ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ NGỌC ANH
NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN
DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ, VIỆT NAM
TÓM TẮT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 9340101
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS BÙI THỊ TÁM
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG HÀO
HUẾ - NĂM 2019
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế.
Người hướng dẫn khoa học 1:
PGS. TS. Trịnh Văn Sơn
Người hướng dẫn khoa học 2:
PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Hòa
cầu, nhưng tác động của các sự kiện này đến du lịch lữ hành đang là vấn đề chưa rõ ràng’.
Trong khi một số quốc gia và địa phương điểm đến đang phải hứng chịu nhiều tác động do
sự suy giảm về lượt du khách quốc tế thì một số điểm đến khác lại có tác động ngược lại. Và
đặc biệt lý thú là trong mấy năm gần đây ngành du lịch và lữ hành thế giới vẫn tiếp tục tăng
trưởng. Tổng lượt du khách quốc tế đạt kỷ lục 1.19 tỉ lượt trong năm 2015, tăng 52 triệu so
với 2014 (UNWTO, 2016). Theo đánh giá của Ủy ban Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC)
thì du lịch và lữ hành hiện nay đang đóng góp 10.2% GDP thế giới với tổng doanh thu
7,613.3 tỉ đô la Mỹ và chiếm 6.6% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, đóng góp 9.6% việc làm
toàn cầu và con số này có thể lên 12.1% trong năm 2027 (WTTC, 2017).
Khi thị trường du lịch quốc tế ngày càng phát triển thì năng lực cạnh tranh của điểm đến
càng được xem là yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch. Pearce
(1997:25) cho rằng “Khi du lịch thế giới ngày càng trở nên cạnh tranh…tất cả nhận thức sâu
sắc về sự phát triển, thế mạnh và các điểm yếu trong cạnh tranh của điểm đến sẽ là yếu tố tối
quan trọng”. Cũng với quan điểm này, Crouch và Ritchie (2000:6) nhấn mạnh “khả năng cạnh
tranh của điểm đến có tác động phân loại nội bộ ngành và vì thế nó (khả năng cạnh tranh)
đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt đối với các doanh nghiệp và các nhà nhà hoạch
định chính sách”.
Đối với các điểm đến du lịch, năng lực cạnh tranh vừa được coi là động lực và mục tiêu
phát triển của điểm đến, bởi năng lực cạnh tranh sẽ gia tăng cơ hội thu hút thị trường du
khách, thúc đẩy du lịch phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành bổ trợ, thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội của địa phương điểm đến, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tiến trình xây
dựng và duy trì năng lực cạnh tranh vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược, vừa gắn với hoạt
động hàng ngày hàng giờ tại điểm đến. Một khi điểm đến du lịch trước khi quyết định triển
khai chiến lược và giải pháp phát triển điểm đến, nâng cao năng lực cạnh tranh thì cần giải
quyết được một loạt các vấn đề cốt lõi như: các yếu tố nào cấu thành năng lực cạnh tranh
của điểm đến? Cách thức đo lường đánh giá các nhân tố này? Liệu danh mục các biến số
phổ cập chung có thể áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của một điểm đến cụ thể?
Đây là những câu hỏi lớn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu cũng như
người làm công tác thực tiễn nhưng cho đến nay vẫn chưa có lời đáp thỏa mãn cho các câu
hỏi này. Thậm chí ngay cả khi điểm đến du lịch thành công trong chiếm lĩnh thị trường thì
hóa và phát triển điểm đến; và 3) các yếu tố nguồn lực du lịch và tính hấp dẫn của điểm đến.
Tuy nhiên, tổng lược các nghiên cứu liên quan trên thế giới cũng nhấn mạnh rằng chưa
có một mô hình hoàn thiện về nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch vì các mô
hình đề xuất đều chưa cung cấp một khung đánh giá tổng hợp các khía cạnh khác nhau về
khả năng cạnh tranh của điểm đến. Thực tế này đặt ra nhu cầu cần thiết đối các nghiên cứu
đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch nhằm góp phần hoàn thiện mô hình lý thuyết
cũng như cung cấp các khuyến cáo chính sách và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh điểm đến ở các phạm vi khác nhau.
Đối với ngành du lịch Việt Nam, trong những năm qua mặc dù có nhiều chuyển biến
tích cực và đạt được tăng trưởng đáng kể, song du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Thừa
Thiên Huế (từ đây được tóm lược là Huế) nói riêng chưa thực sự phát triển xứng với tiềm
năng. Sản phẩm du lịch chưa hấp dẫn và thiếu tính đặc trưng. Khả năng thu hút và hình ảnh
của các điểm đến du lịch của Huế còn mờ nhạt đối với du khách (Bùi Thị Tám, 2010, Trần
Thị Ngọc Liên, 2013). Số liệu thống kê từ Sở Du lịch Thừa Thiên Huế cũng cho thấy, số
ngày lưu trú bình quân tại Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2013-2017 giảm sút từ 2.01
ngày/khách (năm 2013) xuống 1.8 ngày/khách (năm 2017), trong khi các điểm đến lân cận
như Đà Nẵng và Hội An lại có sự tăng nhanh. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về năng lực cạnh
tranh của điểm đến du lịch Thừa Thiên Huế. Với thực tế vượt trội về tài nguyên du lịch và
2
với một điểm đến du lịch được phát triển khá sớm ở Việt Nam cũng như ở khu vực Miền
Trung (Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên, 2012; Lê Thị Ngọc Anh, 2018), nhưng du lịch Thừa
Thiên Huế vẫn chưa có được những bước phát triển nổi trội khẳng định vị thế của một điểm
đến tiên phong trong khu vực.
Cho đến nay cũng đã có một số nghiên cứu về khả năng thu hút, hình ảnh điểm đến
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về năng lực cạnh tranh của điểm
đến du lịch để xây dựng, kiểm định và đề xuất mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch, và sử dụng trong phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm
đến du lịch Thừa Thiên Huế.
3
2.2 Mục tiêu cụ thể
1. Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận và phương pháp luận về đánh giá năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch.
2. Xây dựng khung lý thuyết và hệ thống biến đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến
du lịch
3. Phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Thừa Thiên Huế
4. Đề xuất định hướng, giải pháp chủ yếu và các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Thừa Thiên Huế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, phương pháp luận và
vận dụng thực tiễn về nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Huế.
- Để thực hiện các nội dung nghiên cứu thì đối tượng điều tra là các chủ thể liên quan
đến hoạt động kinh doanh, nghiên cứu, quản lý và phát triển du lịch được tiếp cận khảo sát
gồm các chuyên gia thuộc các cơ quan quản lý nhà nước các cấp về du lịch, các tổ chức, các
- Vai trò, vị trí và giai đoạn phát triển của điểm đến du lịch Huế trong vùng du lịch
đồng vị Trung Trung Bộ
- Tầm quan trọng và tính phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch của
khu vực nói riêng và của du lịch Thừa Thiên Huế nói chung
- Tính có thể kế thừa và so sánh với các nghiên cứu trước về đánh giá năng lực cạnh
tranh của điểm đến du lịch. Đây là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu kiểm định khung lý
thuyết.
- Về mặt khái niệm thì năng lực cạnh tranh của một điểm đến được đánh giá qua các
thuộc tính/yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến đó. Do vậy, trong nghiên cứu
này việc lựa chọn thêm hai điểm đến phụ cận là Đà Nẵng và Quảng Nam (Hội An) – là các
điểm đến vừa có khả năng chia sẻ thị trường với điểm đến Huế, nhưng cũng vừa là các điểm
đến hợp tác trong nổ lực phát triển diểm đến khu vực - chỉ nhằm cung cấp thêm thông tin
tham khảo, có thể so sánh được và đề xuất các hàm ý quản lý điểm đến. Việc phân tích năng
lực cạnh tranh của hai điểm đến tham khảo này không thuộc mục tiêu và phạm vi của
nghiên cứu này.
• Về thời gian:
- Các số liệu thứ cấp về phát triển điểm đến du lịch được thu thập chủ yếu cho giai
đoạn 2012-2017
- Các nội dung định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến
du lịch Huế được luận giải và đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020.
4. Những đóng góp mới của luận án
Trong gần hai thập niên qua, năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch là vấn đề thu hút sự
quan tâm của các nhà hoạch định chính sách quản lý và phát triển điểm đến du lịch, các doanh
nghiệp du lịch lữ hành, cũng như những nhà nghiên cứu liên quan. Đã có khá nhiều nghiên
cứu liên quan nhằm xây dựng khung lý thuyết cũng như vận dụng trong đánh giá năng lực
cạnh tranh điểm đến du lịch ở những cấp độ điểm đến khác nhau.. Tuy nhiên do tính chất đa
chiều và phức tạp của bản thân khái niệm năng lực cạnh tranh điểm đến, đa số các nghiên cứu
nghiên cứu này, với qui mô mẫu số liệu đủ lớn, việc kết hợp triệt để phương pháp EFA, phân
tích nhân tố khẳng định (CFA) đã giúp giải quyết được hạn chế thường gặp đã nêu trên. Trên
cơ sở đó, việc đánh giá năng lực cạnh tranh không dừng lại ở phân tích từng nhân tố riêng
biệt, mà còn phân tích và chỉ ra tác động qua lại giữa các nhân tố và từ đó là giải pháp quản lý
liên quan.
• Về phương diện thực tiễn:
Thứ nhất, về mặt thể chế và quản lý, cấp tỉnh là cấp địa phương cao nhất có quyền
hạn và trách nhiệm hoạch định và tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển du lịch ở địa phương. Do vậy, có thể nói nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của điểm đến địa phương (cụ thể là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) sẽ cung cấp
cơ sở dữ liệu khoa học, hợp lý và hữu ích nhất để xây dựng và hiện thực hóa các chiến lược
và kế hoạch phát triển điểm đến du lịch.
Thứ hai, đây là nghiên cứu đầu tiên chuyên sâu về đánh giá năng lực cạnh tranh điểm
đến Thừa Thiên Huế được tiếp cận từ phía cung (chuyên gia, nhà quản lý và các doanh
nghiệp), và với việc sử dụng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến được xây dựng
trên cơ sở khoa học khách quan, nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin cụ thể hữu ích
về các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến Thừa Thiên Huế, những điểm
mạnh, điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó, giúp cho các nhà hoạch định chiến
lược quản lý và phát triển điểm đến du lịch Thừa Thiên Huế có được những chính sách phù
hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Thừa Thiên Huế.
Thứ ba, các giải pháp và hàm ý quản lý dựa trên các kết quả nghiên cứu khách quan,
khoa học sẽ giúp cho các nhà quản lý cũng như các doanh nghiệp có được các định hướng
và giải pháp cụ thể trong phát triển sản phẩm cũng như quảng bá phù hợp với lợi thế cạnh
tranh và lợi thế so sánh của điểm đến Huế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường, gia tăng
sự hài lòng của du khách, góp phần phát triển du lịch Thừa Thiên Huế theo hướng bền
vững.
6
Khả năng thu hút của điểm đến du lịch là “phản ánh cảm nhận, niềm tin, và ý kiến
mà mỗi cá nhân có được về khả năng làm hài lòng khách hàng của điểm đến trong mối liên
hệ với nhu cầu chuyến đi cụ thể của họ”, và khả năng thu hút được đánh giá từ phía cầu còn
năng lực cạnh tranh được đánh giá từ phía cung.
Về hình ảnh điểm đến, đó là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng
thu hút và năng lực cạnh tranh của điểm đến. Và hình ảnh điểm đến được hiểu là sự kết hợp
các ý niệm, niềm tin, ấn tượng và nhận thức của mỗi người về điểm du lịch và là một trong
những yếu tố cơ bản tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách.
Trên cơ sở thống nhất khái niệm năng lực cạnh tranh của điểm đến, chương này cũng
đã tổng lược một cách có hệ thống các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến cấp
quốc gia và đề xuất cho điểm đến địa phương, cùng các cách tiếp cận và đánh giá năng lực
cạnh tranh điểm đến du lịch.
7
Tổng lược các kết quả nghiên cứu nổi bật trên thế giới về năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch cho thấy:
Về mặt khái niệm, các nghiên cứu thảo luận các vấn đề có tính khái niệm về năng lực
cạnh tranh du lịch và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Về khung nghiên cứu, có sự khá đồng nhất trong hệ thống hóa, lựa chọn các biến
tổng hợp phản ánh năng lực cạnh tranh (1- tài nguyên; 2 - nguồn lực hỗ trợ; 3- Quản lý điểm
đến; 4- Môi trường vi mô; 5- Môi trường vĩ mô; và 6 - các yếu tố mở rộng khác)
Về cách tiếp cận, các nghiên cứu có sự khác biệt trong cách tiếp cận như
- Cách tiếp cận dựa trên lợi thế so sánh, cấu trúc ngành, cam kết môi trường như
Hassan 2000
- Tiếp cận dựa trên thành công của điểm đến: tác động của du lịch đối với điểm đến,
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận nhưng có ít nghiên cứu đề xuất khung lý thuyết để đo
lường năng lực cạnh tranh của một điểm đến. Sau đây là 3 mô hình đo lường năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch nổi bật.
8
Thứ nhất là mô hình của Crouch và Richie (1993, 1999, 2003), đây được xem là mô
hình toàn diện về đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến và được tham chiếu nhiều nhất vì
thể hiện các yếu tố cốt lõi của du lịch. Mô hình của Ritchie và Crouch khác biệt và tiến bộ
hơn các mô hình khác ở chỗ trong khi các mô hình khác chỉ tập trung chủ yếu vào sản phẩm
cụ thể hay hình ảnh điểm đến du lịch (Schroeder, 1996; Formica, 2001) thì mô hình của
Ritchie và Crouch mặc dù được phát triển dựa trên khung lý thuyết cạnh tranh của Porter
nhưng xem xét cả các yếu tố du lịch cụ thể và các yếu tố liên quan. Theo hai ông, tính cạnh
tranh của điểm đến được quyết định bởi năm nhân tố chính: (i) các nguồn lực cốt lõi và yếu
tố thu hút; (ii) các yếu tố và nguồn lực hỗ trợ; (iii) quản lý điểm đến; (iv) chính sách, quy
hoạch và phát triển điểm đến; (v) các yếu tố mở rộng.
Thứ hai là mô hình của Dwyer và Kim (2003), cơ bản thể hiện các yếu tố cốt lõi như
mô hình của Crouch và Richie nhưng các yếu tố được mô hình hoá gọn gàng hơn.Yếu tố
quyết định chính của năng lực cạnh tranh bao gồm tài nguyên thừa kế, tài nguyên tái tạo,
yếu tố hỗ trợ, quản lý điểm đến, điều kiện thực tế và nhu cầu. Theo các tác giả, sự thịnh
vượng kinh tế xã hội như là một kết quả cuối cùng của khả năng cạnh tranh du lịch.
Thứ ba là mô hình của Vengesayi (2003) các yếu tố cốt lõi của mô hình tương tự như
mô hình của Crouch và Richie nhưng được mô hình hoá đơn giản hơn. Mô hình nghiên cứu
năng lực cạnh tranh và thu hút của một điểm đến (TDCA - Tourist Destination
Competitiveness and Attractiveness) trong đó, năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa vào
bốn yếu tố chính là: (i) tài nguyên và các hoạt động, (ii) môi trường trải nghiệm, (iii) các
vận dụng trong từng điều kiện quản lý và phát triển của từng địa phương, quốc gia. Việc
thiết kế qui trình nghiên cứu khoa học là một trong những điều kiện đầu tiên đảm bảo tính
khoa học, khách quan và hiệu quả của hoạt động nghiên cứu. Về bản chất, vấn đề đánh giá
năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch đòi hỏi cách tiếp cận đa ngành và trên quan điểm hệ
thống, do vậy việc vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cũng là một yếu tố quan
trọng để đảm bảo thực hiện được các nội dung nghiên cứu đặt ra.
2.2.2 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
2.2.2.1 Nguồn số liệu
Để giải quyết được các mục tiêu đặt ra, số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập bằng các
việc sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Để thu thập các thông tin và ý kiến đánh giá của các chuyên gia về các biến tổng hợp
(constructs) và cách vận hành hóa chúng thành các biến cụ thể (variables), cũng như mối
liên hệ giữa chúng, một số phương pháp nghiên cứu định tính được kết hợp vận dụng trong
nghiên cứu này, gồm: phỏng vấn chuyên gia, phương pháp thảo luận nhóm tập trung (focus
group) và phương pháp Delphi. Đây là bước quan trọng
10
Nghiên cứu định tính
Tổng
lược tài
liệu
Nghiên cứu định lượng đánh
giá thang đo (dữ liệu lần 2)
Tần suất, trị trung
bình, ANOVA
Alpha
EFA
- Phân tích, đánh giá năng
lực cạnh tranh của điểm đến
Huế
- So sánh với một số điểm
đến khác
Thang đo đã được
thanh lọc
Thang đo năng lực
cạnh tranh điểm đến
được khẳng định
Alpha
CFA
Ghi chú:
Công việc thực hiện
Kết quả đạt được
Phương pháp sử dụng
thực hiện với 720 đối tượng liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch, quản lý và
phát triển điểm đến, các giáo viên thuộc các cơ sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực
này ở 3 địa phương: Thừa Thiên Huế (Huế), Đà Nẵng và Quảng Nam (Hội An).
Phân bố mẫu điều tra được thực hiện theo định hướng ít nhất có ½ mẫu điều tra phải
được thực hiện ở Huế bởi địa bàn nghiên cứu của đề tài luận án là Huế. Phần mẫu
còn lại phân bố cho hai địa phương so sánh là Đà Nẵng và Hội An dựa theo mức độ
và qui mô phát triển của hai địa phương này.
Việc chọn các phần tử của mẫu tại từng địa phương được thực hiện theo
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Trong đó các tầng được phân lập theo 4
nhóm nêu trên và các phần tử trong mỗi nhóm được chọn theo phương pháp ngẫu
nhiên thuận tiện. Cụ thể, với 720 bảng hỏi được phát ra ở các địa phương từ tháng
4/2016 đến tháng 4/2017 gồm: 450 ở Huế; 150 mẫu ở Đà Nẵng và 120 mẫu ở Hội An.
Theo đó số phiếu thu về và sử dụng được là: 444 mẫu ở Huế (chiếm 63,79% tổng số
phiếu thu về), 139 mẫu ở Đà Nẵng (chiếm 19,97%) và113 mẫu ở Hội An (chiếm
16,24%). Đặc điểm của mẫu điều tra được tổng hợp ở Bảng 2.3.
• Các phương pháp phân tích số liệu
Do tính chất phức hợp và đa diện của vấn đề nghiên cứu, việc sử dụng kết
hợp các phương pháp phân tích là cần thiết để giải quyết được các mục tiêu đề tài
đặt ra. Cụ thể:
o Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian: được sử dụng để phân
tích xu hướng biến động của các chỉ tiêu qua thời gian.
o Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Phần 1 của mẫu (gồm 348 mẫu) được sử
dụng để phân tích nhân tố khám phá nhằm xác định các nhân tố cấu thành
năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế.
o Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): trên cơ sở các nhân tố được xác lập ở
bước phân tích EFA, phần 2 của mẫu (348 mẫu còn lại) được sử dụng để tiến
hành phân tích CFA nhằm kiểm định mô hình đo lường năng lực cạnh tranh
của điểm đến Huế.
12
322
46.3
5 - 9 năm
199
28.6
5 - 9 năm
187
26.9
10 - 15 năm
150
21.6
10 - 15 năm
130
18.7
16 - 20 năm
696
100
3, Lĩnh vực công tác
4, Độ tuổi
Cơ quan ban ngành
52
7.5
Dưới 31 tuổi
316
45.4
Giảng viên Đại học,
cao đẳng du lịch
69
9.9
31 - 40 tuổi
696
100
Tổng
696
100
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra của tác giả 4/2016- 4/2017
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
ĐIỂM ĐẾN HUẾ
3.1 Đề xuất mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở kết quả thảo luận nhóm tập trung, bàng bỏi cấu trúc
được thiết kế để tiến hành phương pháp Delphi. Việc thu thập ý kiến của chuyên gia được
thực hiện thông qua hai phương thức là gửi bảng hỏi trực tiếp cho chuyên gia và thu thập
thông tin trực tuyến (Google Docs). Số lượng phiếu khảo sát thu về được 105 phiếu (tỷ lệ
phản hồi là 91.4%) và sau quá trình sàng lọc thì có 85 phiếu khảo sát sử dụng được, bao
gồm 18 chuyên gia từ Tổng cục du lịch và các Sở Du lịch; 31 chuyên gia từ các doanh
nghiệp; 33 chuyên gia giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch từ các trường đại học,
viên nghiên cứu du lịch; và 3 chuyên gia tư vấn phát triển (Phụ lục 3).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chuyên gia đánh giá cao đối với tất cả 3 nhóm nhân
tố thuộc tính với 15 biến tổng hợp, và hầu hết biến đo lường cụ thể để đánh giá năng lực
cạnh tranh điểm đến mà nhóm giám sát đề xuất, mà theo đó khung nghiên cứu đánh giá
năng lực cạnh tranh được xác lập (Sơ đồ 3.1).
13
Tàinguyêndulịchtựnhiên
Tàinguyêndulịchvănhoá
TÀINGUYÊNVÀCÁC
NGUỒNLỰCCỐTLÕI
Cácsựkiện/lễhội
Hoạtđộnggiảitrí
Muasắm
Cơsởhạtầng
Pháttriểnnguồnnhânlực
Antoànvàvệsinhmôitrường
Truyềnthôngmarketing
HOẠTĐỘNGQUẢNLÝ
ĐIỂMĐẾN
Liênkếtvàcạnhtranhtrongngành
Chính sách quản lý và phát triển
Dịchvụlưutrú
Dịchvụănuống
Dịchvụlữhành
DỊCHVỤ
DULỊCHCƠBẢN
Bảng 3.1 So sánh đánh giá của các nhóm chuyên gia về các nhân tố cấu thành năng lực
cạnh tranh của điểm đến Huế
Các nhân tố
1. Quản lý điểm đến
2. Các dịch vụ du lịch chủ yếu
3. Tài nguyên du lịch văn hóa
4. Tài nguyên du lịch tự nhiên
5. Dịch vụ mua sắm
6. An ninh an toàn điểm đến
7. Giá cả dịch vụ du lịch
8. Đánh giá chung năng lực
cạnh tranh của điểm đến
Bình
quân
chung1
Các biến độc lập (Giá trị P)2
Độ tuổi
Nghề
nghiệp
3.54
3.67
4.22
3.94
3.53
du lịch
0.011
0.038
0.081
0.580
0.006
0.155
0.002
0.044
0.065
0.003
0.952
0.985
0.267
0.679
0.184
0.115
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 4/2016-4/2017
Ghi chú: Giá trị trung bình bình quân theo thang đo Likert: 1-Rất thấp; 2-Thấp; 3-Trung
bình; 4-Cao; 5-Rất cao
2
Mức ý nghĩa thống kê P: P ≤ 0.1: có ý nghĩa ở mức thấp; P ≤ 0.05: có ý nghĩa thống kê; P
≤0.01 có ý nghĩa thống kê cao; P>0.1 không có ý nghĩa thống kê
1
Số liệu ở Bảng 3.1 cho thấy Huế được đánh giá khá cao với hầu hết các thuộc tính
năng lực cạnh tranh, trong đó các nhân tố được đánh giá cao nhất gồm tài nguyên du lịch tự
nhiên và văn hóa, an ninh an toàn điểm đến và giá cả dịch vụ du lịch.
5. Dịch vụ mua sắm
6. An ninh an toàn điểm đến
7. Giá cả dịch vụ du lịch
8. Đánh giá chung năng lực cạnh tranh
của điểm đến
Giá trị
P
Huế
3.54
3.67
4.22
3.94
3.53
3.86
3.83
Đà nẵng
4.02
4.12
3.53
3.43
3.76
4.25
3.91
Hội An
3.72
3.75
18
CHƯƠNG 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ
4.1. Các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế
Một là, hoàn thiện và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Thừa
Thiên Huế
Hai là, tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch theo hướng xã hội
hóa
Ba là, đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng điện- đường- giao thông- thông tin liên
lạc nhằm tạo tính thuận lợi, xuyên suốt cho hoạt động du lịch
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Năm là, củng cố và phát triển các quan hệ hợp tác khu vực, quốc gia và quốc tế
4.2 Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế
Nhóm giải pháp về tăng cường hoạt động quản lý điểm đến
- Tạo lập cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan
- Thiết lập tổ chức quản lý điểm đến (DMO) nhằm tạo tính đồng bộ, đột phá trong
việc tập trung quản lý điểm đến du lịch
- Chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm điểm đến
- Hoàn thiện các công cụ quản trị điểm đến một cách chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn
khu vực và quốc tế
- Tăng cường vai trò của các hiệp hội, đặc biệt là Hiệp hội du lịch Huế trong công
tác quản lý với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành du lịch ở Huế sạn và doanh
nghiệp dịch vụ du lịch với nhau.
hình chợ Đêm ở SiemReap nhằm tận dụng 88 làng nghề truyền thống trên địa bàn. Địa điểm
tổ chức chợ Đêm nên tận dụng ngay tại phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, kết hợp với dự án quy
hoạch chi tiết hai bên bờ sông Hương do KOICA tài trợ. Khuyến khích các doanh nghiệp
tham gia xây dựng các tuyến, tour du lịch đường thủy dọc sông Hương (thưởng thức ẩm thực,
nhã nhạc cung đình Huế trên thuyền rồng, hoặc học tập mô hình tour du lịch vớt rác làm đẹp
cảnh quan như Hội An).
- Về dịch vụ vận chuyển: Hệ thống mạng lưới đường bộ đảm bảo được sự liên kết
giữa thành phố Huế với các huyện, thị xã trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Nhóm các giải pháp về cải thiện các dịch vụ mua sắm
- Tạo ra các sản phẩm đặc trưng của địa phương và tổ chức các điểm trưng bày, bán
sản phẩm đặc thù này
- Tăng cường công tác quản lý, đảm bảo chất lượng của các loại sản phẩm, hàng hoá
- Đa dạng hóa các loại sản phẩm, hàng hóa mang tính đặc trưng của địa phương và
phù hợp với các nhu cầu khác nhau của thị trường:
Nhóm giải pháp về quản lý và phát huy các giá trị tài nguyên du lịch
Quản lý, khai thác tài nguyên theo hướng bền vững
- Thực hiện số hóa bao gồm cả bản đồ định vị toàn cầu và hệ thống thông tin viễn
thám (GPS và GIS) để làm cơ sở cho việc quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch theo
hướng hình thành ‘điểm đến du lịch thông minh’.
- Địa phương cần có kế hoạch khai thác hiệu quả và hợp lý các tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên văn hoá
- Tăng cường các hoạt động hợp tác phát triển về văn hóa, giáo dục, đào tạo, tăng
cường hoạt động ngoại giao thông qua các hiệp hội và tổ chức xã hội, hướng đến hợp tác
phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa - xã hội. chương trình nghiên cứu về tài nguyên
văn hóa, về quan hệ và tác động giữa di sản văn hóa
Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên
- Có chính sách, chiến lược và kế hoạch rõ ràng với lộ trình cụ thể đối với công tác
bảo tồn.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng và phương tiện hỗ trợ để hoạt động khai thác các tài nguyên
phục vụ du lịch không ảnh hưởng đến tài nguyên, đặc biệt là các tài nguyên du lịch tự nhiên.
tích, các lễ hội đông người…
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát với việc công khai bảng giá dịch vụ và
tuân thủ chất lượng đã hứa hẹn.
- Tuyên truyền rộng rãi và có chế tài thưởng phạt rõ ràng đối với việc thực hiện
Bộ qui tắc ứng xử du lịch trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng
chống cháy nổ…Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc chấp hành của các doanh
nghiệp đối với việc chấp hành các qui định này.
- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch cạnh tranh lành
mạnh.
- Nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và cải thiện mối liên kết giữa các tác
nhân tham gia trong cụm ngành, bao gồm: các cơ quan quản lý, các cơ sở khách sạn và các
điểm tham quan du lịch, các đơn vị điều hành tour và các hướng dẫn viên, các nhóm cộng
đồng tại địa phương.
Nhóm các giải pháp về truyền thông và marketing điểm đến
- Chú trọng công tác nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường làm cơ sở xác
định các thị trường mục tiêu, xây dựng chiến lược truyền thông và marketing điểm đến Huế.
- Tổ chức huy động sự tham gia của cộng đồng (có thể thông qua các cuộc thi) để
tìm kiếm ý tưởng chuyển hóa các tài nguyên thành các sản phẩm du lịch đích thực – các trải
nghiệm du lịch (selling experiences). Xây dựng câu chuyện du lịch, huyền thoại hóa, sử thi
hóa về thiên nhiên và con người xứ Huế, hoàn thiện các kịch bản và thuyết minh đối với các
tài nguyên du lịch nổi trội để có thể chuyển tải tốt nhất nội hàm giá trị của các tài nguyên,
gia tăng trải nghiệm khó quên cho du khách khi đến thăm Huế.
- Xây dựng chiến lược truyền thông cho thương hiệu và hỉnh ảnh điểm đến Huế với
việc sử dụng các công cụ marketing tích hợp. Phát triển hệ thống nhận diện thương hiệu du
lịch Huế theo chủ đề và theo logo để tăng cường quảng bá trên các phương tiện thông tin
đại chúng và qua các công cụ trực tuyến.
- Hoạt động xúc tiến đối với thị trường nội địa có thể thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng, các hội chợ, triễn lãm về du lịch, các chương trình roadshow liên
kết với các địa phương trong vùng và trong nước…Đối với thị trường quốc tế có thể tham
gia các hội chợ ở các thị trường trọng điểm thường niên ở khu vực ASEAN (ITB –
PHẦN III. KẾT LUẬN
(1) Luận án đã tổng quan một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về
điểm đến du lịch, các cấp độ điểm đến du lịch, năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch,
các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh điểm đến, cũng như các nghiên cứu ở trong và
ngoài nước để khai thác và kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan làm cơ sở luận giải cho
cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Đặc biệt là chỉ ra các khoảng trống mà luận án cần
nghiên cứu và từ đó là các đóng góp về lý thuyết và thực tiễn của đề tài.
(2) Dựa trên cơ sở phân tích các khái niệm, các mô hình lý thuyết và các mô hình vận
dụng trong các nghiên cứu trước, cùng với phương pháp đo lường và phân tích năng lực cạnh
tranh điểm đến trong và ngoài nước, tác giả đã nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu năng lực
cạnh tranh phù hợp với điểm đến du lịch địa phương. Mô hình này đã nhận được ý kiến đóng
góp và đồng thuận cao của các chuyên gia vực du lịch ở Tổng cục du lịch và nhiều địa phương
trên cả nước. Theo đó, mô hình lựa chọn sử dụng đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du
lịch Huế gồm ba nhóm yếu tố chính là "Tài nguyên và các nguồn lực cốt lõi", "Hoạt động quản
lý điểm đến" và "Các dịch vụ du lịch cơ bản" cùng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể cho mỗi
yếu tố.
(3) Với việc khảo sát ý kiến của 696 chuyên gia du lịch, sử dụng phương pháp
phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA), luận án đã xác
định được các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Huế, bao gồm 7
nhân tố: 1) Hoạt động quản lý điểm đến; 2) Tài nguyên du lịch nhân văn; 3) Tài nguyên du
lịch tự nhiên; 4) Các dịch vụ du lịch cơ bản; 5) Dịch vụ mua sắm; 6) An ninh an toàn điểm
đến; 7) Giá cả các dịch vụ du lịch.
(4) Sử dụng mô hình gồm 7 nhân tố để đo lường và phân tích năng lực cạnh tranh
điểm đến Huế trong mối liên hệ so sánh với hai điểm đến lân cận là Đà Nẵng và Hội An.
Kết quả luận án đã chỉ rõ mặc dù Huế có lợi thế vượt trội về tài nguyên du lịch, nhưng
những hạn chế về quản lý điểm đến, về phát triển sản phẩm và đặc biệt là các dịch vụ bổ
sung đã hạn chế không nhỏ tới năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Huế.
(5) Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm trường hợp nghiên cứu điển