BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Đoàn Thị Thu Trang
ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN KHỐI
NGÀNH KỸ THUẬT
Ngành: Kinh tế học
Mã số: 9310101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Hiếu Học
TS. Phạm Thị Kim Ngọc
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ
cấp Trường họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Vào hồi …….. giờ, ngày ….. tháng ….. năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1. Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại
Hà Nội. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Khởi nghiệp – Từ ý
tưởng đến thành công”, Trường Đại học Ngoại
thương, tháng 6/2017, trang 100-112.
Trang Doan Thi Thu, Le Hieu Hoc. (2017). Building
up the entrepreneurial intent construct among
technical students in Vietnam. Journal of Small
Business and Entrepreneurship Development. June
2017, Vol. 5, No. 1, pp. 7-18.
Đoàn Thị Thu Trang, Lê Hiếu Học. (2017). Các yếu
tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên
ngành kỹ thuật: Nghiên cứu trường hợp trường Đại
học Bách khoa Hà Nội. Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số
97/2017, trang 46-57.
Đoàn Thị Thu Trang, Lê Hiếu Học, Nguyễn Phú
Khánh. (2017). Thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh
viên nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các
chương trình liên kết đào tạo quốc tế: Nghiên cứu tại
trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Kỷ yếu Hội thảo
khoa học quốc tế “Chất lượng và hiệu quả các
chương trình liên kết đào tạo quốc tế”, Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, tháng 11/2017, trang 199-216.
0
MỞ ĐẦU
i. Tính cấp thiết của đề tài
Khởi nghiệp (KN) sáng tạo đóng vai trò đòn bẩy cho năng lực
sáng tạo và cạnh tranh, là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng phát
Tất cả những điều này đã đặt ra sự cần thiết phải có những nghiên
cứu đầy đủ và toàn diện về các yếu tố tác động mang tính nhận thức
1
cá nhân tới ý định khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ
thuật Việt Nam và xem xét mức độ tác động của các yếu tố tới ý định
khởi nghiệp thay đổi ra sao đối với các nhóm sinh viên kỹ thuật khác
nhau; qua đó tìm hiểu yếu tố gây dựng nên “gen cơ bản” của ý định
khởi nghiệp sáng tạo ở sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam;
đồng thời đề xuất một số đề xuất nâng cao ý định khởi nghiệp sáng
tạo và các chương trình đào tạo ngành kỹ thuật phù hợp nhằm gia
tăng đội ngũ doanh nhân khởi nghiệp sáng tạo, góp phần quan trọng
đưa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của người Việt ứng dụng vào
thực tiễn.
ii.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm xác định, đánh giá và xem
xét mức độ tác động của các yếu tố nhận thức cá nhân đến ý định
khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật tại Việt Nam; so sánh
sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố trên tới ý định khởi
nghiệp và mức độ sẵn sàng khởi nghiệp của các nhóm sinh viên khối
ngành kỹ thuật khác nhau; trên cơ sở đó đề xuất một đề xuất đối với
nhà nước, nhà trường và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt
Nam nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của nhóm nhân lực này.
Để đạt đươc mục đích này, luận án hướng tới việc trả lời bốn câu
hỏi nghiên cứu sau:
• Tình hình khởi nghiệp sáng tạo và phát triển phong trào khởi
nghiệp của sinh viên các trường đại học nói chung và các đại học
kỹ thuật nói riêng trong giai đoạn hiện nay như thế nào?
trường ĐH kỹ thuật trọng điểm phân bổ ở cả ba miền của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: Luận án được thực hiện
trong thời gian 4 năm (2014-2016), trong đó việc điều tra khảo sát
được thực hiện chủ yếu trong năm 2016.
iii.
Thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cả các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ
liệu thứ cấp được thu thập thông qua các kênh thông tin chính thức
và được xử lý bằng các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích.
Dữ liệu định lượng sơ cấp được thu thập qua điều tra sơ bộ tại 01
trường đại học trọng điểm về kỹ thuật và điều tra chính thức tại 08
trường đại học kỹ thuật Việt Nam trên cả nước, sau đó được tiến
hành làm sạch và phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và
AMOS. Thu thập dữ liệu định tính sơ cấp được thực hiện qua các
phỏng vấn sâu với các chuyên gia về chính sách và đào tạo khởi
nghiệp, các SV đã và chưa tham gia các hoạt động khởi nghiệp.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng cả nghiên cứu định
tính và nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính
chủ yếu là phương pháp nghiên cứu tại bàn thông qua việc phân tích
các dữ liệu thứ cấp nhằm giúp hệ thống hoá cơ sở lý thuyết của luận
án, phân tích mô tả hiện trạng. Phương pháp nghiên cứu định lượng
được sự dụng để xác định các yếu tố nhận thức các nhân ảnh hưởng
đến ý định khởi nghiệp và xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố tới ý định khởi nghiệp, so sánh mức độ tác động của từng yếu tố
3
tới ý định khởi nghiệp, và so sánh ý định khởi nghiệp của các nhóm
SV khác nhau.
iv. Những đóng góp mới của luận án
Chương 3:Tình hình phát triển các hoạt động KN sáng tạo và ý
định KN sáng tạo của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
4
Chương 4: Mô hình và phương pháp nghiên cứu đánh giá các
yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ
thuật Việt Nam.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng
tới ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam.
Chương 6: Bàn luận và hàm ý nghiên cứu.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KN
1.1 Tổng hợp cách tiếp cận của các nghiên cứu trên thế giới liên
quan tới đề tài luận án
Ý định khởi nghiệp phản ánh mức độ quan tâm của một cá nhân
đối với hoạt động khởi nghiệp. Ý định phản ảnh dự đoán khá chính
xác khả năng diễn ra hành vi trong tương lai, do đó việc tìm hiểu và
đánh giá cụ thể các yếu tố tác động tới ý định khởi nghiệp là vô cùng
quan trọng để lý giải hành vi khởi nghiệp.
Cũng chính vì lập luận đó mà các nghiên cứu trên thế giới đã xây
dựng và chứng minh rất nhiều các yếu tố tố tác động tới ý định khởi
nghiệp như nhân khẩu học, năng lực cá nhân, điểm tính cách cá nhân
và cá tính, xã hội, văn hoá, môi trường, giáo dục và các chương trình
đào tạo khởi nghiệp nói riêng
Theo Richard W. (2012), trong lịch sử, các nghiên cứu về chủ
đề yếu tố tác động tới ý định KN có 4 cách tiếp cận cơ bản:
(1) Cách tiếp cận đặc điểm, tính cách cá nhân trả lời câu hỏi ai sẽ
là doanh nhân;
Ví dụ Robinson & cộng sự cho rằng đặc điểm cá nhân kết hợp với
môi trường bên ngoài tác động tới ý định khởi nghiệp của một cá
nhân.
Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các yếu tố tác
động tới ý tưởng khởi nghiệp, trong đó được áp dụng nhiều nhất phải
kể tới Lý thuyết TPB. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đương đại
gợi ý, đối với mỗi môi trường và mục đích nghiên cứu, nhà nghiên
cứu phải lựa chọn các nhóm yếu tố tác động thích hợp nhằm xây
dựng được mô hình nghiên cứu hợp lý nhất. Xu hướng chung của các
nghiên cứu đương đại là áp dụng TPB là mô hình gốc, đồng thời bổ
sung một số biến độc lập và biến điều khiển vào mô hình cho phù
hợp với thực tế triển khai nghiên cứu, đem lại kết quả khả thi nhất về
việc xem xét các yếu tố tác động tới ý định KN cá nhân. Đây cũng là
cách tiếp cận mà luận án lựa chọn.
1.2 Một số nghiên cứu điển hình ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào vấn đề nghiên cứu
ý định khởi nghiệp mới chỉ phát triển trong vài năm gần đây. Tuy
nhiên số lượng các nghiên cứu về ý định KN xuất hiện khá nhiều và
áp dụng trên nhiều khách thể nghiên cứu khác nhau, với các nhóm
tiền tố tác động đa dạng.
Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu được thực hiện
trong một phạm vi nhỏ (một hoặc một vài trường đại học). Chưa có
6
nghiên cứu dạng này trên phạm vi toàn quốc. Đặc biệt, các nghiên
cứu chuyên sâu về ý định KN về nhóm SV khối ngành kỹ thuật còn
chưa được thực hiện tại Việt Nam. Do vậy, hình thức KN sáng tạo
chưa được nhấn mạnh hoặc làm rõ trong các nghiên cứu này.
1.3 Nhận định khoảng trống lý thuyết của luận án
tiếp/gián tiếp). Chưa dừng lại ở đó, luận án còn xem xét sự khác biệt
về mức độ tác động của 7 yếu tố trên tới ý định khởi nghiệp ở các
7
nhóm sinh viên khác nhau về đặc trưng nhân khẩu học, và kiến thức
và kinh nghiệm khởi nghiệp. Kết quả phân tích hai vấn đề trên sẽ
giúp luận án đề xuất giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước,
các trường đại học và bản thân sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt
Nam để nuôi dưỡng và hiện thực hoá ý định khởi nghiệp sáng tạo
của sinh viên, từ đó hình thành văn hóa khởi nghiệp để tạo ra cộng
động, mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo năng động, hiệu quả.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KN VÀ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
2.1 Ý định khởi nghiệp
Trong nghiên cứu này, ý định KN được định nghĩa theo quan
điểm của Krueger, đó là sự cam kết về mặt nhận thức sẵn sàng thành
lập và làm chủ một doanh nghiệp mới dựa trên nền tảng khoa học
công nghệ trong tương lai gần với hai lý do: (1) Nghiên cứu của
Krueger là mô hình đã được kiểm định riêng cho KN, và (2) lí thuyết
gắn kết hiệu quả đối với việc thúc đẩy ý định của con người được
minh chứng qua nhiều thực nghiệm với những kĩ thuật khác nhau.
2.2 Khởi nghiệp
Trong khuôn khổ luận án này, khởi nghiệp được hiểu như
cách nhìn nhận chung trên thế giới là việc một cá nhân tự đứng ra
làm chủ hoặc đồng làm chủ gây dựng một doanh nghiệp mới dựa trên
áp dụng hoặc sáng tạo khoa học công nghệ và được gọi là nhóm
doanh nghiệp KN sáng tạo. Cách gọi này tương đồng với Điều 3 Luật
hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành năm 2017, theo đó KN
sáng tạo là thành lập doanh nghiệp mới để khai thác một ý tưởng
vì có kế hoạch do Ajzen (1978, 1981) xây dựng là xem xét cả các
yếu tố có tính cá nhân và các yếu tố xã hội nhằm dự đoán ý định của
con người trước các quyết định quan trọng. Điều đó lý giải vì sao
TBB được ứng dụng phổ biến hơn cả trong các nghiên cứu về ý định
KN. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu gợi ý, ngoài các yếu tố tác động
mang tính cảm nhận cá nhân trong khung mô hình TPB, nhà nghiên
cứu nên xem xét bổ sung các yếu tố cảm nhận các nhân khác, đồng
thời xem xét cả các yếu tố môi trường bên ngoài nhằm đem lại cái
nhìn tổng quát nhất, phù hợp nhất với môi trường nghiên cứu về ý
định KN và các yếu tố tác động. Đây là hướng nghiên cứu đang được
áp dụng phổ biến và cũng là cách xây dựng mô hình nghiên cứu luận
án áp dụng.
CHƯƠNG 3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG
KN VÀ Ý ĐỊNH KN CỦA SV KHỐI NGÀNH KỸ THUẬT VN
3.1. Tổng quan về hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam
Trong một vài năm gần đây, vấn đề khởi nghiệp trong giới trẻ
đã và đang là câu chuyện thời sự - kinh tế của đất nước và nhận được
sự quan tâm của toàn xã hội. Hàng loạt các chính sách, quy chế, dự
án được thành lập nhằm thúc đẩy phòng trào khởi nghiệp, đặc biệt là
khởi nghiệp sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học công nghệ. Điển
hình là Nghị định 118/2015/NĐ-CP với những quy định chi tiết và
hướng dẫn một số điều trong Luật Đầu tư đã mở rộng đối tượng ưu
đãi đầu tư gồm các nhà đầu tư mạo hiểm và phát triển công nghệ cao
trong các dự án khởi nghiệp sáng tạo; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày
16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Luật
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và được Quốc hội thông qua vào tháng
6/2017 và chính thức có hiệu lực từ năm 2018 đã chính thức đặt nền
móng pháp lý cho hệ thống pháp luật về hỗ trợ nhóm doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo (startup) chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế
Việt Nam
3.2 Ý định KN của SV khối ngành kỹ thuật VN
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0, KHKT đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là
lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu bởi đặc điểm của
kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới liên tục
về khoa học kỹ thuật trong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin
và tri thức với tư cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, trình độ phát triển kỹ
thuật có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế quốc gia. Trong
bối cảnh đó, nguồn nhân lực có chất lượng cao về kỹ thuật và khoa
học công nghệ đã trở thành lợi thế quyết định của mỗi quốc gia.
Nắm bắt xu hướng đó, nền giáo dục Việt Nam đã có bước
chuyển dịch rõ nét về cơ cấu ngành nghề trong đào tạo ở bậc đại học,
11
trong đó tập trung và ưu tiên vào khối ngành kỹ thuật. Theo nghiên
cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2015 (không bao gồm Trung
Quốc và Ấn Độ), Việt Nam xếp vị trí thứ 10 trong danh sách các
nước có nhiều SV tốt nghiệp ngành kỹ thuật nhất, với 100.390 kỹ sư
tốt nghiệp mỗi năm. Bên cạnh đó, sự quan tâm trở lại của toàn xã hội
với nhóm ngành kỹ thuật đưa đến xu hướng tăng tỷ lệ đào tạo khối
ngành kỹ thuật trong các trường đại học. Cơ cấu quy mô SV đại học
chính quy theo nhóm ngành trong thời gian gần đây được Bộ
GD&ĐT ban hành cho biết nhóm ngành V khoa học công nghệ
chiếm vị trí lớn nhất trong tỷ trọng đào tạo (32,6%). Theo báo cáo
cập nhật giáo dục đại học tháng 7/2014 của Quỹ Giáo dục Việt Nam
(VEF), kỹ thuật là một trong các nhóm ngành mà SV giỏi Việt Nam
thường có xu hướng lựa chọn.
Như vậy, với số lượng lớn SV khối ngành kỹ thuật, sự rộng
sóng khởi nghiệp rất sôi động của SV nhóm ngành này.
Bảng 3.5:Hoạt động hỗ trợ nâng cao ý định khởi nghiệp sinh viên
Tiêu chí
ĐHBK HN
ĐHBK HCM
Văn hóa của
Trường
Vai trò của
lãnh đạo
Vườm ươm
KNST
Văn hóa KN trong trường
ĐH từ rất sớm và đang tiếp
tục phát triển theo hướng,
đại học sáng tạo
Ban lãnh đạo đặt trọng tâm
đào tạo và truyền cảm hứng
KN cho SV qua đam mê
nghiên cứu KH và sáng tạo.
Hình thành vườm ươm
doanh nghiệp từ sớm (hiện
không hoạt động)
Văn hóa KN sáng tạo cho
SV được định hình từ rất
sớm và tiếp tục được duy
trì, phát triển
Ban lãnh đạo hỗ trợ tối đa
Hội thảo đa dạng, trong Hội thảo đa dạng, trong
Hội thảo KNST
nước và quốc tế
nước và quốc tế
Đánh giá của Số lượng các Startup theo Là một trong hai lò đào
chuyên gia
học khá lớn
tạo Starrup của Việt Nam
Khóa học tự
chọn KNST
13
CHƯƠNG 4. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ những nghiên cứu tổng hợp về các vấn đề xung quanh lĩnh
vực KN và ý định KN, có thể khẳng định quyết định trở thành một
doanh nhân KN là một quyết định có chủ ý và có ý thức, đòi hỏi thời
gian, lập kế hoạch cẩn thận và mức độ xử lý nhận thức cao. Do đó,
một quyết định về khởi nghiệp được coi là một hành vi có kế hoạch
có thể được giải thích bằng các mô hình ý định. Việc nghiên cứu hiện
tượng doanh nhân và ý định khởi nghiệp của các cá nhân dựa trên
các mô hình ý định được coi là một cách tiếp cận thích hợp để phân
tích vấn đề thành lập liên doanh mới. Trên cơ sở phân tích các ưu
nhược điểm phù hợp với đối tượng và phạm vị nghiên cứu đã trình
bày ở trên, luận án đề xuất khung mô hình nghiên cứu cụ thể như
sau:
• Dựa vào mô hình Lý thuyết TPB: hình thành 06 yếu tố tác
động mang tính cảm nhận cá nhân gồm Giá trị mong đợi của cá
H7
H8
&
H9
Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Các giả thuyết của mô hình nghiên cứu như sau:
Tác động
MQH
Giá trị mong đợi - Thái độ
+
Niềm tin về chuẩn mực xã hội – Chuẩn chủ quan
+
Niềm tin về chuẩn mực xã hội - Thái độ
+
Cảm nhận năng lực bản thân - Nhận thức kiểm
+
soát hành vi
Cảm nhận về may mắn - Nhận thức kiểm soát
Thái độ - Ý định khởi nghiệp
+
Chuẩn chủ quan - Ý định khởi nghiệp
+
Chuẩn chủ quan - Nhận thức kiểm soát hành vi
+
Nhận thức kiểm soát hành vi - Ý định khởi nghiệp
+
Mức độ tác động của các yếu tố nhận thức cá Có sự
nhân -Ý định KN giữa các nhóm SV khác nhau về khác
đặc trưng nhân khẩu, kiến thức &kinh nghiêm KN biệt
CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Kết quả điều tra từ 8 trường đại học trên cả nước với 2500
phiếu điều tra phát đi, thu về được 1.789 phiếu hợp lệ (71.5%).
5.2 Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo
PP. Cronbach alpha kiểm định 41 biến quan sát thuộc 08
thang đo trong mô hình nghiên cứu đề xuất có đủ độ tin cậy để lấy ý
kiến trong Phiếu khảo sát. Phân tích EFA loại 04 biến: EXP5, SUB3,
SEF4, SEF6.
5.3 Kết quả đánh giá chính thức thang đo
Phân tích CFA được thực hiện với mô hình đo lường và mô
hình tới hạn với mẫu nghiên cứu chính thức (n=1.789).
17
Kết quả phân tích bằng mô hình tới hạn cho thấy mô hình
tương thích với dữ liệu thực tế và có thể xem xét đưa vào phân tích ở
mô hình tới hạn để đánh giá giá trị hội tụ và phân biệt giữa các nhân
tố trong mô hình. 06 biến có hệ số tải nhân tố nhỏ sẽ tiếp tục bị loại
khỏi mô hình tới hạn: ATT5, BEL4, SUB1, SEF7, PBC6, RIS1.
Như vậy, 8 biến trong mô hình được đo bằng 31 thang đo.
Kết quả phân tích bằng mô hình tới hạn cho thấy mô hình
nghiên cứu tương thích với dữ liệu thị trường. Các hệ số tải nhân tố
đều có hệ số tải nhỏ đều lớn hơn 0.5, cho thấy các nhân tố trong mô
hình đạt giá trị hội tụ và các hệ số tương quan giữa các nhân tố đều
nhỏ hơn 0.9 chứng tỏ các nhân tố đạt giá trị phân biệt
Kết quả đánh giá độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích cho
thấy các hệ số tin cậy tổng hợp đều lớn hơn 0.7, phần lớn phương sai
trích của các nhân tố đều > 0.5. Kết quả kiểm định hệ số tương quan
khác đơn vị bằng phương pháp bootstrap cho thấy các khái niệm
điểm đánh giá ở mức khá cao (Mean = 3.8), trong khi các biến thể
hiện nhận thức về năng lực của bản thân SV, nhận thức kiểm soát
hành vi chỉ ở mức trung bình. Điểm khả quan là SV hầu như không
tin tưởng nhiều vào yếu tố may rủi trong kinh doanh.
Kết quả so sánh ý định KN của các nhóm SV khác nhau cho
thấy SV tham gia các khoá đào tạo KN có ý định KN cao hơn. Ý
định KN của SV giữa các trường cũng khác nhau, theo đó ý định KN
của SV ở các trường phía Nam cao hơn phía Bắc và SV các trường
đại học nhỏ, địa phương có ý định KN cao hơn tại các trường ở trung
tâm. Xét về ngành học, xu hướng cho thấy nhóm ngành Cơ khí có ý
định khởi nghiệp cao hơn ngành CNTT và cac ngành khác
CHƯƠNG 6. BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU
6.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu
Kết quả sơ bộ ghi nhận SV kỹ thuật Việt Nam có xuất thân
gia đình làm kinh doanh ở mức thấp, rất ít cơ hội tham gia nghiên
cứu khoa học nhưng lại đi làm thêm khá nhiều, tỷ lệ SV tham gia các
khoá đào tạo khởi nghiệp trong trường rất thấp. SV có lo lắng lớn
nhất khi khởi nghiệp là khó khăn liên quan tới vốn, thủ tục vay vốn,
tiếp đó là nhận thức thiếu hụt các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng
KN. Nhận xét chung là các điều kiện cơ bản để sinh viên phát huy
tiềm năng khởi nghiệp là khá thấp.
Kết quả phân tích cho thấy ý định khởi nghiệp chỉ đạt ở mức
trung bình, ước lượng có hơn 50% SV có ý định khởi nghiệp. Đây là
một con số khá lớn, tuy nhiên việc đi từ khía ý định tới hành vi là
một chặng đường dài. Nhà trường vẫn cần có những khuyến khích,
tạo những cơ hội để SV nuôi dưỡng ý định khởi nghiệp và có thể
chuyển nó thành hành động trong thực tế.
Trong các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp, thái độ
với việc khởi nghiệp có điểm đánh giá khá cao. Đây cũng là yếu tố
19
nhận về khả năng tự kiểm soát trong hoạt động thực tiễn của SV lại ở
mức thấp, không tương xứng với nhận thức này của SV. Điều này
một lần nữa đặt ra nhu cầu xây dựng chương trình học về khởi
nghiệp, tạo lập, quản trị và điều hành doanh nghiệp, điều hành các dự
án kinh doanh và quản lý rủi ro cho SV các ngành kỹ thuật.
Có hai yếu tố chính tác động mạnh nhất và có ảnh hưởng trực
tiếp đến ý định khởi nghiệp của SV là thái độ với việc khởi nghiệp và
nhận thức kiểm soát hành vi. Các yếu tố còn lại có tác động gián tiếp
tới ý định khởi nghiệp và ở mức độ tác động yếu hơn. Kết luận trên
20
tương đối nhất quán với các kết quả nghiên cứu về ý định khởi
nghiệp và nhân tố tác động tại các nước phát triển. Điều này một lần
nữa chứng minh TPB được áp dụng hiệu qủa trong môi trường kinh
tế đang phát triển như Việt Nam. Kết quả trên đem lại hàm ý quan
trọng trong việc định hình và nâng cao ý định khởi nghiệp của SV
khối ngành kỹ thuật Việt Nam: Các chính sách vĩ mô và nhà trường
trước hết cần quan tâm tới việc nâng cao quan điểm tích cực của SV
với khởi nghiệp, tiếp đó là xây dựng lòng tin của SV với năng lực
khởi nghiệp của mình và cung cấp các nguồn lực hỗ trợ KN để tăng
niềm tin của SV đối với các hỗ trợ hiệu quả từ phía nhà trường và xã
hội.
Chuẩn chủ quan không có tác động trực tiếp tới ý định khởi
nghiệp của SV mà chỉ tác động gián tiếp tới ý định KN thông qua
nhận thức kiểm soát hành vi, và ở mức tác động rất khiêm tốn. Đây
là nhân tố gây bàn cãi nhất trong số ba tiền tố chính ở TPB. Như vậy,
nghiên cứu đã chứng minh trong môi trường nghiên cứu Việt Nam,
với nhóm khách thể nghiên cứu là SV khối ngành kỹ thuật thì chuẩn
chủ quan hầu như không có ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của
ĐH Cần Thơ) có ý định KN cao hơn so với SV ở các trường trung
tâm và các trường đại học lớn.. Về vấn đề này, các chuyên gia nhận
định có 2 lý do: thứ nhất các trường đại học lớn như ĐHBK HN có
chương trình đào tạo nặng hơn, do vậy SV không còn nhiều thời gian
cho khởi nghiệp. Thứ hai, cơ hội việc làm tốt với mức thu nhập cao
của SV các trường đại học lớn, trọng điểm. Do vậy các em không có
nhiều mong muốn khởi nghiệp là điều dễ hiểu.
6.2 Một số đề xuất từ kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao ý định
khởi nghiệp cho SV khối ngành kỹ thuật Việt Nam
Trong số yếu tố nhận thức cá nhân mà luận án kiểm nghiệm
có sự ảnh hưởng tới ý định KN của SV khối ngành kỹ thuật Việt
nam, thái độ tích cực với KN là yếu tố nhận thức cá nhân có tác động
lớn nhất tới ý định khởi nghiệp. Do đó, luận án đề xuất rằng nâng cao
thái độ tích cực của SV với hoạt động KN là việc làm đầu tiên mà
nhà nước và nhà trường cần hướng đến vì mục tiêu xây dựng xã hội
KN. Tiếp đó, kết quả nghiên cứu của luận án ghi nhận yếu tố Nhận
thức kiểm soát hành vi đóng vai trò quan trọng thứ hai tác động tới ý
định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật Việt Nam. Do
đó, đây phải là yếu tố được chú trọng để hoạt động khởi nghiệp của
sinh viên đi vào thực chất, tránh tính chất phong trào, hô hào khẩu
hiệu hay xây dựng dự án khởi nghiệp để đi thi là chính.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu chính trên, luận án đưa ra một
số đề xuất thúc đẩy ý định khởi nghiệp của nhóm sinh viên khối
ngành kỹ thuật nhằm phát triển các hoạt động khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo trong tương lai. Các đề xuất hướng đến tác động tích cực
vào các yếu tố tác động cá nhân mà luận án đã phân tích có ảnh
hưởng lớn tới việc hình thành và nâng cao ý định KN cho sinh viên
22