1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với PGS.TS Mai
Quang Huy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, có nhiều chỉ dẫn và định hướng khoa học có
giá trị giúp cho tác giả hoàn thành luận án này. Tác giả trân trọng cảm ơn sự động viên,
khuyến khích và những kiến thức khoa học mà tập thể hướng dẫn đã chia sẻ cho tác
giả trong thời gian thực hiện luận án, giúp cho tác giả nâng cao năng lực và phương
pháp nghiên cứu khoa học.
Tác giả trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Thuật phóng và Điều khiển Hỏa lực,
Trung tâm Kỹ thuật Vũ khí/ Khoa Vũ khí, Phòng Sau Đại học/ Học viện Kỹ thuật Quân
sự, Viện Tên lửa, Nhà máy Z113/ Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho luận án. Tác giả xin chân thành
cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội, các đồng nghiệp đã cung cấp cho tác
giả nhiều tài liệu, các kiến thức khoa học và nhiều lời khuyên có giá trị.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với những người thân trong gia đình
đã thông cảm, khích lệ tinh thần, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian làm luận
án.
3
MỤC LỤC
TDSC
Tác dụng sau cùng.
TM
Tản mát.
TPN
Thuật phóng ngoài.
TPT
Thuật phóng trong.
VTKT
Vận tốc khối tâm.
2. Ký hiệu
xo: tọa độ điểm rơi theo phương x.
zo: tọa độ điểm rơi theo phương z.
mx: kỳ vọng toán của xo.
mz: kỳ vọng toán của zo.
ly: sai số trung gian tản mát về chiều cao
lz: sai số trung gian tản mát về hướng.
: độ lệch chuẩn theo phương x.
x
, 2, … n: các đại lượng ngẫu nhiên.
1
: phương sai của i.
Kij: mô men tương quan giữa i và j.
: các mô men trung tâm cấp ba và bốn tương ứng của đại lương ngẫu nhiên i.
: góc phóng.
0
V0: sơ tốc của đầu đạn.
C: hệ số phóng.
: là các sai số trung gian tản mát của 0,V0 và C.
mi: khối lượng phân tố i.
Ri: độ lệch tâm của phân tố i.
l1i và l2i: khoảng cách từ khối tâm của phân tố i đến hai gối tựa.
: véc tơ mất cân bằng của phân tố i.
: lực mất cân bằng của phân tố i.
: tốc độ quay của vật thể.
ec: độ lệch tâm của vật thể.
: độ lệch quân phương hướng kính của phân bố chuẩn 2 chiều ban đầu.
k
D xij
: khối không cân bằng ở mặt phẳng quy đổi thứ x (x = 1,2) xuất hiện do dịch
chuyển trục mặt phẳng thứ i của chi tiết thứ j.
r(x): thì bán kính của bề mặt chi tiết tại vị trí đang xét.
y
] T : ten xơ biến dạng.
,
yz
xz
,
yz
xy
,
xz
] T : ten xơ ứng suất.
xy
D: ma trận vật liệu.
E: mô đun đàn hồi.
: hệ số Poisson.
: thế năng toàn phần của vật thể.
U: năng lượng biến dạng của vật thể.
{R(t)}: véc tơ phản lực tương tác giữa đạn và thành nòng.
{Fms}: véc tơ lực ma sát tại các điểm nút tiếp xúc giữa đạn và nòng.
z: bề dày cháy tương đối.
p: áp suất trong nòng.
Ik: xung lượng toàn phần của áp suất khí thuốc.
: lượng sinh khí tương đối.
, , : hệ số hình dạng của thuốc phóng.
Ld: chiều dài nòng.
Wo: thể tích ban đầu của buồng đốt.
: mật độ nhồi.
p0: áp suất tống đạn.
f: lực thuốc phóng (ký hiệu trong bài toán thuật phóng trong).
: khối lượng thuốc phóng(ký hiệu trong bài toán thuật phóng trong).
e_vỏ, e_áo chì, e_lõi,: độ đảo hướng kính của vỏ, áo chì, lõi.
U(a,b): bộ số ngẫu nhiên phân bố đều trên [a,b].
N(0,1): bộ số ngẫu nhiên phân bố chuẩn hóa.
N( ,σ2): bộ số ngẫu nhiên phân bố chuẩn có kỳ vọng , độ lệch tiêu chuẩn σ.
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
10
để cho ra đời những mẫu đạn súng bộ binh có chỉ tiêu tản mát ngày càng nhỏ, nhưng
chúng ta không có điều kiện tiếp cận được những công trình nghiên cứu của họ.
Nền công nghiệp quốc phòng của ta đã nghiên cứu và sản xuất được hầu hết các
loại đạn và súng bộ binh. Tuy nhiên, việc kiểm soát các yếu tố để đảm bảo yêu cầu về
chỉ tiêu tản mát mới chỉ dừng lại ở mức độ tuân theo các tài liệu công nghệ được
chuyển giao hoặc thiết kế theo mẫu mà chưa có những nghiên cứu một cách chủ động
và hệ thống về vấn đề này. Chính vì vậy khi đối mặt với nhiệm vụ thiết kế mới và cải
tiến thì các nhà thiết kế chưa có những mô hình nghiên cứu đầy đủ để làm công cụ
kiểm soát chỉ tiêu tản mát một cách chủ động.
11
Do đó, việc lựa chọn đề tài luận án “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mất cân
bằng đầu đạn súng bộ binh đến tản mát điểm chạm khi bắn ” là cần thiết. Kết
quả nghiên cứu của luận án cho phép chỉ ra mối quan hệ định lượng giữa cấp chính
xác gia công chế tạo đầu đạn với chỉ tiêu tản mát điểm chạm khi bắn.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng mô hình tính toán cho phép khảo sát
định lượng ảnh hưởng của độ mất cân bằng (MCB) đầu đạn đến chỉ tiêu tản mát điểm
chạm khi bắn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đầu đạn súng tiểu liên AK 7,62mm K56 lõi
thép mất cân bằng khối lượng.
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Chỉ tiêu tản mát được xác định ứng với giai đoạn kể từ khi đầu đạn được cắt đai
hoàn toàn cho tới khi chạm mục tiêu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên cơ sở sử dụng phương
Chương 1. Tổng quan về tản mát điểm chạm và sự mất cân bằng khối lượng
của đầu đạn
Chương 2. Xây dựng mô hình tính toán độ MCB của đầu đạn súng bộ binh nhiều
cấu tử
Chương 3. Xây dựng mô hình tính toán chuyển động trong nòng của đầu đạn
súng bộ binh MCB
Chương 4. Khảo sát ảnh hưởng của độ MCB khối lượng đến tản mát điểm
chạm
13
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ TẢN MÁT ĐIỂM CHẠM
VÀ SỰ MẤT CÂN BẰNG KHỐI LƯỢNG CỦA ĐẦU ĐẠN
1.1. Tản mát điểm chạm
Tản mát là hiện tượng điểm chạm của các phát bắn với cùng một điều kiện bắn
như nhau nhưng không trùng nhau mà tạo thành một tập hợp các điểm.
Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm về tản mát điểm chạm đã phát
triển khá sâu sắc song song với quá trình phát triển của súng – đạn đã chỉ ra rằng tản
mát điểm chạm là một đại lượng ngẫu nhiên được biểu diễn bằng quy luật [2], [30],
[40], [46]:
(1.1)
trong đó: mx, mz là kỳ vọng toán của x0, z0 và chúng cũng chính là toạ độ của trung tâm
tản mát; lx, lz là sai số trung gian tản mát về tầm và hướng, chúng có quan hệ với độ
lệch chuẩn x, z bởi quan hệ:
;
(1.2)
Chủng loại
1
Đạn pháo rãnh
xoắn
2
Đạn cối
3
Đạn tên lửa dã
chiến
Ghi chú: (Д tầm bắn)
Đối với đạn súng bộ binh, khi đánh giá chỉ tiêu tản mát người ta còn dùng bán
kính tản mát r100 và r50. r100 là khoảng cách từ điểm chạm trung bình tới điểm chạm xa
nhất, tức là vòng tròn có tâm tại điểm chạm trung bình và bán kính là khoảng cách chứa
100% các điểm chạm (lỗ thủng). Bán kính tản mát r50 được lấy là bán kính đường tròn
có tâm tại điểm chạm trung bình, chứa 50% điểm chạm nằm gần với điểm chạm trung
bình nhất. Giữa các bán kính tản mát có liên hệ sau: r100 = (1,45 ÷ 1,50) r50.
Thông số tản mát của một số loại đạn súng bộ binh hiện có trên thế giới được
thể hiện trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Thông số tản mát một số loại đạn súng bộ binh
Loại đạn
Vũ khí sử dụng
5,56x45mm
Súng tiểu liên M16A1
100
3,2
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tản mát điểm chạm, các yếu tố này có thể
phân thành nhóm như: theo súng và điều kiện sử dụng súng; theo độ chính xác gia công
chế tạo đầu đạn, các đặc trưng thuốc phóng và kết cấu của phát bắn; theo thời hạn bảo
quản; các điều kiện khí tượng khi bắn; theo sự luyện tập chuyên môn và kỹ năng của
xạ thủ.
Trong đó, đạn và các đặc trưng của nó chiếm khoảng một phần ba tổng các yếu
tố ảnh hưởng tới độ tản mát đầu đạn khi bắn [18]. Có thể kể ra một số các yếu tố quan
trọng gồm: các đặc trưng thuật phóng và động học của đầu đạn; độ ổn định của đầu
đạn trên đường bay; các điểm đặc biệt về kết cấu đầu đạn; tính chất lý hóa và kết cấu
15
liều thuốc phóng; cấp chính xác chế tạo đầu đạn, các phần tử của nó và của cả viên
đạn nói chung.
Độ chính xác chế tạo và lắp ráp các phần tử của đầu đạn ảnh hưởng lớn đến
tản mát điểm chạm khi bắn. Đối với đạn súng bộ binh, đặc biệt phải lưu ý tới độ
chênh lệch bề dày thành vỏ bọc, cốc đựng liều thuốc, lớp áo chì. Độ lệch này xác định
độ lệch vị trí trọng tâm so với trục hình học, đây là nguyên nhân xuất hiện và tác dụng
của lực hướng tâm, làm tăng bán kính tiến động và dẫn tới giảm độ chụm. Tăng độ
chính xác chế tạo đạn và các phần tử của nó mâu thuẫn với các yêu cầu kinh tế khác
d
Chuẩn =76,0375; =0,0208
[mm]
2
Khối lượng đầu đạn (dấu
H)
md
Đều trong [6,1793 ... 6,2207]
[kg]
D1
Rayleigh với tham số =51,76
[g.cm]
D2
Rayleigh với tham số =23,6
[g.cm]
Rayleigh với tham số =0,729
8
Chiều dài đạn
l
Chuẩn =381; =0,136
[mm]
16
9
Góc tiến động ban đầu
0
Đều trong [0…2 ]
[rad]
10
Góc quay riêng ban đầu
0
Để khử MCB tĩnh, ta phải đưa trọng tâm về trục quay của rotor. Việc này được
thực hiện bằng cách đặt một khối lượng đối diện với khối lượng MCB qua tâm và ở
cùng khoảng cách bán kính. Khi lượng MCB là đủ lớn, ta có thể khử sự MCB tĩnh mà
không cần phải quay rotor. Tuy nhiên, sự MCB tĩnh có thể được đo đạc với độ chính
xác cao hơn nhiều bằng cách quay rotor ở tốc độ cao. Việc đo lượng MCB và điều
chỉnh (tức khử) nó đi sau đó được thực hiện bằng cách sử dụng máy cân bằng động.
17
Hình 1.1. Sự MCB tĩnh
MCB mômen (hay MCB ngẫu lực): là trường hợp trục quán tính chính trung
tâm cắt trục quay của vật thể tại khối tâm và hợp với trục này một góc nào đó. Khi này
vật thể vẫn được cân bằng tĩnh bởi vì khối tâm của nó nằm trên trục hình học (hình
1.2).
Hình 1.2. Sự MCB mô men
Rotor hình trụ thể hiện trong hình 1.2 có
một sự MCB gây ra bởi hai khối m1 và m2 giá trị như nhau, đặt đối xứng chéo nhau qua
trọng tâm. Rotor ở trạng thái cân bằng tĩnh, tức là trọng tâm nằm trên trục quay của
rotor. Tuy nhiên, khi rotor quay, các lực F 1 và F2 tạo ra bởi hai khối m 1 và m2 làm xoay
trục quán tính chính lệch khỏi trục quay rotor. Sự MCB ngẫu lực đặc trưng cho tình
trạng của một rotor có trục quán tính chính cắt trục quay rotor tại trọng tâm rotor. Sự
MCB ngẫu lực tạo ra rung động mạnh trên cả hai mặt nơi các lực tác động. Ta có thể
khử kiểu MCB này bằng cách cân bằng trên máy cân bằng động và xử lý MCB tại cả
hai mặt. MCB ngẫu lực chỉ được phát hiện khi cho rotor quay và bắt buộc phải xử lý
nhờ vào máy cân bằng động.
MCB động học (MCB hỗn hợp): có thể biểu diễn ở dạng tổng của sự MCB
tĩnh và MCB mô men (hình 1.3). Khi này rotor có trục quán tính chính không song song
mà cũng không giao nhau với trục quay, đây là loại MCB phổ biến nhất. Để khử MCB
+ Điều kiện cân bằng tĩnh được viết:
(1.5)
+ Điều kiện cân bằng mô men được viết theo phương trình cân bằng
mô men của các lực MCB lấy với hai mặt phẳng cơ sở:
;
(1.6)
Ranh giới giữa mất cân bằng tĩnh và mất cân bằng động
Khi vật quay mất cân bằng ngẫu lực hoặc hỗn hợp, do tồn tại ngẫu lực hay mô
men nên không thể dùng cân bằng tĩnh để khử. Chỉ khi ngẫu lực do cặp lực này sinh ra
nhỏ, tức là chiều dầy của vật quay nhỏ hơn khá nhiều so với đường kính của nó, lúc đó
vật có thể được xem là chỉ mất cân bằng tĩnh. Vấn đề đặt ra là vật quay mỏng bao
nhiêu thì được xem là chỉ mất cân bằng tĩnh. Thực tế cân bằng cho thấy vật quay dầy
nếu quay ở tốc độ thấp thì vẫn có thể dùng phương pháp cân bằng tĩnh để cân bằng,
ngược lại vật quay mỏng nếu quay ở tốc độ cao thì đòi hỏi phải cân bằng động. Ranh
giới giữa cân bằng tĩnh và động có thể tham khảo trong hình 1.5 [11], ở đây B là chiều
dày, D là đường kính vật quay.
Hình 1.5. Ranh giới giữa mất cân bằng tĩnh và động
Miền I vật quay buộc phải cân bằng
động;
Miền II vật quay có thể được cân bằng
tĩnh hoặc động tùy vào độ chính xác và yêu cầu làm việc;
0,16
0,40
2
0,40
1,00
3
1,00
2,50
4
2,50
6,30
5
6,30
16,00
6
1600,00
4000,00
(12)*
(4000,00)
(10000,00)
Tài liệu [23], [34] đã chỉ ra các vùng ứng dụng cho phép trong kỹ thuật tương ứng
với các cấp độ mất cân bằng khối lượng (bảng 1.5).
Bảng 1.5. Vùng ứng dụng chấp nhận các cấp độ mất cân bằng theo ISO – 1940
Cấp chất
lượng cân
bằng
(mm/s)
G 4000
4000
Loại rotor – các ví dụ tổng quát
Bộ dẫn động trục khuỷu của động cơ diesel tàu thủy thấp
tốc, lắp cứng với số xylanh lẻ
21
lanh được lắp cứng
Bộ dẫn động trục khuỷu của động cơ diesel cao tốc sáu xy
lanh hoặc nhiều hơn
Động cơ nguyên chiếc (xăng hoặc diesel) cho xe hơi, xe tải
và đầu máy xe lửa
Bánh xe, mâm bánh xe, cụm bánh xe, trục dẫn động.
G 40
40
Bộ dẫn động trục khuỷu của động cơ cao tốc bốn thì (xăng
hoặc diesel) với sáu xy lanh hoặc nhiều hơn, được lắp đàn
hồi
Bộ dẫn động trục khuỷu của động cơ xe hơi, xe tải và đầu
máy xe lửa
Trục dẫn động (trục cánh quạt, trục cardan) với các yêu cầu
kỹ thuật đặc biệt
Chi tiết của máy nghiền
G 16
16
Chi tiết của máy nông nghiệp
Chi tiết rời của động cơ (xăng hoặc diesel) xe hơi, xe tải và
đầu máy xe lửa
Bộ dẫn động trục khuỷu của động cơ với sáu xylanh hoặc
nhiều hơn trong những điều kiện đặc biệt
Chi tiết rời của động cơ có yêu cầu đặc biệt
Turbine ga và hơi nước, kể cả turbine chính của tàu thủy (tàu
hàng)
Rotor máy phát turbo cứng
Trống và đĩa bộ nhớ máy tính
Máy nén turbo
G 2.5
2.5
Bộ dẫn động máy công cụ
Phần ứng động cơ điện lớn và vừa có yêu cầu đặc biệt
Phần ứng động cơ điện nhỏ không được thẩm định theo một
hoặc cả hai điều kiện được mô tả theo cấp chất lượng cân
bằng G 6.3 dành cho phần ứng động cơ điện nhỏ
Máy bơm dẫn động bằng turbine
Bộ dẫn động của máy ghi băng từ và máy quay đĩa (hát)
G 1
1
Bộ dẫn động máy mài
Phần ứng động cơ điện nhỏ có yêu cầu đặc biệt
G 0.4
0.4
Trục cuốn sợi, đĩa và phần ứng của máy mài chính xác
tiết trong gia công đều được giới hạn bởi các giá trị dung sai. Độ chính xác chế tạo các
phần tử của đầu đạn, độ tin cậy lắp ráp và trình độ sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến
độ mất cân bằng của đầu đạn. Đặc biệt là độ chênh lệch bề dày thành vỏ, cốc đựng
liều thuốc, lớp áo chì. Độ lệch này xác định độ lệch vị trí trọng tâm so với trục hình
học. Tăng độ chính xác chế tạo các phần tử đầu đạn mâu thuẫn với các yêu cầu kinh tế
khác nhau và các điều kiện của đặc tính sản xuất hàng loạt.
24
Tại các nhà máy quốc phòng hiện nay chủ yếu áp dụng công nghệ gia công
không phoi: rèn dập, vuốt khi sản suất đạn súng. Với các công nghệ này, giới hạn dung
sai hiện đang được áp dụng với bề dày thành thân vỏ, bề dày lớp áo chì, đường kính
ngoài đạt khoảng 0,05mm. Dung sai chiều dài đạt khoảng 0,5mm.… [10], [12], [14].
Hình 1.7. mô tả bản vẽ chế tạo đầu đạn 7,62 mm K56 lõi thép với điều kiện công nghệ
sản xuất trong nước.
Hình 1.7. Bản vẽ chế tạo đầu đạn 7,62mm K56 lõi thép
Như vậy, sai số khi chế tạo các chi tiết và lắp ráp là một đặc tính của quá trình
thiết kế và chế tạo đầu đạn. Đó là nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự mất cân bằng khối
lượng và cần kể tới khi tính toán thiết kế đầu đạn.
Do sự không đồng nhất của vật liệu chế tạo các chi tiết đầu đạn.
Thực tế cho thấy vật liệu chế tạo các chi tiết trong nhiều trường hợp không
hoàn toàn đồng nhất. Nguyên nhân có thể kể ra là: do khuyết tật trong quá trình chuẩn bị
phôi, do lẫn tạp chất.
Quy trình công nghệ sản suất đầu đạn luôn yêu cầu khắt khe về nguyên vật liệu
đầu vào và có các bước kiểm tra chặt chẽ. Tuy nhiên, cũng như dung sai kích thước, đây
là yếu tố ngẫu nhiên và không thể tách rời khi sản xuất chế tạo đầu đạn.
1.2.3. Xác định độ mất cân bằng khối lượng của đầu đạn
khăn cho việc tiếp cận và áp dụng phương pháp. Do vậy, trong luận án NCS sẽ thực
hiện xây dựng một mô hình lý thuyết xác định quy luật phân bố sự MCB khối lượng
của lô đầu đạn theo bộ bản vẽ chế tạo. Thực hành tính toán cho lô đầu đạn 7,62 K56
hiện đang được sản xuất tại nhà máy Z113 – TCCNQP, làm cơ sở dữ liệu đầu vào để
tính toán tản mát điểm chạm.
1.3. Ảnh hưởng của sự mất cân bằng khối lượng đến tản mát điểm chạm
. .Ảnh hưởng của sự MCB khối lượng đến tản mát điểm chạm đã được nhận định
như một quy luật tất yếu. Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm về vấn đề
này đã được các chuyên gia trong lĩnh vực Vũ khí – Đạn công bố với nhiều cách tiếp
cận và quan điểm khác nhau [2], [5], [9], [12], [16], [18], [30], [31], [32], [46]. Khi nghiên
cứu vấn đề này, ta cần gắn liền với các giai đoạn chuyển động của đầu đạn, tóm tắt
như sau:
. .Khi đầu đạn chuyển động trong nòng, nếu khối tâm của đầu đạn lệch ra khỏi
trục đạn, trục đạn trùng với trục nòng súng (MCB tĩnh) thì đầu đạn bị cưỡng ép chuyển
động, trục quay trùng với trục nòng súng, khối tâm G của đạn chuyển động xung quanh
trục nòng súng gây lực ly tâm ép thành nòng lệch về một phía tạo dao động của nòng
súng. Đến giai đoạn bán liên kết đầu đạn dần dần mất liên kết với lòng nòng làm tăng
biên độ lắc bởi lực ly tâm, làm tăng góc rời nòng của đầu đạn. Khi rời khỏi nòng, đầu
đạn có xu hướng trở về quay quanh khối tâm, làm đạn bị lắc và lệch khỏi quỹ đạo thiết
kế, tăng lực cản dẫn đến tầm bắn giảm và tăng tản mát. Mặt khác, khi đó đầu đạn vẫn