tốt nghiệp,…
­ HCTC đáp ứng nhu cầu chủ động của sinh viên trong học tập và cũng 
đòi hỏi tính chủ  động rất cao của sinh viên trong việc lập kế  hoạch dự kiến 
đăng ký các môn học, chọn lựa môn học ngày từ  đầu cho cả  khóa học. Sinh  
viên phải chủ  động tìm hiểu đề  cương các môn học, từ  dó chuẩn bị  đọc tài 
liệu trước giờ học, tích cực chủ động tham gia các thảo luận trong lớp, cũng  
như làm bài tập, viết tiểu luận,…
­ HCTC với định hướng lấy NHLTT được quán triệt từ  khâu thiết kế 
chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử  dụng phương pháp giảng 
dạy.
Tóm lại: với HCTC sinh viên thực sự  là trung tâm của quá trình học  
tập, họ tự thiết kế lộ trình học tập theo khả năng của mình. Chính vì vậy mà  
DHTT với định hướng NHLTT sẽ đặc biệt thích hợp với phương thức đào tạo  
theo tín chỉ.
1.3.4. Bộ ba tương tác


Trang 21


các kết quả phải đạt được. Đáp lại các tác động của người dạy thì người học  
đi theo con đường mà người dạy đã định hướng. Trong quan hệ này “ Người  
dạ là hành động, nhười học là phản ứng”.
Môi trường với tư cách là một tác nhân sẽ  tác động đến người dạy và  
người học thông qua sự tác động đến phương pháp hoạt động của họ. sự tác 
động của môi trường đồng thời với cả  người dạy và người học vì họ  cùng  
tiến hành hoạt động và khi đó PPSP của người dạy và phương pháp học của 
người học được triển khai trong quan hệ  mật thiết với nhau. Ngược lại , 
người dạy và người học cũng tác động trở  lại với môi trường thông qua sự 
tác động làm thay đổi các yếu tố ( bên trong hoặc bên ngoài ) của môi trường  
khiến cho môi trường được biến đổi.
Mỗi tác nhân trong bộ ba tương tác trên đây khi thực hiện thao tác của  
mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia.
* Vấn đề tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
Trong [14] GS.TS Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định các tương tác và 
các tương hỗ  giữa chúng phải là một đa ­ graph có hướng và có khuyên  ở 
đỉnh.

Người học

Người dạy

Môi trường

Hình 1.3: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 2 )

Trang 22


luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp. Mặt khác, 
nếu cơ  sở  đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng nhu cầu của 
doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất.
­ Tương tác người dạy ­ người dạy
Trong khi những phát triển mới đây về  phương pháp dạy học theo dự 
án, cộng tác nhóm, đào tạo gắn với thi trường lao động,… nêu cao ý nghĩa  
khoa học và thực tiễn của các khuyên tương  ứng người học, môi trường, thì 
khuyên người dạy ít được quan tâm hơn, nếu không muốn nói là chỉ dừng lại 
ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng  
tác giữa giảng viên với trợ  lí, giữa giáo viên dạy lý thuyết với giáo viên dạy 
thực hành còn thì nói chung hiếm có sự  làm việc nhóm giữa những giáo viên 
dạy các học phần khác nhau, thậm trí có cả  trường hợp thiếu nhất quán, 
thiếu phối hợp giữa các giáo viên ở các môn học khác nhau. Dẫn đến học sinh 
khó biết sự tương quan giữa kiến thức các môn học.
* Vấn đề : Lúc, chỗ và độ của tương tác.
Trong [7], các tác giả  chỉ  mới dừng lại  ở  vấn đề  xác định được định 
hướng của dạy học tương tác mà chưa đặt ra vấn đề lúc, hỗ và độ của tương 
tác.
Việc  ứng dụng CNTT vào giáo dục và đào tạo, đã tạo ra sự  thay đổi 
mang tính đột phá về  mối quan hệ  tương tác giữa người dạy và người học  
trong quá trình dạy học, tạo ra những khả năng tương tác mới, như:
­ Môi trường trong lớp học là môi trường  ảo, thực nghiệm  ảo, tương 
tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, CNTT và truyền thong.
­ Sự  tương tác giữa giáo viên và học sinh không nhất thiết phải “giáp 
mặt” mà có thể  “gián tiếp” thông qua các hình thức đào tạo từ  xa nhờ   ứng  
Trang 24


dụng CNTT và truyền thông. Khi đó máy tính và các phần mềm dạy học sẽ 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status