Tác giả: Đ ỗ Kim C ư ờng
Chức vụ: Ph ó Hi ệu tr ư ởng
Đơn vị; Trường TH Xu ân QuangThọ Xuân
Môn: Ti ếng Vi ệt
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Vai trò của dấu câu trong hoạt động giao tiếp bằng chữ viết rất quan trọng.
Để giao tiếp bằng chữ viết đạt hiệu quả, cả người tạo lập văn bản lẫn người
tiếp nhận văn bản đều cần nắm vững chức năng, công dụng của dấu câu và sử
dụng chúng thành thạo, hướng tới sự tinh tế trong việc tiếp nhận và biểu đạt bằng
chữ viết.
Trong chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ của các nước, việc dạy cách sử
dụng dấu câu là một trong những yêu cầu đặt ra rất sớm. Mặc dù vậy, học sinh
vẫn thường mắc lỗi khi dùng dấu câu. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều
nước trên thế giới. Hiện nay nhiều giáo viên tiểu học đã thừa nhận rằng dạy học
dấu câu không dễ. Trên thực tế, có rất ít công trình nghiên cứu về việc dạy học
dấu câu và việc trẻ em học cách sử dụng dấu câu như thế nào… nhưng lại có khá
nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề dạy đọc, dạy cách đánh vần, dạy viết chữ,
dạy cảm thụ thơ văn, tích lũy vốn từ v.v.. Tuy số lượng các dấu câu không nhiều,
nhưng chúng được sử dụng linh hoạt: có dấu thực hiện chỉ một chức năng, có dấu
đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau, cùng một dấu trong cùng một cấu tạo có
thể đồng thời mang một số chức năng, hoặc cùng một chức năng có thể dựng
nhiều dấu khác nhau…
Với mỗi người, việc sử dụng dấu câu đúng phải trở thành thói quen ngay từ
khi tạo lập những văn bản đầu tiên. Bậc Tiểu học có vai trò quan trọng trong việc
hình thành ở học sinh ý thức cũng như khả năng sử dụng đúng dấu câu khi tạo lập
văn bản từ giản đơn đến phức tạp. Ở nước ta, cách sử dụng dấu câu đã được
đưa vào chương trình tiếng Việt ở tất cả các bậc học. Song phương pháp dạy học
dấu câu tiếng Việt chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, các sách hướng
dẫn giảng dạy chưa thực hiện sự giúp nhiều cho giáo viên dạy học dấu câu có
Sách hướng dẫn giáo viên dạy, sách giáo khoa của học sinh hiện nay đã có
nhiều điểm đổi mới so với sách cải cách giáo dục, tuy nhiên phần dạy học về dấu
câu vẫn là điều băn khoăn của nhiều người dạy. Các ý kiến tập trung về mấy vấn
đề sau:
Ngay từ lớp 1 học sinh chưa được học về dấu câu nhưng trong sách giáo
khoa đã xuất hiện hầu hết các loại dấu câu tiếng Việt (Sách Tiếng Việt 1, tập 1 đã
sử dụng dấu phẩy, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu ngoặc đơn; Tập 2 xuất hiện
thêm dấu chấm cảm, dấu chấm lửng, dấu 2 chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc
kép).
Trong sách Tiếng Việt 1,2,3 dấu câu được dạy thông qua hệ thống bài tập,
phần hướng dẫn dạy học, dấu câu chủ yếu nêu lời giải cho các bài tập ở sách giáo
khoa mà không có hướng dẫn cụ thể cho giáo viên về cách hướng dẫn học sinh làm
bài tập cũng như cách giảng giải cho học sinh nhận biết chức năng, công dụng của
dấu câu được học. Vì vậy, giáo viên và học sinh có phần lúng túng trước cách dạy
và cách học các bài tập về dấu câu đưa ra ở sách giáo khoa hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học dấu câu nói riêng và dạy
học tiếng Việt nói chung, trong những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo đã liên
tục đưa ra nhiều biện pháp khác nhau nhằm cải thiện chất lượng dạy và học. Các
biện pháp đó là đổi mới sách giáo khoa; Tập huấn chuyên đề theo định kì về đổi
mới phương pháp dạy và học, về sử dụng sách giáo khoa mới ... Tuy nhiêng đi chơi
2. Bạn đi chơi không
3. Bạn đi đâu
4. Mùa xuân chưa về
5. Mùa hạ đến chưa
6. Trên bầu trời đầy sao
7. Bạn không làm bài tập hay sao
8. Bạn thích sông hay suối
9. Trong nhà không có người
10. Em chẳng ngủ đâu
* Những ưu điểm của giờ học:
theo hướng thực hành. Tôi tự rút ra một kinh nghiệm nhỏ trong việc rèn luyện kĩ
20
năng sử dụng dấu câu tiếng việt cho học sinh các lớp 1,2,3 theo hướng thực hành
như sau:
Muốn rèn cho học sinh sử dụng dấu câu tốt, trước tiên giáo viên phải nắm
vững, xác định và hiểu rõ một cách thấu đáo nội dung bài học, xây dựng kế hoạch bài
học cụ thể.
Giáo viên cần phải chịu khó học tập, thường xuyên trao đổi rút kinh nghiệm
giờ dạy đối với các đồng nghiệm qua những tiết dự giờ, thao giảng.
Giáo viên phải coi học sinh là nhân vật trung tâm trong giờ học, việc tổ chức
hướng dẫn phải để các em được hoạt động, tự do các em phát hiện.
Cần nắm được đặc điểm của mỗi loại bài tập, để có biện pháp hướng dẫn
học sinh.
Giáo viên còn phải biết rèn kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh ở tất cả
các môn học ( kể cả qua cách giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày).
Giáo viên cần tạo giờ học nhẹ nhàng, sôi nổi, thoải mái, gây hứng thú tự
nhiên trong giờ học. Giáo viên nên khuyến khích, ý thức cho học sinh trong lớp biết
thi đua nhau học tập. Có như vậy, thì hiệu quả của việc dạy dấu câu sẽ đạt kết
quả cao.
PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Kết luận
Các vấn đề lý thuyết về dấu câu tiếng Việt, chức năng của dấu câu, phương
pháp dạy dấu câu ở tiểu học; đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học với việc
tiếp nhận và sử dụng dấu câu cũng như thực trạng chương trình, sách giáo khoa,
kết quả dạy và học dấu câu tiếng Việt hiện nay đều cho thấy sự cần thiết phải
triển khai nghiên cứu phương pháp dạy học dấu câu cho học sinh lớp 1,2,3 theo
hướng thực hành.
Quan điểm dạy học dấu câu: phải bắt nguồn từ ngôn ngữ nói, chú trọng mối
viên và học sinh trong nhà trường tiểu học hiện nay.
2. Kiến nghị
Từ những kết luận trên chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Đối với công tác quản lí và chỉ đạo chuyên môn: Cán bộ quản lí ở các
trường tiểu học cần quan tâm bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên về kiến thức kĩ năng
và phương pháp dạy dấu câu cho học sinh. Thường xuyên tổ chức các buổi sinh
hoạt chuyên môn để tạo điều kiện cho giáo viên học hỏi lẫn nhau về phương pháp
dạy học dấu câu.
Đối với giáo viên: Cần trang bị vững vàng về kiến thức, các phương pháp
dạy học dấu câu, cách thức tiến hành cũng như ưu nhược điểm của từng phương
pháp để có thể khai thác sử dụng phối hợp một cách linh hoạt, sáng tạo trong giờ
lên lớp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Trên đây là kinh nghiệm của tôi, về việc dạy dấu câu tiếng Việt cho học
sinh các lớp 1,2,3 theo hướng thực hành. Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn
nên nội dung sáng kiến còn có những hạn chế nhất định. Kính mong các quý vị, các
bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để sáng kiến này ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày 02 tháng 4 năm 2011
Người thực hiện
22
Đỗ Kim Cường
23