Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 2017 (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 58

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ MINH TÂN

VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở
THÀNH PHỐ BẮC NINH - TỈNH BẮC NINH
GIAI ĐOẠN 1997 - 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ MINH TÂN

VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở
THÀNH PHỐ BẮC NINH - TỈNH BẮC NINH
GIAI ĐOẠN 1997 - 2017
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8.22.90.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Thị Thu Thủy






LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong
khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, những người đã giảng dạy
tôi trong suốt hai năm học vừa qua, giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện
đề tài. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Hà Thị Thu Thủy người đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình
và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của thành phố Bắc
Ninh đã cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học, song do
điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi
những sơ suất, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các
bạn để công trình thêm hoàn thiện.
Tác giả luận văn

Trần Thị Minh Tân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ................................................................................................................. i
Lời cảm ơn ................................................................................................................... ii




Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ BẮC NINH - TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN
1997 - 2017 .................................................................................................................. 70
3.1. Những kết quả tích cực trong việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Bắc
Ninh giai đoạn 1997 - 2017. ....................................................................................... 70
3.1.1. ASXH góp phần tạo động lực phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ............. 70
3.1.2. Chính sách giải quyết việc làm thực hiện có hiệu quả, góp phần xóa đói giảm
nghèo, nâng cao thu nhập cho người lao động ........................................................... 71
3.1.3. Chính sách an sinh xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống của các đối tượng
chính sách, cải thiện mức sống của người dân. .......................................................... 74
3.1.4. Chính sách bảo hiểm được tổ chức thực hiện chặt chẽ, thu đúng, thu kịp thời,
chi trả đúng đối tượng, đúng kỳ góp phần ổn định đời sống người lao động. ............ 76
3.1.5. Quy mô giáo dục được mở rộng, chất lượng đào tạo được nâng lên đã góp phần
nâng cao dân trí và trình độ cho người dân ................................................................ 77
3.1.6. Việc thực hiện chính sách về y tế đã giúp nâng cao sức khỏe cho nhân dân ... 78
3.1.7. Văn hóa, thể thao góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và quảng
bá hình ảnh của thành phố Bắc Ninh “Văn hiến - Năng động - Phát triển” ............... 79
3.2 Những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Bắc
Ninh giai đoạn 1997 - 2017 ........................................................................................ 79
3.2.1. Nhận thức về vai trò của an sinh xã hội còn chưa đầy đủ. ............................... 79
3.2.2. Ở một số lĩnh vực trong cấu trúc ASXH, việc thực hiện còn kém hiệu quả .... 80
3.2.3. Hệ thống cơ chế chính sách chưa đẩy đủ, còn bất cập, thiếu đồng bộ và thường
xuyên thay đổi. ............................................................................................................ 85
3.2.4. Mức độ bao phủ của ASXH thấp ...................................................................... 87
3.2.5. Nguồn lực tài chính hạn chế cản trở thực hiện vai trò của an sinh xã hội ........ 88
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 92

BHYT

:

Bảo hiểm y tế

BTXH

:

Bảo trợ xã hội

ĐVT

:

Đơn vị tính

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

NĐ-CP

:

Nghị định Chính phủ


TGXH

:

Trợ giúp xã hội

TP

:

Thành phố

UBND

:

Ủy ban nhân dân

ƯĐXH

:

Ưu đãi xã hội

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1.Hiện trạng diện tích các loại đât của Thành phố Bắc Ninh......................21
Biểu đồ 2.1.Tỷ lệ hộ nghèo của TP. Bắc Ninh so với toàn tỉnh (1997 – 2017) ..........41
Biểu đồ 2.2. Số hộ dân cư, thôn, khu phố đạt chuẩn văn hóa của TP. Bắc Ninh
(2008 - 2017) ..............................................................................................................61
Biểu đồ 2.3. Số cơ sở y tế của TP. Bắc Ninh so với các đơn vị hành chính khác trong
toàn tỉnh (năm 2017) ....................................................................................................64
Biểu đồ 2.4. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ của TP. Bắc Ninh so
với toàn tỉnh (2008 - 2016) .......................................................................................... 65
Biểu đồ 2.5. Số người nhiễm HIV/AIDS và số người chết do AIDS của TP. Bắc Ninh
so với các địa phương khác (lũy kế đến 31/12/2016) ..................................................68
Biểu đồ 3.1. Tổng sản phẩm bình quân đầu người của người dân Bắc Ninh ..............73

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ănghen không chỉ
luận giải về vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc mà vấn đề giải phóng con
người đã được các ông để cập khá sâu sắc. Với luận điểm “sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [17; tr.606],
thực sự có giá trị lý luận khoa học cho sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung
và mỗi quốc gia nói riêng. Bởi lẽ, lịch sử xã hội loài người đã luôn vận động theo xu
hướng phát triển không ngừng. Một trong những yếu tố cốt lõi cấu thành cho xu
hướng này chính là thông qua sự phát triển con người với khả năng đáp ứng các nhu
cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, không phải tất cả

nghiên cứu về ASXH càng trở nên cấp thiết với nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Thành phố Bắc Ninh không chỉ được biết đến là vùng đất “mỹ tục khả
phong”, “địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống lịch sử, văn hiến và cách mạng mà
còn là tấm gương điển hình về nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân. Trải qua
20 năm tái lập tỉnh, nhân dân Bắc Ninh đã phát huy truyền thống văn hiến và cách
mạng, với tinh thần sáng tạo và ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, thử
thách, tạo nên sự chuyển biến tích cực, toàn diện và sâu sắc trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Cùng với sự chăm lo của Đảng và Nhà
nước, hệ thống chính sách ASXH của thành phố Bắc Ninh không chỉ được hình
thành, bổ sung mà còn là “điểm sáng” trong thực hiện chính sách ASXH. Tuy
nhiên, thành phố vẫn còn phải đối mặt với không ít khó khăn, hạn chế trong quá
trình thực hiện chính sách ASXH.
Bước sang giai đoạn 2017 - 2020, yêu cầu hoàn thiện chính sách ASXH trở
nên bức thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Bởi vậy, rất
cần các nghiên cứu đi sâu nhận diện và tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến ASXH.
Để phát huy những thành tựu, khắc phục những tồn tại cần phải có sự nhìn nhận
mang tính hệ thống, đánh giá về quá trình thực hiện chính sách ASXH tại địa
phương. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho sự nghiệp
phát triển của thành phố và cả nước. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mang
tính khoa học và thực tiễn cao.
Với những lý do và nhận thức về vai trò quan trọng của ASXH trong phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Việc thực
hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh giai đoạn
1997 - 2017” làm nội dung nghiên cứu trong chương trình học Thạc sĩ của mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN









trình đã đưa ra nhiều luận cứ quan trọng cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách ASXH
nói riêng và chính sách xã hội nói chung ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua [27].
Công trình Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt
Nam (2009) của Mai Ngọc Cường đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về khái niệm,
cấu trúc, nội dung của ASXH. Tác giả đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về khái niệm
ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia
đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị
giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật, hoặc tử vong;
cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế,
những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch hoạ [28].
Trong cuốn An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường
ở Việt Nam (2010), tác giả Mai Ngọc Anh đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường;
tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở một
số nước trên thế giới, rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào xây dựng hệ thống
ASXH nước ta; khái quát thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta, chỉ ra những thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của hệ thống ASXH đối với nông dân. Trên cơ sở
đó, đề xuất các phương án xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân
ở nước ta những năm tới [1].
Tác giả Dương Văn Thắng với bài Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại
hội XI của Đảng (2011) đã cho rằng ASXH là trụ cột của hệ thống chính sách xã hội,
Hệ thống ASXH gồm các cơ chế, chính sách, giải pháp nhiều tầng, nấc nhằm bảo vệ
cho mọi thành viên trong xã hội không bị rơi vào tình trạng bần cùng hóa bởi tác
động tiêu cực của các loại rủi ro [70].
Tác giả Phạm Xuân Nam với bài An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới (2012), đã cho rằng, thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là

đây; trên cơ sở mục tiêu, quan điểm thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm
2020 cuốn sách đã nêu lên 5 nhóm giải pháp khắc phục những trở ngại trong thực thi
chính sách ASXH ở nước ta [60].
Cuốn sách Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 (2014),
do Nguyễn Thị Lan Hương chủ biên đã cung cấp một số thông tin cơ bản về tình hình
thực hiện ASXH năm 2013 và đi sâu phân tích những hạn chế và định hướng chính
sách nhằm khắc phục những bất cấp đang tồn tại [55].
Ngoài những công trình nêu trên, một số bài viết khác cũng nghiên cứu về
ASXH ở nhiều khía cạnh khác nhau, như tác giả Nguyễn Hiền Phương với bài Quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




niệm về an sinh xã hội trên thế giới và Việt Nam (2008); Chiến lược an sinh xã hội
Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 (2009) của Nguyễn Thị Lan Hương; Bùi Đức Hiền với
bài Những vấn đề cơ bản của hệ thống hóa pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta hiện
nay (2010), An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống
nhất (2012) của Nguyễn Trọng Đàm, An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
(2012) của Phạm Xuân Nam…Các bài viết đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung
vấn đề thực tiễn về ASXH ở nước ta, là tài liệu tham khảo quan trọng của đề tài.
Những công trình nghiên cứu về an sinh xã hội tại Bắc Ninh
Trong công trình Bắc Ninh: Thế và lực trong thế kỷ XXI do Chu Hữu Luân chủ
biên (2002) đã trình bảy sơ lược về điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Ninh. Bức tranh toàn
cảnh về nền kinh tế Bắc Ninh, đặc biệt những thành tựu, chuyển biến tích cực về kinh
tế, văn hoá, xã hội tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay. Đây là tài liệu để chúng tôi
tham khảo viết về việc thực hiện ASXH ở Bắc Ninh trước năm 1997
Năm 2007, kỉ niệm 10 năm tái lập tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã
biện soạn bản Định hướng chiến lược phát triển bền vững tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926 - 1954, 1954 - 1975, 1975 - 2000), Lịch sử Đảng bộ
tỉnh Bắc Ninh (1926-2008), Lịch sử Thị xã Bắc Ninh, Lịch sử Đảng bộ Thành phố
Bắc Ninh (1954 - 2006), Lịch sử Đảng bộ Thành phố Bắc Ninh (1926-2010), 45 năm
thị xã Bắc Ninh…đã nêu tổng quan chung về tỉnh Bắc Ninh với những nét cơ bản về
kinh tế - xã hội, văn hóa của địa phương.
Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến một khía
cạnh trong chính sách ASXH như tác giả Hồng Minh với bài “Bắc Ninh thực hiện xóa
đói, giảm nghèo” (2000). Báo Bắc Ninh với một loạt bài viết như tác giả Hoài Anh,
Phong Vân với bài An sinh xã hội - Dấu ấn từ Bắc Ninh (Số 3962), Hà Linh có bài
Hành trình tín dụng ưu đãi vì an sinh xã hội (Số 3962), Thương Huyền với bài Giảm
nghèo bền vững ở Bắc Ninh (số 3917), Hoài Phương với bài Dấu ấn giải quyết việc
làm trong 20 năm (Số 3970), Phương Mai có bài Bước chuyển mạnh mẽ sau 20 năm
thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư (Số 3964), Thu Huyền viết bài Thực hiện Bình đẳng giới góp phần tạo điều kiện
cho phụ nữ phát triển (Số 3951). Các bài viết trên đã phản ánh việc thực hiện chính
sách ASXH ở Bắc Ninh với những mức độ lĩnh vực và giai đoạn khác nhau.
Từ những công trình nghiên cứu của các học giả trên đây, có thể thấy rằng về
cơ bản các công trình đã đề cập từ nhiều góc độ, phong phú về nội dung và đa dạng
trong cách tiếp cận nhưng tất cả đều đi đến khái quát hoặc làm rõ từng vấn đề cụ thể
trên lĩnh vực an sinh xã hội. Điểm qua các công trình nghiên cứu, về cơ bản các nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




khoa học đã giải quyết được ba vấn đề sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về
khái niệm ASXH, hệ thống chính sách ASXH, bản chất và chức năng của ASXH.
Thứ hai, vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện
nay, thực trạng hệ thống và việc thực thi chính sách ASXH ở nước ta hiện nay;



3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về ASXH và đặc điểm về địa bàn
nghiên cứu, đề tài đi vào phân tích, làm rõ mang tính hệ thống về quá trình thực hiện
ASXH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2017. Từ đó, nhận diện và
đánh giá khách quan về thực trạng ASXH trong thời gian qua.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Xuất phát từ mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài
phải đi vào giải quyết những nội dung sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về ASXH để làm cơ sở vận dụng
cho nghiên cứu quá trình thực hiện ASXH của thành phố Bắc Ninh.
- Phân tích về quá trình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Bắc Ninh giai
đoạn 1997 - 2017.
- Đánh giá một cách khách quan, toàn diện quá trình thực hiện chính sách
ASXH ở thành phố Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2017.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình thực
hiện chính sách ASXH ở thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2017.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Về ASXH xét cả về mặt lý luận và thực tiễn bao
gồm nhiều nội dung, nhiều vấn đề. Do vậy, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là:
Về nội dung: Luận văn tập trung làm rõ việc thực hiện và đánh giá những kết
quả chính trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Bắc Ninh giai
đoạn 1997 - 2017.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách an sinh xã
hội trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên tên gọi và phạm vi địa
giới của địa phương có sự thay đổi qua từng thời điểm lịch sử. Vì vậy, chúng tôi thống
nhất xác định phạm vi nghiên cứu và tên gọi trong đề tài là: thành phố Bắc Ninh.
Về thời gian: Luận văn giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu giai đoạn 1997 2017. Điểm mốc lịch sử năm 1997 là sự kiện tái lập tỉnh Bắc Ninh và chính thức hoạt
động theo đơn vị hành chính mới theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX về

địa phương. Để từ đó có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan tác động của chính sách
ASXH đối với thành phố Bắc Ninh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu
là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Với phương pháp lịch sử, chúng tôi cố
gắng dựng lại quá trình thực thi chính sách ASXH của thành phố Bắc Ninh theo đúng
trình tự thời gian với những sự kiện, những con số cụ thể phản ánh trung thực kết quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




thực hiện ASXH trong 20 năm qua. Phương pháp lôgic được sử dụng để phân tích,
đánh giá, luận giải quá trình thực hiện chính sách ASXH của thành phố Bắc Ninh.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, điền dã như là
những phương pháp hỗ trợ cho hai phương pháp chủ yếu nêu trên.
6. Đóng góp của đề tài
Về phương diện khoa học: Đề tài là công trình nghiên cứu dưới góc độ sử học
về “Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 1997 – 2017”. Thông qua hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về
ASXH và quá trình thực hiện ASXH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, đề tài giúp
người đọc có cái nhìn tổng thể về một vấn đề quan trọng trong quá trình chuyển biến
kinh tế - xã hội địa phương. Đồng thời, đề tài đánh giá kết quả, thực trạng việc thực
hiện ASXH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
Đóng góp trên đây sẽ góp phần lý giải những vấn đề còn chưa được làm rõ trong vấn
đề nghiên cứu tại địa phương.
Về phương diện thực tiễn: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi tập
hợp, xử lý các nguồn tư liệu có liên quan đến đề tài. Hy vọng đây sẽ là một đóng góp
nhỏ về mặt tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử địa phương nói chung và

Bắc Ninh


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội
Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để
hình thành. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ những người làm công ăn lương
tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem
lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc
làm hoặc khi về già, đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những
người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Đối mặt với những nhu cầu
thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng
lập các quỹ tương tế, các hội đoàn. Đồng thời, đòi hỏi giới chủ và nhà nước phải có trợ
giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. Đầu của thế kỷ XIX, những manh nha về ASXH đã
xuất hiện với việc chính phủ Anh công bố “Luật cứu tế mới” (1834).
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu
công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Lúc đầu chỉ
có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp
rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến những năm 80 của thế kỷ XIX, ASXH đã
mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà
giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Mô hình này của Đức
đã lan dần ra châu Âu, các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những
năm 30 của thế kỷ XX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các
nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, thời
điểm này các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội tiếp tục phát triển để
giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Các dịch vụ xã hội như y tế, dự phòng
tai nạn, dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, trẻ em…được mở rộng ở các
nước theo điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau.
Mĩ là quốc gia ban hành luật đầu tiên trên thế giới về ASXH và cũng đưa ra

đồng chống lại những khó khăn một cách tốt hơn khi gặp những rủi ro” [95; tr.110].
WB đưa ra cách tiếp cận khái niệm và xây dựng mô hình an sinh xã hội mới mẻ, đó là
dựa trên khái niệm “quản lí rủi ro”. WB cũng xác định rất rõ nguồn tài chính và cơ
chế quản lí rủi ro với vai trò quan trọng của nhà nước, gia đình, cộng đồng, các tổ
chức quốc tế, phi chính phủ và cả những thiết chế của thị trường (ngân hàng, công ti
bảo hiểm...). Trên thế giới, quan điểm của WB được coi là quan điểm tiến bộ và rất
nhiều quốc gia vận dụng, đặc biệt là các quốc gia chịu chi phối nhiều bởi tổ chức này.
Bên cạnh WB, một số các tổ chức kinh tế quốc tế khác cũng tiếp cận khái
niệm ASXH từ góc độ kinh tế. Chẳng hạn, theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




ASXH là “sự bảo vệ con người khi không còn khả năng tạo ra thu nhập” [97; tr.3].
Hay Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) định nghĩa ASXH:“Là tập hợp các chính
sách và chương trình nhằm giảm nghèo đói, lệ thuộc bằng việc thúc đẩy thị trường
lao động tích cực, giảm rủi ro và tăng cường năng lực tự bảo vệ của người lao động
chống lại sự giảm hoặc mất thu nhập” [94; tr.42]. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát
triển kinh tế (OCDE): “An sinh xã hội chính là cách thức, phương thức phối hợp các
nguồn lực đối phó với các rủi ro xã hội” [98].
Nhìn chung, khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các tổ chức, các
quốc gia. Vì vậy, nhấn mạnh đến tính đa dạng và phạm vi nội dung khác nhau của
khái niệm này ở các quốc gia, ILO cũng xác định rõ:“An sinh xã hội ở các quốc gia
khác nhau là khác nhau song về cơ bản an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với
các thành viên của mình....” [96; tr.5].
Thuật ngữ ASXH đã xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ XX
trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của học giả Sài Gòn. Sau năm 1975,
thuật ngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó được dùng

Chính sách ASXH có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững
của mỗi quốc gia bởi những vấn đề của ASXH liên quan đến quyền lợi và sự phát
triển của con người. Việc đảm bảo ASXH luôn được các nhà nước coi là một nhiệm
vụ trọng tâm để tạo sự ổn định của xã hội. Chính vì thế, các quốc gia luôn đặt “chính
sách ASXH được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và phù hợp với khả năng của
nền kinh tế” [67; tr.69].
1.2. Những nội dung cốt lõi của an sinh xã hội
Xu hướng chung của các nước trên thế giới ngày nay là lựa chọn mô hình hệ
thống ASXH hoàn chỉnh và hiệu quả, kết hợp đề cao trách nhiệm của cá nhân, cộng
đồng và nhà nước. Đó là một hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ lẫn
nhau, bảo đảm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được các rủi ro cho mọi người.
Ở Việt Nam, hệ thống ASXH gồm các trụ cột chính:
- Các chế độ BHXH, BHYT bắt buộc theo luật định hiện nay ở nước ta bao
gồm: Bảo hiểm xã hội bắt buộc (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, hưu trí, tử tuất), bảo hiểm xã hội tự nguyện (hưu trí, tử tuất), bảo hiểm hưu trí
bổ sung do Chính phủ quy định, bảo hiểm y tế bắt buộc.
- Trợ giúp xã hội (trợ cấp xã hội, xoá đói giảm nghèo…) là sự đảm bảo và giúp
đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các
điều kiện sinh sống thiết yếu khác bằng các hình thức và biện pháp khác nhau với các
đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, yếu thế trong cuộc sống khi họ
không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status