1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu
Trong những năm gần đây, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến vượt
bậc, đột phá cùng với quá trình hội nhập quốc tế. Việc gia nhập WTO, trở thành thành viên
của cộng đồng kinh tế ASEAN, tham gia vào Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương (CPTPP) đã mở ra rất nhiều cơ hội cho ngành ngân hàng Việt Nam, đặc
biệt là việc mở cửa ngành ngân hàng năm 2011 đã đem lại những thay đổi to lớn cho ngành
như :giúp cho các ngân hàng trong nước tiếp nhận các công nghệ ngân hàng hiện đại, cơ cấu
lại vai trò quản lý trong các ngân hàng thông qua việc tham gia của các đối tác chiến lược
nước ngoài, các dịch vụ ngân hàng được chuyên nghiệp và đa dạng hóa...Đặc biệt đối với các
ngân hàng thương mại thì sự cạnh tranh càng được thể hiện rõ rệt, sức ép cạnh tranh này đến
không chỉ từ các ngân hàng thương mại trong nước mà còn đến từ các ngân hàng nước ngoài,
các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các định chế tài chính khác. Nhưng thực tế cho thấy hiệu
quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại
tại Việt nam nói riêng trong thời gian vừa qua không cao. Theo báo cáo của ngành ngân
hàng năm 2016, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của toàn hệ thống chỉ đạt 0,58%, trong đó
khối các ngân hàng thương mại nhà nước là 0,61%, các ngân hàng thương mại cổ phần chỉ
đạt 0,39% và khối các ngân hàng thương mại liên doanh đạt 0,8%. Với đặc thù riêng của
ngành ngân hàng là quy mô tổng nguồn vốn lớn trong đó đặc biệt là tỷ trọng nợ trong tổng
nguồn vốn cao, điều này dẫn đến việc lựa chọn cấu trúc tài chính như thế nào cho vừa phù
hợp với nhu cầu sử dụng vốn, vừa đảm bảo được mức độ rủi ro trong tầm kiểm soát, vừa
đem lại hiệu quả hoạt động cao cho các ngân hàng trở thành một vấn đề đặc biệt quan trọng.
Trong giai đoạn nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, lãi suất huy động của các ngân hàng cũng
phải tăng cao theo đà tăng của lạm phát, vốn huy động được nhiều, quy mô sử dụng vốn
cũng được gia tăng nhưng liệu lúc này hiệu quả hoạt động của các ngân hàng có tăng hay
không: hay nói cách khác liệu chi phí sinh lời trên tổng tài sản có cao hơn so với chi phí trả
lãi không. Và ngược lại, trong vài năm gần đây tỷ lệ lạm phát thấp, lãi suất huy động giảm
hay chi phí trả lãi giảm do nguồn vốn huy động giảm nhưng tỷ suất sinh lời vẫn không cao.
Vậy nguyên nhân chính làm cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại giảm là
do đâu? Quy mô vốn, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
1988) còn Taub (1975) thông qua phân tích hồi quy tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa
nợ và lợi nhuận, ngoài ra một nghiên cứu của (Abor, 2005) cũng phát hiện ra một mối quan
hệ tích cực mạnh mẽ giữa tổng nợ và lợi nhuận, vì vậy từ kết quả của các nghiên cứu trên
cho thấy rằng các cuộc thảo luận về mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt
động vẫn còn đang tiếp tục. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ và tác động giữa
cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động không nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về cấu trúc tài
chính của các ngân hàng thương mại. Do vậy, việc nghiên cứu tác động của cấu trúc tài
chính đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn mà
các ngân hàng Việt Nam đang trong tiến trình thực hiện đề án tái cơ cấu của chính phủ và
ngân hàng nhà nước để hoạt động một cách an toàn và có hiệu quả trở nên cần thiết và đặc
biệt có ý nghĩa, chính vì các lý do đó tác giả quyết định nghiên cứu đề tài “Tác động của
cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại”
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu đánh giá tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả
hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
3
Mục tiêu cụ thể:
-
Xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
-
Kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất với dữ liệu thu thập thực tế từ các ngân
hàng thương mại nghiên cứu.
-
4
4. Những đóng góp của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
(1) Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính
tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. (2) Với các nghiên cứu
trước, khi nghiên cứu về cấu trúc tài chính các tác giả thường nghiên cứu cấu trúc vốn bao
gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ: các biến đại diện cho cấu trúc tài chính thường bao
gồm hệ số nợ (ngắn hạn, dài hạn), đòn bầy tài chính, hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài
sản. Với đặc thù cấu trúc vốn của ngành ngân hàng (không phân chia các khoản nợ phải trả
theo thời hạn thanh toán) nên không thể nghiên cứu tách bạch hệ số nợ ngắn hạn và dài hạn,
mặt khác, các nghiên cứu đều chưa hề đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính của
các ngân hàng thương mại trong mối quan hệ với tài sản, đặc biệt là với phần tổng dư nợ
cho vay của các ngân hàng mà cho vay chính là hoạt động cơ bản và đem lại nguồn thu chủ
yếu cho các ngân hàng thương mại. Trong luận án này ngoài các biến như tỷ lệ vốn chủ sở
hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nợ tác giả đã đưa thêm biến tỷ lệ vốn
chủ sở hữu trên tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng các khoản tiền gửi vào
nghiên cứu của mình. (3) Tác động tích cực của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh là vấn đề được biết đến rộng rãi trong hầu hết các nghiên cứu cho các doanh
nghiệp kể cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính và được giải thích bằng lý thuyết M&M và
lý thuyết đánh đổi, nhưng với nghiên cứu này thì các lý thuyết này không giải thích được
các kết quả thực nghiệm, nghiên cứu này dựa trên những luận giải của khung lý thuyết trật
tự phân hạng áp dụng cho trường hợp các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Những phát hiện rút ra từ kết quả nghiên cứu
(1) Cấu trúc tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam có tỷ lệ nợ rất cao. (2) Các
chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính đều có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại, điểm đặc biệt của nghiên cứu ở đây là phát hiện tỷ lệ vốn chủ sở hữu
trên tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tiền gửi của khách hàng có tác
động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: điều này
nói lên mức độ cẩn thận của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc cho vay và việc
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI
CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động
của các NHTM.
Về cơ bản lý thuyết cấu trúc vốn được đề xuất bởi Modigliani và Miler (1958) vẫn chưa có
được dự đoán hợp lý nào cho mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi. Berger
(2002) thông qua việc kiểm lý thuyết chi phí đại diện đã khẳng định mối quan hệ nhân quả
giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Trong
khi các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này cũng chỉ rõ chiều hướng tác động của cấu trúc
vốn và hiệu quả hoạt động nhưng có sự không đồng thuận về xu hướng tác động. Những
khác biệt của các nghiên cứu này được luận giải bởi cách tiếp cận đối với từng lý thuyết mà
nghiên cứu cụ thể đó ủng hộ
6
1.1.1. Quan điểm về ảnh hưởng tích cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động
của ngân hàng thương mại.
Theo cách tiếp cận vấn đề của lý thuyết đánh đổi, trong điều kiện thị trường không
hoàn hảo bởi sự hiện diện của thuế, chi phí phá sản và chi phí khánh kiệt tài chính thì mệnh
đề về “sự không liên quan của nợ” được gỡ bỏ. Modigliani và Miler (1963) cũng đưa ra đề
xuất về việc gia tăng sử sụng nợ để được hưởng lợi ích “lá chắn thuế” từ khoản tiền lãi được
khấu trừ, do vậy trong ngân hàng cũng như trong bất kỳ ngành nào, việc sử dụng nợ có tác
động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh .
Trên cơ sở lập luận trên, giả thuyết chính của các nghiên cứu theo cách tiếp cận này
là đòn bẩy tài chính cao hơn (hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn) trong cấu trúc vốn của các
ngân hàng thương mại có liên quan đến hiệu quả hoạt động cao hơn. Ủng hộ cho quan điểm
này, một số nghiên cứu đã đưa ra các kết quả về tác động cùng chiều của cấu trúc vốn tới
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại như:
Trong nghiên cứu năm 2002, Berger nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính
của các ngân hàng thương mại Mỹ thông qua việc kiểm định lý thuyết chi phí đại diện. Dữ
nghiệm ghi lại mối liên hệ tiêu cực giữa tỷ lệ vốn và khả năng sinh lời, hỗ trợ quan điểm
cho rằng các ngân hàng đang hoạt động quá thận trọng và bỏ qua các cơ hội giao dịch có
khả năng sinh lợi.
Nghiên cứu của (Saeed, 2013) trong đó đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến hiệu
suất của các ngân hàng tại Pakistan trong giai đoạn (2007-2011) đã phát hiện một mối quan
hệ tương hỗ giữa các yếu tố quyết định cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của ngành ngân
hàng.
1.1.2. Quan điểm về ảnh hưởng tiêu cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động
của ngân hàng thương mại.
Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết trật tự phân
hạng và kết hợp với các giới hạn của lý thuyết người đại diện cho rằng khi đòn bẩy tài chính
cao hơn sẽ làm dòng tiền tự do bị giới hạn mặt khác sẽ làm các nhà quản lý gia tăng việc e
ngại rủi ro, cuối cùng các nhà quản trị sẽ quyết định từ bỏ các dự án rủi ro cao tuy khả năng
sinh lời cao, vì thế đòn bẩy tài chính cao nhưng hiệu quả hoạt động không cao do các dự án
có dòng tiền thuần dương lớn đã bị từ bỏ. Mặt khác, khi đòn bẩy tài chính cao các chủ nợ
được xem như là có rủi ro cao hơn các cổ đông, khi đó họ yêu cầu các nhà quản trị phải cắt
giảm chi phí cũng như từ bỏ những dự án có rủi ro cao và lúc này đòn bẩy tài chính cao dẫn
đến việc hiệu quả hoạt động suy giảm trong dài hạn.
Trong số các nghiên cứu mà tác giả có thể khảo sát về tác động của cấu trúc tài chính
đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại thì phần lớn các nghiên cứu đề cập
đến mối quan hệ ngược chiều này.
Berger (1995) nghiên cứu cho các ngân hàng Mỹ từ năm 1983-1989 kết luận rằng có
sự tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
và tỷ lệ tài sản vốn (CAR, tỷ lệ nghịch của đòn bẩy).
Demirguc và Huizinga (2000), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của ngân hàng, tác giả dùng số liệu 80 quốc gia trong 8 năm (1990-1997) Kết quả
nghiên cứu này tuy cho thấy quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn thì hiệu quả
8
sản) ở Mỹ. Ông không tìm thấy mối quan hệ có hệ thống giữa vốn và lợi nhuận trong ngân
hàng.
1.2.
Khoảng trống nghiên cứu
Qua phần tổng quan trên tác giả nhận thấy
9
- Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về cấu trúc vốn tác động đến hiệu quả hoạt
động thường nghiên cứu cấu trúc vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ, các tác
giả đều sử dụng các biến đại diện cho cấu trúc vốn là hệ số nợ (ngắn hạn, dài hạn), đòn bẩy
tài chính (tổng nợ/ tổng tài sản), tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, với đặc thù cấu trúc vốn
của ngành ngân hàng (không phân chia các khoản nợ phải trả theo thời hạn thanh toán) nên
không thể nghiên cứu tách bạch hệ số nợ ngắn hạn và dài hạn. Thêm nữa các nghiên cứu
trên thế giới chưa đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại
trong mối quan hệ với tài sản, đặc biệt là với phần tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng
(Total Loans), vì cho vay là hoạt động cơ bản và đem lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM.
- Biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại là ROA, ROE
chiều tác động của các biến thuộc cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động chưa đồng nhất phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của nền kinh tế mối nước trong từng giai đoạn, đặc
thù từng quốc gia nghiên cứu...
- Các biến kiểm soát trong nghiên cứu của các tác giả là rất đa dạng: từ các chỉ số vi
mô như: quy mô ngân hàng, tỷ số tiền gửi thị trường, cho vay, đầu tư chứng khoán, nhóm
chỉ số chi phí lãi suất, chỉ số chia sẻ thị trường, tuổi của ngân hàng, tỷ lệ vốn hóa thị trường,
tỷ lệ nợ xấu, đến các chỉ số vĩ mô: GNP, GDP, thị phần, lạm phát... chiều tác động của các
biến này đến hiệu quả hoạt động của các NHTM chưa thống nhất tùy thuộc vào đặc thù của
từng nước. Hạn chế trong các nghiên cứu trước đây khi nghiên cứu về tác động của cấu trúc
vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại chưa đưa được biến đặc trưng
cấu trúc giữa VCSH và nợ phải trả chiếm trong tổng nguồn vốn của DN. Hay “ Cấu trúc tài
chính của DN là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định để
tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN ”(Theo Stephen A.Ross W. Westerfield
và Bradford D. Jordan, 2003; Dare và Sola, 2010; Đoàn Ngọc Phi Anh, 2010; Foyeke và
cộng sự, 2016).
Thứ hai: Các nhà nghiên cứu cho rằng“Cấu trúc tài chính (financial structure) của
một doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn
cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư ở một DN” (Macguigan và cộng
sự, 2006; Cameron and Trivedi, 2010; Trần Ngọc Thơ, 2010)
Thứ ba: cho rằng khi nghiên cứu và xem xét cấu trúc tài chính cần phải nghiên cứu
dưới cả hai góc độ: góc độ thứ nhất đó là cấu trúc vốn của DN và thứ hai đó là cấu trúc vốn
xét trong mối liên hệ với cấu trúc tài sản của DN (Nguyễn Văn Công, 2010; Nguyễn Năng
Phúc, 2011; Phạm Thị Thủy và Nguyễn Thị Lan Anh, 2012).
Như vậy, theo quan điểm thứ nhất thì cấu trúc tài chính chỉ xem xét trong phạm vi
cấu trúc vốn , còn quan điểm thứ hai xem xét cấu trúc vốn ở phạm vi rộng hơn trong cả
ngắn hạn và dài hạn. Còn ở quan điểm thứ 3 ngoài việc xem xét cấu trúc tài chính bao gồm
cấu trúc vốn như hai quan điểm trên còn nghiên cứu cả cấu trúc tài sản và mối liên hệ giữa
cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản.
Theo tác giả cấu trúc tài chính (Financial Structure) là cấu trúc nguồn vốn (Capital
Structure) trong doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và cấu trúc này bao gồm nợ ngắn
hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho các
quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp hay một ngân hàng.
11
2.1.2.1.Cấu trúc nguồn vốn:
Cấu trúc nguồn vốn (còn gọi là cơ cấu vốn) đề cập đến mối quan hệ kết hợp giữa các
nguồn tài trợ khác nhau trong DN và thường là nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa nợ phải trả
và VCSH (Vũ Duy Hào và các tác giả, 1997; Nguyễn Minh Kiều, 2006; Brealey và các tác
giả, 2008; Brigham và Houston, 2009)
12
Vốn chủ sở hữu/tổng tiền gửi của khách và tài trợ ngắn hạn(equity to customer
deposit and Short term funding):
EQS = Tổng vốn chủ sở hữu /Tổng tiền gửi của khách và tài trợ ngắn hạn
2.2. Hiệu quả hoạt động và tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của
các NHTM
2.2.1. Quan niệm về hiệu quả hoạt động(HQHĐ) của các NHTM
Từ phân tích trên và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, quan điểm của tác giả về HQHĐ
của các NHTM như sau: HQHĐ của NHTM là phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích thu được
từ các hoạt động kinh doanh của các NHTM xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả thu
được với tiềm lực của các NHTM đó là tài sản,vốn chủ sở hữu, vốn vay, các nguồn tài trợ
khác... để đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng.
Nhưng trên thực tế trên thị trường Việt Nam những chỉ tiêu tài chính đáng tin cậy
thường có trong cácbáo cáo tài chính được kiểm toán phổ biến hơn nhiều các dữ liệu khác
về thị trường,về chất lượng sản phẩm/ dịch vụ, về mức độ hài lòng và lực lượng lao
động…Do đó, quan điểm về hiệu quả mà tác giả sử dụng trong luận án để đánh giá hiệu quả
hoạt động của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của NHTM
Nhóm chỉ số thể hiện khả năng sinh lợi
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total assets):
ROA = Thu nhập ròng dành cho cổ đông thường / Tổng tài sản
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu(Return on common equity):
Đây là chỉ số thể hiện khả năng sinh lời là của ngân hàng, đây là tỷ số quan trọng
nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ
đông thường.
ROE = Thu nhập ròng dành cho cổ đông thường / Vốn cổ phần thường
Nhóm chỉ số về giá trị thị trường
Tỷ số hệ số giá trên thu nhập (P/E):
P/E= Giá thị trường một cổ phiếu/ Thu nhập một cổ phiếu
Chỉ số giá trị thị trƣờng trên giá trị sổ sách (Tobin, s Q)
CHƢƠNG 3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Giả thuyết nghiên cứu
H1: Cấu trúc vốn có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
H2: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các
NHTMVN
H3: Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động tác động tiêu cực đến HQHĐ của các
NHTMVN
H4: Tốc độ tăng trưởng của tài sản tác động tích cực đến HQHĐ của các NHTMVN
H5: Tổng số tiền gửi tác động tiêu cực đến HQHĐ của các NHTMVN
H6: Thu nhập từ lãi biên tác động tích cực đến HQHĐ của các NHTMVN
H7: Tỷ lệ nợ xấu tác động tiêu cực đến HQHĐ của các NHTMVN
3.2.Mô hình nghiên cứu và các biến đề xuất
Cấu trúc Tài Chính
EQA
EQL
EQS
EQD
Hiệu Quả hoạt động
ROA
NIM
CIN
EQA
EQD
EQL
EQS
ROE
EQA
EQD
EQL
EQS
Biến kiểm soát
CIN
LTD
GROWTH
CDE
NIM
NPL
CIN
LTD
GROWTH
CDE
NIM
NPL
Nguồn: tác giả
3.3. Nguồn dữ liệu và phƣơng pháp thu thập dữ liệu
3.3.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu:
Thu thập dữ liệu: nguồn dữ liệu thu thập được từ báo cáo thường niên của NHNNVN
tương quan; (2) kiểm định phương sai thay đổi; (3) kiểm định đa cộng tuyến. Sử dụng hiệu
chỉnh robust để tính toán lại các sai số chuẩn trong trường hợp kiểm định cho biết mô hình
gặp vấn đề phương sai thay đổi hoặc tự tương quan.
Các kết quả thống kê qua các phương pháp ước lượng đều được tổng hợp lại để tiện
đối chiếu và so sánh.
CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
4.1. Khái quát về hệ thống Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
4.1.1.Sự ra đời và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam
Bảng 4.1: Số lƣợng ngân hàng ở Việt Nam (2008-2016)
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
35
33
28
28
28
NHTMLD
5
5
5
4
4
4
4
3
2
95
84
88
88
Nguồn: báo cáo thường niên NHNNVN 2008-2016
4.1.2. Quy mô tăng trưởng của hệ thống NHTM Việt Nam
Bảng 4.2: Quy mô và tốc độ tăng trƣởng tài sản hệ thống NHTMVN
(Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng)
HT NH
2012
2013
2014
2015
2016
Số tiền
%
3.303
16,5
3.861
16,8
NHTMCP
2.159
-4,5
2.463
14
2780
13,1
2.928
8,9
3.422
16.8
6.358
12,2
6.987
12,3
8.111
16,1
TỔNG
Nguồn: tính toán của tác giả
17
4.2. Phân tích thực trạng cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt
Nam
4.2.1.Thực trạng cấu trúc tài chính các NHTM Việt Nam
Bảng 4.1: Quy mô tổng tài sản và VCSH của nhóm 19 NHTM nghiên cứu
Tổng TS
(nghìn tỷ)
(%)Tăng
trưởng
VCSH
(nghìn tỷ
(%)Tăng
trưởng
4.461
4.388
5.178
31,8
36,9
21,06
5,05
10,9
14,5
-1,64
18
141,1
189,7
231,3
270,4
Chỉ tiêu
EQA
EQD
EQL
EQS
Trung bình
9,5191
11,122
22,607
11,869
Nhỏ nhất
4,13
4,35
5,49
4,61
sử dụng kém hiệu quả.
18
4.2.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam
Bảng 4.3:Thống kê mô tả hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam nghiên cứu
(2008 – 2016)
Giá trị
Tên biến
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Giá trị
Giá trị
Nhỏ nhất
Lớn nhất
ROA
0,9985
1,0154
-5,99
ROA
0,9985
1,0154
-5,99
7,94
ROE
10,63169
8,729012
-56,33
32,14
NIM
3,452
1,3487
0,85
9,75
EQS
11,869
9,7912
4,61
90,68
EQD
11,122
9,4238
4,35
86,03
GROWTH
35,492
76,967
-39,24
779
Nguồn: tác giả xử lý bằng Stata.
19
4.3.3.Lựa chọn mô hình hồi quy
4.3.3.1. Kiểm tra đa cộng tuyến
4.3.3.2. Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính tác động của cấu trúc
vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM VN
Phân tích cho ROA
Bảng 4.5:Tổng hợp các kết quả mô hình hồi quy biến phụ thuộc ROA
VARIABLES
NIM
CIN
GROWTH
NPL
CDE
ROA
ROA
ROA
ROA
0,149***
0,168***
0,149***
0,00137***
0,00138***
-0,00044
-0,00043
-0,00044
-0,00044
-0,0165
-0,0178
-0,016
-0,0174
-0,0234
-0,0235
-0,0236
-0,0235
-0,720*
EQD
-0,00768
1,496***
1,523***
1,567***
1,582***
-0,277
-0,274
-0,274
-0,269
Observations
119
119
119
119
ROE
0,118
-0,283
-0,297***
-0,0149
0,0110***
-0,00236
0,118
-0,377
-18,45***
-2,256
0,381***
-0,119
ROE
0,163
-0,333
-0,291***
-0,0186
0,00981***
-0,00174
0,115
-0,412
-16,87***
-2,227
ROE
24,82***
-2,015
119
0,278***
-0,0948
25,19***
-1,876
119
19
19
19
19
EQD
Constant
Observations
Number of
groups
0,101
-0,283
-0,298***
-0,0151
0,0107***
-0,0024
+
+
+
Đúng
EQD
+
+
+
Đúng
EQL
+
+
+
Đúng
EQS
+
+
+
Đúng
CDE
-
-
-
Đúng
NIM
+
+
K
Đúng một phần
NPL
của các NHTM Việt Nam là tác động tích cực của tác giả đã được khẳng định, kết quả này
cũng phù hợp với cách tiếp cận của các nghiên cứu trên thế giới cho rằng mối quan hệ này
được giải thích bằng lý thuyết trật tự phân hạng về chiều tác động của cấu trúc vốn đến
HQHĐ, nhưng cũng cho thấy điểm khác biệt với các nghiên cứu khác đó là nghiên cứu
được thực hiện trong giai đoạn khá dài, trong giai đoạn này nền kinh tế của Việt Nam trải
qua cả quá trình bao gồm: suy thoái, phục hồi và bước đầu tăng trưởng, trong giai đoạn này
nền kinh tế Việt nam tuy có khó khăn nhưng không hề hỗn loạn và mất kiểm soát,Việt Nam
là một nước có hệ thống tài chính ổn định và tương đối phát triển, các ngân hàng trong
nhóm nghiên cứu đa dạng về quy mô, và kết quả nghiên cứu ổn định với vấn đề về dữ liệu.
- Thứ ba: Đối với biến kiểm soát tốc độ tăng trưởng của tài sản (Growth) có tác
động cùng chiều với cả ROA và ROE, mối tương quan dương này cho thấy các NHTM
Việt Nam càng có tốc độ tăng trưởng tài sản càng cao hay quy mô ngân hàng càng lớn thì
HQHĐ càng tăng.
- Thứ tư: Biến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), đây chính là biến tác giả đưa thêm
vào mô hình nghiên cứu và biến này chỉ giải thích được mối quan hệ đến ROA: NIM có tác
động cùng chiều với ROA, nhưng không có tác động đối với ROE, điều này giải thích mối
quan hệ tương hỗ giữa NIM và ROA: khi NIM tăng đồng nghĩa ROA cũng tăng và ngược
lại. Còn NIM không có ảnh hưởng trực tiếp đến ROE;
-Thứ năm: biến kiểm soát tổng tiền gửi của khách hàng (custom deposit: CDE) có tác
động ngược chiều với cả ROA và ROE điều này có thể giải thích bằng lý thuyết tài chính
doanh nghiệp như sau: thông thường khi các tổ chức kinh tế nói chung sử dụng nợ để tài trợ
cho các HĐKD của mình với mong muốn đầu tiên là mở rộng được quy mô tổng nguồn
vốn, lý do nữa là việc sử dụng nợ sẽ làm cho các tổ chức được hưởng lợi ích từ khoản “tiết
kiệm thuế” do chi phí sử dụng nợ là chi phí trước thuế, nhưng khi sử dụng nợ quá nhiều dẫn
đến việc chi phí trả cho việc sử dụng nguồn vốn này vượt quá cả lợi ích thu được từ khoản
“tiết kiệm thuế” – lúc đó thì tác dụng “lá chắn thuế” của nợ hoàn toàn không đem lại hiệu
quả cho các tổ chức kinh tế nữa. Ở đây, đối với các NHTM Việt Nam nghiên cứu việc quy
mô tiền gửi tăng dẫn đến chi phí trả lãi quá nhiều làm tăng tổng chi phí hoạt động của các
NHTM Việt Nam, kéo gần hơn khoảng cách giữa tổng chi phí và tổng doanh thu hay nói
cách khác làm cho tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng của tổng tài sản làm cho
chính sách cụ thể nhằm thực thi hiệu quả phương án cấu trúc tài chính này.
5.2.2.Một số giải pháp cụ thể
Tăng quy mô vốn chủ sở hữu.
Nâng cao uy tín của các ngân hàng thương mại thông qua đó tăng khả năng thu
hút nguồn vốn.
Xây dựng cấu trúc tài chính hợp lý.
5.2.3.Các giải pháp khác
5.3.Khuyến nghị đối với chính phủ và NHNN
1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng,bảo đảm tính đồng bộ , nhất
quán và phù hợp với thông lệ quốc tế.
24
2. Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm
phát, bảo đảm kinh tế vĩ mô, trong đó điều hành lãi suất , tỷ giá phù hợp với diễn
biến của kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế.
3. Xây dựng một môi trường thuận lợi cho sự phát triển an toàn và bền vững của các
ngân hàng thương mại Việt Nam:
4. Tập trung hoàn thiện và phát triển hệ thống thanh toán và dịch vụ ngân hàng trên nền
tảng công nghệ hiện đại gắn liền với đảm bảo an toàn an ninh mạng, đẩy mạnh thanh
toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế:
5. Nâng cao chất lượng công tác phân tích dự báo, thống kê, công khai minh bạch hóa
thông tin.
6. Chủ động, tích cực hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
5.4. Hạn chế của luận án và hƣớng nghiên cứu tiếp theo
5.4.1. Hạn chế của luận án
- Trong luận án tác giả chỉ giới hạn thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2008 – 2016, và
trong giai đoạn này có một số ngân hàng cũng không thu thập được đầy đủ các dữ liệu do
một vài lý do nên mẫu sử dụng trong mô hình là mẫu không cân bằng (unbalanced data).
Bên cạnh đó đề tài chỉ nghiên cứu trên nhóm NHTM chứ không phải là toàn bộ HTNH ở