BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
NGUYỄN THỊ HÀ
ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG
ĐÀO TẠO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 THEO
HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP
Ngành: Giáo dục học
Mã ngành: 9140101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC DỤC HỌC
Hà Nội, năm 2019
Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học TDTT
Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: PGS.TS Hồ Đắc Sơn
Hướng dẫn 2: PGS.TS Vũ Đức Thu
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:
hiện thực hóa định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong lĩnh vực
đào tạo GVMN.
Với lí do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đổi mới chương trình
Giáo dục Thể chất trong đào tạo sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm
non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 theo hướng nâng cao năng lực
nghề nghiệp”.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tích hợp hai chương trình: GDTC thuộc khối kiến thức
chung và GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo chuyên
ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2 thành “Chương trình GDTC
theo định hướng nghề nghiệp”, nhằm đồng thời nâng cao hiệu quả GDTC
và hiệu quả trang bị cho SV kiến thức, kỹ năng triển khai hoạt động GDTC
cho trẻ Mầm non.
Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định 2 mục tiêu:
Mục tiêu 1. Nghiên cứu thực trạng GDTC trong đào tạo SV chuyên
ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2.
Mục tiêu 2. Đổi mới chương trình GDTC trong đào tạo SV chuyên
ngành GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 theo hướng nâng cao năng lực nghề
nghiệp và đánh giá hiệu quả đổi mới.
2
Giả thuyết khoa học của đề tài: GDTC thuộc khối kiến thức chung
và GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo chuyên ngành
GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2 chưa đạt yêu cầu, thiếu hiệu quả.
Nguyên nhân cơ bản là do giữa 2 chương trình thiếu sự gắn kết và đồng bộ
về mục tiêu, nội dung và tổ chức thực hiện.
Nếu tích hợp 2 chương trình theo hướng: lấy tính nghề làm động lực
để nâng cao hiệu quả GDTC, lấy nội dung GDTC để kết hợp trang bị cho
1.1. ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON TRƢỚC YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC THEO HƢỚNG CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN
1.1.1. Đào tạo giáo viên ở Việt Nam – quá trình hình thành và
phát triển
3
Trải qua 67 năm hình thành và phát triển, hệ thống nhà trường Sư
phạm đã có những đóng góp to lớn đối với nền giáo dục: Xây dựng và phát
triển nền khoa học giáo dục phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Cách
mạng Việt Nam qua từng giai đoạn; hình thành một lực lượng các nhà
giáo, các nhà khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng,
phát triển đất nước. Từng bước chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho đội
ngũ GV các bậc học hướng tới hội nhập nền giáo dục tiên tiến của châu lục
và thế giới.
1.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về đổi mới đào tạo đại
học và đào tạo giáo viên
Đảng đã chủ trương đổi mới giáo dục đại học theo hướng: Kết hợp
đào tạo với nghiên cứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ
tiên tiến; chuyển từ phục vụ những yêu cầu của nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang đáp ứng những yêu cầu và hoạt động của nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước; đã
tiếp tục khẳng định quan điểm: “Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT
là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài”.
1.1.3. Đào tạo giáo viên theo định hƣớng đổi mới căn bản và toàn diện
Nội dung đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam đã
xác định nội dung và yêu cầu đổi mới đối với các nhà trường Sư phạm:
Đổi mới mục tiêu đào tạo; Đổi mới nội dung đào tạo; Đổi mới hoạt
động đào tạo; Đổi mới kiểm tra đánh giá trong đào tạo.
sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ và nhân cách.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của giáo viên Mầm non
1.2.3.1. Vị trí của người giáo viên Mầm non trong xã hội hiện đại:
Người GVMN có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục của Đảng, là cầu nối liền giữa nền văn hóa dân tộc và nhân loại với sự
tái sản xuất nền văn hóa ấy trong chính đứa trẻ.
1.2.3.2. Đặc thù lao động của giáo viên Mầm non: Lao động của
GVMN tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là sức khỏe, kỹ năng sống, kỹ năng
vận động, khả năng tư duy và nhân cách của trẻ trước tuổi đến trường phổ
thông.
1.2.3.3. Yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp của giáo viên Mầm non: Có
đạo đức tốt, yêu nghề, mến trẻ, hiểu biết về tâm - sinh lý trẻ Mầm non;
hiểu rõ chương trình GDMN hiện hành của Bộ GD&ĐT; hội tụ đầy đủ
kiến thức và kỹ năng về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phát triển thể
chất cho trẻ; biết lập kế hoạch theo dõi, chăm sóc, giáo dục trẻ theo giai
đoạn; giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo
của trẻ; dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, chăm sóc cho bản thân.
1.3. GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG GIÁO DỤC MẦM NON
VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON
1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về Giáo dục Thể chất
trong đào tạo thế hệ trẻ
Nhà nước và Chính phủ trong từng giai đoạn của cách mạng Việt
Nam cũng đã có các chủ trương, chính sách tạo điều kiện để phát triển
công tác GDTC trường học. Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến
năm 2020 đã đề ra các giải pháp có tính cơ bản để phát triển công tác
GDTC và thể thao trường học, phát triển đội ngũ GV TDTT và triển khai
sâu rộng Chủ trương xã hội hóa TDTT trong phạm vi nhà trường các cấp.
Đặc biệt, nội dung của Chiến lược đã nhấn mạnh: Coi học sinh, GV là động
lực cơ bản và trường học là địa bàn chiến lược để phát triển TDTT.
1.3.2. Giáo dục Thể chất trong giáo dục Mầm non
1.4.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan
Các công trình nghiên cứu về GDTC cho trẻ Mầm non;
Các công trình nghiên cứu về GDTC theo hướng đào tạo và phát
triển năng lực hoạt động nghề nghiệp;
Các công trình nghiên cứu về đổi mới chương trình và đào tạo GV;
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP
VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Chương trình GDTC theo định hướng phát triển năng lực nghề
nghiệp cho SV chuyên ngành GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2.
2.1.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể phỏng vấn: 1576 GVMN đang trực tiếp giảng dạy tại các
trường Mầm non công lập một số tỉnh phía Bắc; 107 Hiệu trưởng và Hiệu
phó trường Mầm non thuộc các tỉnh phía Bắc; 91 giảng viên khoa GDTC
của một số trường ĐHSP có đào tạo chuyên ngành GDTC và chuyên
ngành GDMN, chuyên gia về lĩnh vực GDTC trường học, chuyên viên
quản lý GDTC trường học của phòng GD&ĐT một số tỉnh thành phía Bắc;
6
326 SV K37, K38 chuyên ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2 và 8
giảng viên giảng dạy chương trình thực nghiệm.
Khách thể thực nghiệm: 197 SV lớp thực nghiệm thuộc K39 khoa
GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phương pháp phân tích và
tổng hợp tài liệu; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp quan sát sư
phạm; Phương pháp nhân trắc; Phương pháp kiểm tra sư phạm; Phương
pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp toán học thống kê.
2.3. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
3.1.3. Thực trạng Giáo dục Thể chất trong đào tạo sinh viên chuyên
ngành Giáo dục Mầm non của trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2
7
3.1.3.1. Khái quát chương trình đào tạo giáo viên Mầm non trong
các trường đại học Sư phạm
Khối kiến thức chuyên ngành và nghiệp vụ có sự đa dạng về nội
dung và lĩnh vực chuyên môn; mỗi học phần, SV có trung bình 2 tín chỉ để
lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng. Đó là một khó khăn không nhỏ
đối với GV và nhà trường để đào tạo có hiệu quả năng lực nghề nghiệp
cho SV. GDTC trong đào tạo SV chuyên ngành GDMN được cấu trúc
thành 2 môn học: GDTC thuộc khối kiến thức chung nhằm phát triển thể
chất cho SV trong quá trình đào tạo; phương pháp GDTC cho trẻ Mầm non
thuộc khối kiến thức chuyên ngành và nghiệp vụ nhằm trang bị cho SV
năng lực thực hành chương trình GDTC trong các cơ sở GDMN.
3.1.3.2. Thực trạng Giáo dục Thể chất theo chương trình thuộc khối
kiến thức chung
Thực trạng về tính tích cực của SV trong học tập môn học GDTC
thuộc khối kiến thức chung
Kết quả khảo sát về tính tích cực trong học tập môn học GDTC (vào
thời điểm SV kết thúc môn học) được trình bày tại bảng 3.9 trong luận án
có
tính
0,05 cho thấy: Đại đa số SV đều nhận thức được giá trị của hoạt động thể
thao đối với việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của bản thân; nhận thức
được trách nhiệm và sự nỗ lực cần thiết trong mỗi giờ học.
Số đông SV bằng lòng với điểm trung bình trong học tập môn học;
chưa tích cực và thường xuyên tự rèn luyện thân thể; số đông SV chưa coi
(n = 147)
K38
2
2 1,1 2 1,1 1 0,5 31 17,3 43 24,1 100 55,9
(n = 179)
Cộng
2 0,6 2 0,6 8 2,5 74 22,7 80 24,5 160 49,1
8
Kết quả trình bày tại bảng 3.10 cho thấy: Chỉ có 3,7 SV đạt điểm
khá và giỏi; 47,2 SV đạt điểm trung bình; còn tới 49,1 SV chưa đạt
điểm trung bình trong kiểm tra lần đầu.
Kết quả học tập đồng thời phản ánh nhiều yếu tố bất cập trong
GDTC: SV chưa tích cực trong học tập môn học GDTC thuộc khối kiến
thức chung, cho dù kết quả học tập môn học là điều kiện để xét tốt nghiệp;
chương trình và tổ chức đào tạo đã được triển khai theo hướng cho SV tự
chọn nội dung và thời gian học, song chưa thu hút đáng kể sự quan tâm và
đầu tư của SV. Số lượng SV có điểm môn học dưới trung bình chiếm tỷ lệ
cao đã phản ánh sự hạn chế về tính tích cực và thái độ trách nhiệm của SV
trong quá trình thực hiện chương trình GDTC chung.
Thực trạng thể lực của SV chuyên ngành GDMN trƣờng ĐHSP
Hà Nội 2
Thực trạng thể lực ban đầu của SV năm thứ nhất.
Để đánh giá hiệu quả GDTC nội khóa đối với sự phát triển thể lực
của SV chuyên ngành GDMN, quá trình nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra
thể lực ban đầu của 326 SV năm thứ nhất K37 và K38 chuyên ngành
GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 vào thời điểm nhập học, kết quả kiểm tra
được trình bày tại bảng 3.11.
Bảng 3.11. Thực trạng thể lực ban đầu của SV K37 và K38
6.28
1.69
6.41
0.82
6
Chạy tùy sức 5 phút (m)
870.07
40.87
872.87
37.89
Xếp loại thể lực ban đầu của SV năm thứ nhất theo tiêu chuẩn đánh
giá của Bộ GD&ĐT.
Từ kết quả đánh giá thể lực ban đầu, quá trình nghiên cứu đã xếp loại
trình độ thể lực của SV chuyên ngành GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 theo
tiêu chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT. Kết quả xếp loại được trình bày tại
bảng 3.12.
9
Bảng 3.12. Xếp loại thể lực ban đầu của SV năm thứ nhất K37, K38
chuyên ngành GDMN trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 theo tiêu chuẩn
đánh giá của Bộ GD&ĐT (n = 326)
Loại tốt
Loại đạt Loại không đạt
II
K38 (n = 179)
1 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s)
0
0
91 50.84 88
49.16
2 Bật xa tại chỗ (cm)
3 1.68 138 77.09 38
21.23
3 Chạy 30M XPC (s)
2 1.12 121 67.6
56
31.28
4 Chạy tùy sức 5 phút (m)
2 1.12 69 38.55 108 60.34
5 Tỷ lệ trung bình chung
2 1.12 105 58.66 72
40.22
Kết quả trình bày tại bảng 3.12 cho phép nhận xét như sau:
Xếp loại thể lực ban đầu của SV năm thứ nhất theo tiêu chuẩn đánh
giá của Bộ GD&ĐT:
Từ kết quả đánh giá thể lực ban đầu tại bảng 3.11 trong luận án, quá
trình nghiên cứu đã xếp loại trình độ thể lực của SV chuyên ngành GDMN
trường ĐHSP Hà Nội 2 theo tiêu chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT. Kết quả
xếp loại được trình bày tại bảng 3.12 trong luận án cho phép nhận xét:
Ở cả hai khóa K37 và K38, số lượng SV có trình độ thể lực đạt loại
tốt (ở từng chỉ tiêu) theo tiêu chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT chỉ chiếm từ
0 đến 4,76 . Có từ 34,01 đến 77,09 SV thuộc loại đạt ở từng chỉ
tiêu và còn từ 21,23 đến 65,99 SV có trình độ thể lực thuộc loại không
47.23 3.23 48.27 31.16 0.4 >0.05
3 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 15.99 2.53 16.02 1.95 0.11 >0.05
4 Bật xa tại chỗ (cm)
157.32 5.74 157.73 5.85 0.61 >0.05
5 Chạy 30M XPC (s)
6.28 1.69 6.22 0.52 0.41 >0.05
6 Chạy tùy sức 5 phút (m)
870.07 40.87 880.15 42.75 2.07 0.05
2 Cân nặng (kg)
47.91 4.46 47.51 3.96 0.9 >0.05
3 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 15.36 1.73 15.65 1.67 1.61 >0.05
4 Bật xa tại chỗ (cm)
157.74 8.15 159.23 6.15 1.95 >0.05
5 Chạy 30M XPC (s)
6.41 0.82 6.35 0.41 0.88 >0.05
6 Chạy tùy sức 5 phút (m)
872.87 37.89 880.78 36.12 2.02 0,05.
Sau một năm học tập, chỉ tiêu nằm ngửa gập bụng, bật xa tại chỗ và
chạy 30m XPC của SV K37 và K38 tuy đã có sự tăng trưởng so với kết
quả kiểm tra thể lực ban đầu, song không có sự khác biệt đáng kể ở
ngưỡng xác suất p > 0,05.
Ở chỉ tiêu chạy tùy sức 5 phút, SV cả hai khóa đều có sự tăng trưởng
157.32 5.74 159.46 9.35 2.36 0.05 0.4
6 Chạy tùy sức 5 phút (m)
870.07 40.87 881.23 39.95 2.37 0.05 0.12
2 Cân nặng (kg)
47.91 4.46 47.28 3.39 1.5 >0.05 0.33
3 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 15.36 1.73 16.12 4.39 2.15
Từ 7 đến
Từ 5 đến Điểm
TT
Khoá
đến cận
đến cận
đến 10
cận 8
cận 6
dƣới 5
9
7
n % n % n % n %
n % n %
K37
1
9 6,1 33 22,4 53 36,1 31 21,1 9 6,1 12 8,2
(n = 147)
K38
2
1 0,5 47 26,2 59 33,1 27 15,1 12 6,7 33 18,4
(n = 179)
3
Cộng
10 3,1 80 24,5 112 34,4 58 17,8 21 6,4 45 13,8
Thống kê kết quả học tập môn GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ
của SV K37 và K38 được trình bày tại bảng 3.19 cho phép có nhận xét
sau: Điểm giỏi có 3,1 SV; điểm khá có 58,9 ; điểm trung bình có
24,2 SV; điểm dưới trung bình có 13,8 SV.
So sánh với kết quả học tập môn GDTC thuộc khối kiến thức chung,
Kết quả 2 lần khảo sát đối với GVMN, cán bộ quản lý các nhà trường
Mầm non và SV chuyên ngành GDMN về nhu cầu đổi mới chương trình
GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo GVMN được trình
bày tại bảng 3.21, 3.22 và 3.23 trong luận án đều có
tính
0,05 cho phép có nhận
xét sau: Cả ba đối tượng đều thống nhất về nhu cầu đổi mới đối với
chương trình GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo SV
chuyên ngành GDMN.
Thống nhất đánh giá: Kiến thức và kỹ năng triển khai hoạt động
GDTC là điều kiện cần thiết cấu thành năng lực hoạt động nghề nghiệp của
GVMN; là loại hình năng lực cần được đào tạo và đào tạo có hiệu quả cho
SV chuyên ngành GDMN ngay trong quá trình học tập tại các nhà trường
Sư phạm. Đổi mới GDTC theo hướng đào tạo nghề đối với SV chuyên
ngành GDMN là nhu cầu có tính cấp thiết của thực tiễn, là một trong
những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả GDTC
trong các nhà trường Mầm non nói chung và trong đào tạo GV chuyên
ngành Mầm non nói riêng.
3.1.5. Bàn luận về thực trạng Giáo dục Thể chất trong đào tạo
giáo viên Mầm non
Tiểu kết phần đánh giá thực trạng
Đại đa số GV chưa đáp ứng yêu cầu về kiến thức và kỹ năng thực
hiện chương trình GDTC cho trẻ. Những hạn chế đó đã trực tiếp làm giảm
hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của chính GV và hiệu quả giáo dục trẻ.
GDTC trong đào tạo SV chuyên ngành GDMN của các nhà trường
Sư phạm nói chung và của trường ĐHSP Hà Nội 2 nói riêng gồm 2 loại
hình: GDTC thuộc khối kiến thức chung, nhằm trực tiếp phát triển thể lực
cho SV; GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ, nhằm trang bị cho SV
năng lực triển khai hoạt động GDTC cho trẻ Mầm non.
nghề nghiệp dành cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non
trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
3.2.4.1. Chương trình môn học Giáo dục Thể chất theo định hướng
nghề nghiệp
Chƣơng trình gồm: Mục tiêu đào tạo; Khối lượng về kiến thức và kỹ
năng toàn khoá đào tạo cho SV hệ chính qui, gồm 5 tín chỉ với 120 tiết (98
tiết bắt buộc, 22 tiết tự chọn) học trong 4 học kỳ đầu tiên của SV mỗi khoá;
Qui trình đào tạo và kiểm tra đánh giá; Cấu trúc nội dung chương trình;
Khung chương trình môn học dành cho SV chuyên ngành GDMN trường
ĐHSP Hà Nội 2.
Chƣơng trình chi tiết: Được trình bày tại phụ lục số 9.
3.2.4.2. Thẩm định và đánh giá chương trình
Kết quả thẩm định chƣơng trình của hội đồng thẩm định trƣờng
ĐHSP Hà Nội 2: Kết quả thẩm định được trình bày tại phụ lục 10.
Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá chƣơng trình trƣớc thực
nghiệm: Kết quả 2 lần khảo sát ý kiến đánh giá về chương trình GDTC
theo định hướng nghề nghiệp được trình bày từ bảng 3.28 đến 3.31 trong
luận án đều có
tính
0,05 cho thấy:
Đa số các đối tượng được khảo sát đều thống nhất với nội dung đổi
15
mới của chương trình; chương trình đã phản ánh được định hướng đào tạo
năng lực nghề nghiệp cho SV, phù hợp với yêu cầu về chất lượng đầu ra
của quá trình đào tạo. Tích hợp 2 chương trình GDTC cho phép đồng thời
phát huy hiệu quả của mỗi chương trình. Đủ điều kiện để đưa chương trình
vào thực nghiệm trong thực tiễn đào tạo SV chuyên ngành GDMN.
giữa kỳ, kiểm tra kết thúc học phần.
Nội dung kiểm tra đánh giá: Lý luận (gồm: Lý luận chung, lý luận
về phương pháp, bài tập thể thao và nghiệp vụ sư phạm); kỹ năng thực
hành các bài tập thể thao; kỹ năng thực hành phương pháp GDTC và tổ
chức giờ học.
Kết quả học tập môn học của SV được trình bày tại bảng 3.32.
16
TT
1
2
3
4
5
Bảng 3.32. Thống kê kết quả học tập theo chƣơng trình
đổi mới của SV lớp thực nghiệm K39 (n = 197)
Kết quả học tập (điểm)
Từ 9 đến Từ 8 đến Từ 7 đến Từ 6 đến Từ 5 đến Điểm
Lớp
10
cận 9
cận 8
cận 7
cận 6
dƣới 5
n % n % n % n % n % n %
Mức điểm
K37 (n = 147) K38 (n = 179) K39 (n = 197)
n
%
n
%
n
%
1
Từ 9 -10
0
0
2
1.12
12
6.09
2 Từ 8 đến cận 9
0
0
2
1.12
60
30.46
3 Từ 7 đến cận 8
7
4.76
1
0.56
71
36.04
Mức điểm
K37 (n = 147) K38 (n = 179) K39 (n = 197)
T
n
%
n
%
n
%
1
Từ 9 -10
9
6.12
1
0.56
12
6.09
2
Từ 8 đến cận 9
33
22.45
47
26.26
60
30.46
3
Từ 7 đến cận 8
53
36.05
59
so với kết quả học tập môn GDTC thuộc khối kiến thức chung của SV K37
và K38; với tỷ lệ 72 điểm khá và giỏi của SV K39 so với 4,7 của SV
K37 và K38 cho thấy sự khác biệt lớn về mức tăng trưởng điểm khá và
giỏi, giảm thiểu số lượng điểm trung bình và dưới trung bình của SV lớp
thực nghiệm.
Sự tương đồng về tỷ lệ điểm khá và giỏi trong kết quả học tập môn
GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ của SV K37 và K38 với kết quả
học tập theo chương trình thực nghiệm của SV K39, đã khẳng định tính
hơn hẳn về hiệu quả đào tạo của chương trình được thiết kế theo hướng
tích hợp giữa GDTC chung với GDTC nghiệp vụ.
3.2.6.2. Hiệu quả của đổi mới chương trình đối với sự phát triển
năng lực tự học của sinh viên
Kết quả 2 lần khảo sát ý kiến đánh giá về sự phát triển năng lực tự
học của SV lớp thực nghiệm trình bày tại bảng 3.35, 3.36 trong luận án
đều có
tính
0,05 cho thấy:
Mục tiêu chương trình và tổ chức đào tạo theo hướng phát triển năng
lực tự học cho SV đã tác động tích cực đến nhận thức của SV, định hướng
và thúc đẩy họ chủ động tự đổi mới hoạt động học tập.
Đổi mới phương thức tổ chức giờ học và các yêu cầu của chương
trình đổi mới vừa là động lực, vừa là sự dẫn dắt để SV phát triển cả về thái
độ và kỹ năng đối với hoạt động tự học.
Phát triển năng lực tự học cho SV vừa là sản phẩm trực tiếp của tổ
chức giờ học, của chương trình vừa là động lực cơ bản nâng cao hiệu quả
đào tạo của chương trình.
18
1 Chiều cao đứng (cm)
157.21
4.39
2 Cân nặng (kg)
47.95
4.13
3 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s)
15.53
1.69
4 Bật xa tại chỗ (cm)
156.37
5.6
5 Chạy 30M XPC (s)
6.54
0.38
6 Chạy tùy sức 5 phút (m)
873.21
36.67
So sánh kết quả kiểm tra thể lực ban đầu của SV lớp thực nghiệm
K39 với thể lực ban đầu của SV K37 và K38 được trình bày tại bảng 3.40
và 3.41 trong luận án cho phép nhận xét:
Các chỉ tiêu phản ánh trình độ thể lực của SV lớp thực nghiệm và SV
K37, K38 không có sự khác biệt đáng kể ở ngưỡng xác suất P > 0,05.
Trình độ thể lực ban đầu của SV K37, K38 và K39 là tương đương
nhau trước khi học tập môn GDTC.
19
Xếp loại thể lực ban đầu của SV lớp thực nghiệm K39 theo tiêu
chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT được trình bày tại bảng 3.42 trong luận án
1 Chiều cao đứng (cm)
2 Cân nặng (kg)
Nằm ngửa gập bụng
3
15.53 1.69 16.69 1.66
(lần/30s)
4 Bật xa tại chỗ (cm)
156.37 5.6 158.73 5.96
5 Chạy 30M XPC (s)
6.54 0.38 6.34 0.41
6 Chạy tùy sức 5 phút (m) 873.21 36.67 895.5 36.17
6.87
xác suất p < 0,01.
Đặc biệt về hình thái của SV sau hai năm thực nghiệm, chiều cao
trung bình tăng từ 157,21cm lên 158,52cm với sự khác biệt ở ngưỡng xác
suất p < 0,01.
Xếp loại trình độ thể lực của SV lớp thực nghiệm sau hai năm học
tập theo tiêu chuẩn đánh giá của Bộ GD&ĐT. Kết quả đánh giá trình bày
tại biểu đồ 3.4.
Biểu đồ 3.4. So sánh kết quả xếp loại thể lực sau hai năm học tập môn
học GDTC của SV K37, K38 với lớp thực nghiệm K39
theo qui định của Bộ GD&ĐT
Kết quả trình bày tại bảng 3.46 trong luận án và biểu đồ 3.4 cho thấy:
Có từ 24,8 đến 30,4 SV có trình độ thể lực đạt loại tốt và từ 50,7 đến
71,0 thuộc loại đạt ở từng chỉ tiêu đánh giá. Đây là sự khác biệt lớn được
tạo ra thông qua quá trình thực nghiệm, là sự hơn hẳn so với kết quả xếp
loại đối với K37 và K38. Chỉ còn từ 2,5 đến 17,8 SV thuộc loại chưa
đạt ở từng chỉ tiêu đánh giá.
21
So sánh trình độ thể lực sau hai năm học tập môn học GDTC của
SV K37 và K38 với SV lớp thực nghiệm K39.
Để đánh giá sự khác biệt về hiệu quả đào tạo giữa chương trình đổi
mới với chương trình GDTC trước đó, quá trình nghiên cứu đã tiến hành
so sánh trình độ thể lực của SV K37 và K38 với SV lớp thực nghiệm ở
thời điểm kết thúc năm thứ hai của mỗi khóa đào tạo. Kết quả được trình
bày tại bảng 3.47 và 3.48 trong luận án.
Biểu đồ 3.5. So sánh trình độ thể lực sau hai năm học của K37, K38, K39
Kết quả so sánh trình độ thể lực của SV lớp thực nghiệm K39 với
Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên
Kết quả 2 lần khảo sát ý kiến đánh giá về năng lực triển khai thực
hiện chương trình GDTC cho trẻ Mầm non của SV lớp thực nghiệm được
trình bày tại bảng 3.50 trong luận án có
tính
0,05 cho thấy: SV lớp thực
nghiệm đã được trang bị kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu triển khai
thực hiện chương trình GDTC cho trẻ Mầm non.
Chương trình GDTC theo định hướng nghề nghiệp đã giải quyết có
hiệu quả mục tiêu đào tạo; đã cung cấp cho SV những kiến thức và kỹ
năng cần thiết để giải quyết có hiệu quả công tác GDTC cho trẻ Mầm non.
Nội dung chương trình và tổ chức đào tạo đã thực sự góp phần có
hiệu quả nâng cao năng lực hoạt động nghề nghiệp cho SV trước yêu cầu
của thực tiễn GDMN.
3.2.6.6. Đánh giá về chương trình sau quá trình thực nghiệm
Kết quả 2 lần khảo sát ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên
và SV trực tiếp tham gia thực nghiệm chương trình được trình bày tại bảng
3.51 và 3.52 trong luận án có
tính
0,05 cho thấy: Mục tiêu chương trình đã phản
ánh được yêu cầu của đổi mới giáo dục trong đào tạo GV.
Nội dung chương trình về cơ bản đã thỏa mãn mục tiêu đề ra.
Tổ chức thực hiện chương trình phù hợp với phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ.
Tổ chức và yêu cầu kiểm tra đánh giá có giá trị phát huy năng lực tự
học và tính tích cực của SV trong học tập.
3.2.7. Bàn luận về chƣơng trình đổi mới và hiệu quả đổi mới
Tiểu kết phần đổi mới chƣơng trình GDTC theo định hƣớng
trường ĐHSP Hà Nội 2 cho thấy:
* Chương trình GDTC thuộc khối kiến thức chung
Chưa thể hiện sự gắn bó mật thiết về nội dung và hiệu quả đối với
lĩnh vực đào tạo; kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động TDTT trường học
chưa được coi là một loại hình nghiệp vụ có giá trị nâng cao năng lực nghề
nghiệp của SV sau khi ra trường.
Tính nghề chưa được coi là động lực để tích cực hóa quá trình học
tập của SV; GDTC chưa được chuyển hóa thành cơ hội và điều kiện để thu
hút SV tích cực vận động nhằm phát triển thể lực của bản thân.
Có tới 49,1 SV chuyên ngành GDMN có điểm môn học dưới trung
bình; 47,2 SV đạt điểm trung bình, chỉ có 3,7 SV đạt điểm khá và
điểm giỏi.
* Chương trình GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ
Chuẩn nghề nghiệp của GVMN chưa trở thành định hướng để thiết
kế các tiêu chí cần đạt của sản phẩm đầu ra.
Nội dung đào tạo thiếu những kiến thức cơ bản về phương pháp dạy
học động tác, phương pháp giáo dục các tố chất thể lực; SV không được
tiếp cận và thực hành nội dung, phương pháp GDTC cho trẻ ầm non.
Thiếu cân đối giữa học và hành, giữa nội dung chương trình với thực
tiễn hoạt động nghề nghiệp của SV.
Thực trạng đó đã biến cả hai môn học trở nên hình thức, kém hiệu
quả; trực tiếp hạn chế tính đáp ứng, tính thực tiễn của quá trình đào tạo.