LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết ra trong luận văn này là do sự tìm
hiểu và nghiên cứu của bản than. Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng
của cá tác giả khác nếu có đều được trích dẫn cụ thể và đầy đủ.
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một
hội động bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và
cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin, truyền
thông nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên
đây.
Vĩnh Phúc, ngày ….. tháng ….năm 2013
Tác giả
Hoàng Đắc Mạnh
Trang 1
MỤC LỤC
Trang 2
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
BGĐT
CĐN
CNTT
CNDH
Người dạy làm trung tâm
Người học làm trung tâm
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Sư phạm
Sư phạm tương tác
Thực nghiệm
Quá trình dạy học
Trang 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Trang 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Danh mục các bảng
Hình 1.1: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
Hình 1.2: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 1 )
Hình 1.3: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 2 )
Hình 1.4 : Các liên đới của phương pháp giảng dạy tương tác
Hinh 1.5 : Giao tiếp kiểu dòng lệnh
Hình 1.6: Giao tiếp kiểu bảng chọn trong Word 2003
Hình 1.7: Giao tiếp kiểu truy vấn cơ sở dữ liệu trong Access 2003
lĩnh kiến thức và kỹ năng thông qua các hoạt động được thiết kế bởi người
dạy. Trong các hình thức dạy học tương tác, việc sử dụng phần mềm và các
phòng học đa chức năng nối nạng internet hoặc mạng nội bộ tỏ ra có nhiều
ưu điểm và được nhiều cơ sở đào tạo quan tâm.
Môn học "Kỹ thuật lập trình" là một môn học rất quan trọng đối với
các chuyên ngành cao đẳng Công nghệ phần mềm, cao đẳng Quản trị mạng.
Môn học này được giảng dạy ở các lớp Cao đẳng nghề....của trường Cao
Trang 6
đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc với thời lượng 90 tiết. Tuy nhiên việc ứng
dụng Công nghệ thông tin kết hợp với Phương pháp dạy học tương tác nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này tại trường Cao đẳng nghề Việt
Đức Vĩnh Phúc chưa được quan tâm đúng mức.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài "Ứng dụng
phương pháp dạy học tương tác trong giảng dạy môn Kỹ thuật lập
trình cho học sinh Trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc".
2. Mục đích của đề tài (các kết quả cần đạt được):
Nghiên cứu Lý luận và công nghệ dạy học tương tác, ứng dụng công
nghệ thông tin, các phần mềm tích hợp để xây dựng Bài giảng điện tử tương
tác đối với môn học "Kỹ thuật lập trình" nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, tính tích cự chủ động của người học,
góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn " Kỹ thuật lập trình"
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Xây dựng Bài giảng điện tử tương
tác đối với môn học "Kỹ thuật lập trình" nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
môn học này tại trường Cao đẳng nghề Việt Đức, Vĩnh Phúc.
3. Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:
3.1. Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu lý luận về dạy học tương tác, đặc biệt là tương tác người
máy;
Trang 8
Có thể biên soạn được một hệ thống bài giảng tương tác đối với môn
học "Kỹ thuật lập trình" giảng dạy trong trường cao đẳng nghề và nếu vận
dụng tốt hệ thống đó thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy
môn học này tại trường Cao đẳng nghề Việt Đúc, Vĩnh Phúc, đồng thời góp
phần xây dựng và bổ sung vào ngân hàng Bài giảng điện tử theo hình thức
dạy học tương tác nói chung.
3.4. Điểm mới của luận văn:
Xây dựng hệ thống bài giảng tương tác đối với môn học "Kỹ thuật
lập trình", giảng dạy trong trường cao đẳng nghề nhằm nâng cao hiệu quả
dạy học theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, tính tích cực chủ động của
người học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn " Kỹ thuật lập
trình".
Hệ thống bài giảng tương tác đối với môn học "Kỹ thuật lập trình"
được thực nghiệm phân tích xử lý để có độ tin cậy cao, có thể đưa vào áp
dụng để giảng dạy môn học "Kỹ thuật lập trình" trong các trường cao đẳng,
đại học nói chung và ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc nói
riêng.
3.5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng Bài giảng
điện tử tương tác.
Chương II: Thực trạng Giảng dạy môn "Kỹ thuật lập trình" tại Khoa
Công nghệ thông tin trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc.
tốt nhiệm vụ dạy học [13].
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình
dạy học. Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học. Tương tác
tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định
Trang 11
hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học
diễn ra một cách tự nhiên.
Dạy học tương tác (DHTT) là quá trình dạy học dựa trên sự tác động
qua lại giữa người ba tác nhân cơ bản/; người dạy, người học, môi trường và
sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó.
1.3. Lý luận dạy học tương tác
Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa tới nay đều có
tương tác, vấn đề này ai cũng biết và sử dụng. Từ phương thức dạy học
truyền khẩu của các cụ đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện
hiện đại để tăng tính tương tác trong dạy học. Nhưng việc sử dụng tương tác
trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong các quá trình nghiên cứu về
các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học. Phải đến khi
tác phẩm “ Sự phạm tương tác Một tiếp cận thần kinh trong học và dạy ”
của hai nhà khoa học giáo dục Canada Jean Marc Denommé và Madelein
Roy, mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc h ọc
và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp
thu và xử lý thông tin.
Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan
điểm(hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá
trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân Người học, người dạy và môi
trường – trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính, người dạy là
người hướng dẫn và giúp đỡ [10].
giúp đỡ người học học và hiểu. Theo phương pháp DHTT thì người dạy phải
Trang 13
làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của người dạy. Người dạy phục
vụ người học.
Môi trường:
+ Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và
thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài
khác nhau. Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy
và người học cùng nhau phối hợp và tổ chức.
+ Theo quan điểm tương tác ”Người dạy và người học không phải là
những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa. Cả
người học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân
được phát triển trong một đất nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà
trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ. Tất cả những yếu tố này bên
trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học ”[7].
+ Có thể hiểu môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng
do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người
học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học. Môi trường có thể là
phương tiện dạy học, môi trường học tập (cơ sở vật chất nhà trường, không
khí lớp học,…) đến các phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,
…
+ Trong môi trường dạy học thì phương tiện đóng một vai trò không
kém phần quan trọng. Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm những
phương tiện chứa các thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy
ra trong tự nhiên như: sách giáo khoa, giáo trình, chương trình môn học, sổ tay,
vở ghi chép…Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng,
đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: bản vẽ, bản đồ, biểu đồ, …; Các
phương tiện mang tin nghe nhìn như: Audio, Video, Máy vi tính,…; Các
Học
Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản than. Học được hiểu
theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo tâm lí học nhận thức: “Học là quá
trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” ;
Theo lí thuyết thông tin: “ Học là quá trình thu nhận và xử lí thông tin từ môi
trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi”.Từ đó học được hiểu
là “quá trình chuyển hóa tri thức của nhân loại thành tri thức của cá nhân”.
Người học sử dụng nội lực để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy
sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó. “ Phương pháp học là khái
niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động
học”[7].
Phương pháp học tập phụ thuộc rất nhiều vào ý thức học tập của từng
người học, người học phải biết tự vượt qua chính mình. Sự say mê, hứng thú,
quyết tâm, sự tập trung chú ý vào các nhiệm vụ học tập sẽ tạo ra một kết
quả học tập rất tốt. Phương pháp học còn phụ thuộc vào năng lực, kinh
nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng người học. Kết
quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử ý, trình bày
thông tin của từng cá nhân của người học.
Giúp đỡ
Theo C.Margolinas, dạy là làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức
được tạo ra bởi chính người học như là câu trả lời cho tình huống; giúp đỡ
người học đạt đến một sự hiểu biết cá nhân và chính xác hóa hiểu biết cá
nhân thành kiến thức khoa học.
Người dạy can thiệp vào tất cả các yếu tố của hoạt động dạy học một
cách có chủ đích (người dạy là người quyết định tri thức nào cần dạy và dạy
như thế nào; tri thức nào mà người học cần học và học như thế nào). Người
Trang 16
như một hồi âm trả lời bộ ba tác nhân E ( Người học Người dạy Môi
trường ).
TAM E
Người học
Học
Người dạy
Giúp đỡ
Môi trường
Tác động
TAM A
Hình 1.1: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
1.3.3. Định hướng tương tác
Ngoài việc dựa trên các tác nhân, các thao tác rất chính xác, phương
pháp DHTT cũng tự xác định cho mình những định hướng rất rõ rang. Để thấy
rõ những định hướng của sư phạm tương tác đã lựa chọn chúng ta tìm hiểu
các trào lưu sư phạm và định hướng của chúng.
Theo [12], người ta thừa nhận trong giới sư phạm ( SP ) đã tồn tại bốn
trào lưu SP chính sau đây:
Trào lưu SP tự do: dựa hoàn toàn vào người học, tất cả phải xuất phát
tư người học và lợi ích của họ. Người học tự chọn mục tiêu, thời gian và
người học chỉ có vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức.
Trang 19
Với định hướng lấy NHLTT, dạy học tương tác sẽ là lựa chọn hàng
đầu trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đặc biệt trong việc
chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) bởi vì:
HCTC là phương thức đào tạo trong đó sinh viên chủ động lựa chọn
từng môn học theo một số dàng buộc qui định trước nhằm tích lũy từng phần
và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo để được cấp bằng tốt
nghiệp.
HCTC sẽ tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa qui trình đào tạo, trao
quyền chủ động cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, kể cả sắp
xếp thời gian học ở trường, thời gia tốt nghiệp,…
HCTC đáp ứng nhu cầu chủ động của sinh viên trong học tập và cũng
đòi hỏi tính chủ động rất cao của sinh viên trong việc lập kế hoạch dự kiến
đăng ký các môn học, chọn lựa môn học ngày từ đầu cho cả khóa học. Sinh
viên phải chủ động tìm hiểu đề cương các môn học, từ dó chuẩn bị đọc tài
liệu trước giờ học, tích cực chủ động tham gia các thảo luận trong lớp, cũng
như làm bài tập, viết tiểu luận,…
HCTC với định hướng lấy NHLTT được quán triệt từ khâu thiết kế
chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử dụng phương pháp giảng
dạy.
Tóm lại: với HCTC sinh viên thực sự là trung tâm của quá trình học
tập, họ tự thiết kế lộ trình học tập theo khả năng của mình. Chính vì vậy mà
DHTT với định hướng NHLTT sẽ đặc biệt thích hợp với phương thức đào tạo
theo tín chỉ.
1.3.4. Bộ ba tương tác
Trang 21
các kết quả phải đạt được. Đáp lại các tác động của người dạy thì người học
đi theo con đường mà người dạy đã định hướng. Trong quan hệ này “ Người
dạ là hành động, nhười học là phản ứng”.
Môi trường với tư cách là một tác nhân sẽ tác động đến người dạy và
người học thông qua sự tác động đến phương pháp hoạt động của họ. sự tác
động của môi trường đồng thời với cả người dạy và người học vì họ cùng
tiến hành hoạt động và khi đó PPSP của người dạy và phương pháp học của
người học được triển khai trong quan hệ mật thiết với nhau. Ngược lại ,
người dạy và người học cũng tác động trở lại với môi trường thông qua sự
tác động làm thay đổi các yếu tố ( bên trong hoặc bên ngoài ) của môi trường
khiến cho môi trường được biến đổi.
Mỗi tác nhân trong bộ ba tương tác trên đây khi thực hiện thao tác của
mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia.
* Vấn đề tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
Trong [14] GS.TS Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định các tương tác và
các tương hỗ giữa chúng phải là một đa graph có hướng và có khuyên ở
đỉnh.
Người học
Người dạy
Môi trường
Hình 1.3: Các tương tác và tương hỗ của chúng ( 2 )
Trang 22
luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp. Mặt khác,
nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất.
Tương tác người dạy người dạy
Trong khi những phát triển mới đây về phương pháp dạy học theo dự
án, cộng tác nhóm, đào tạo gắn với thi trường lao động,… nêu cao ý nghĩa
khoa học và thực tiễn của các khuyên tương ứng người học, môi trường, thì
khuyên người dạy ít được quan tâm hơn, nếu không muốn nói là chỉ dừng lại
ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng
tác giữa giảng viên với trợ lí, giữa giáo viên dạy lý thuyết với giáo viên dạy
thực hành còn thì nói chung hiếm có sự làm việc nhóm giữa những giáo viên
dạy các học phần khác nhau, thậm trí có cả trường hợp thiếu nhất quán,
thiếu phối hợp giữa các giáo viên ở các môn học khác nhau. Dẫn đến học sinh
khó biết sự tương quan giữa kiến thức các môn học.
* Vấn đề : Lúc, chỗ và độ của tương tác.
Trong [7], các tác giả chỉ mới dừng lại ở vấn đề xác định được định
hướng của dạy học tương tác mà chưa đặt ra vấn đề lúc, hỗ và độ của tương
tác.
Việc ứng dụng CNTT vào giáo dục và đào tạo, đã tạo ra sự thay đổi
mang tính đột phá về mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học
trong quá trình dạy học, tạo ra những khả năng tương tác mới, như:
Môi trường trong lớp học là môi trường ảo, thực nghiệm ảo, tương
tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, CNTT và truyền thong.
Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh không nhất thiết phải “giáp
mặt” mà có thể “gián tiếp” thông qua các hình thức đào tạo từ xa nhờ ứng
Trang 24
dụng CNTT và truyền thông. Khi đó máy tính và các phần mềm dạy học sẽ