MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HÌNH THỨC VỐN GÓP, ĐỊNH GIÁ
VỐN GÓP VÀ CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN GÓP VỐN VÀO
CÔNG TY
1. Pháp luật hiện hành về hình thức vốn góp
2. Định giá vốn góp
a)Phương thức định giá.
b)Ý nghĩa của việc định giá.
3. Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty
II. HƯỚNG HOÀN THIỆN
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong quá trình hiện đại hóa đất nước, đưa nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được chủ trương đó
chúng ta đã nố lực hết mình, và cũng đã đạt được những thành quả nhất định.
Bên cạnh đó thì các công ty đã đóng góp một phần công sức không nhỏ trong
những thành quả đó. Một công ty để được thành lập và hoạt động cần phải có
tài sản và các tài sản đó một phân là vốn góp được tạo dựng bởi các cổ đông,
thành viên của công ty đóng góp. Vậy pháp luật hiện hành quy định gì về hình
thức vốn góp, định giá vốn góp và chuyển quyền sở hữu vốn góp như thế nào?
Sau đây em xin được làm rõ hơn các vấn đề trên.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HÌNH THỨC VỐN GÓP, ĐỊNH GIÁ VỐN
GÓP VÀ CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN GÓP VỐN VÀO CÔNG TY
1. Pháp luật hiện hành về hình thức vốn góp
Theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: “ Tài sản bao
gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
- Ngoại tệ tự do chuyển đổi;
- Vàng;
- Giá trị quyền sử dụng đất;
- Giá trị quyền sở hữu trí tuệ;
- Công nghệ, bí quyết kỹ thuật;
- Các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp vốn để tạo thành
vốn của công ty.
Khoản 3 Điều 4 Luật doanh nghiệp được xây dựng theo phương pháp liệt
kê. Với phương pháp này làm cho nội dung điều luật thiếu tính khái quát, không
thể hiện được sự đầy đủ, trọn vẹn những trường hợp pháp luật dự liệu. Bên cạnh
đó, phương pháp này còn được tạo nên sự rườm ra về mặt hình thức, câu chữ.
Từ đó, khiến cho không ít người đọc hiểu sau tinh thần của điều luật – họ cho
rằng ngoài tài sản mà điều luật đã liệt kê, các thỏa thuận những tài sản khác là
đối tượng của hành vi góp vốn theo ý chí của nhà đầu tư chứ không phải theo
pháp luật.
3
Một điểm nữa là chúng ta có thể đặt ra vấn đề rằng: mọi phần vốn góp
của công ty là tài sản, nhưng ngược lại mọi tài sản đều có thể trở thành vốn góp
được không. Phải chăng luật doanh nghiệp có “quá thoáng” khi quy định cho
các thành viên công ty được thỏa thuận với nhau tài sản nào sẽ là đối tượng của
việc góp vốn? Các thành viên công ty có thể thỏa thuận góp vào công ty những
tài sản như: năng lực kinh doanh, uy tín trên thương trường, danh sách khách
hàng… có được không? Theo pháp luật hiện hành thì điều này hoàn toàn được
cho phép nếu là thành viên công ty đã thỏa thuận là tài sản và được ghi vào
Điều lệ công ty.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy được sự mâu thuẫn chồng chéo
trong Luật doanh nghiệp và BLDS trong khái niệm về tài sản góp vốn. những
hạn chế và bất cập của một định nghĩa mang tính chất liệt kê. Không chỉ mâu
thuẫn với BLDS định nghĩa về tài sản góp vốn của Luật doanh nghiệp còn nảy
sinh một số vấn đề liên quan đến Luật sở hữu trí tuệ, khoản 4 Điều 4 Luật
b) Nhà đầu tư nước ngoài mua lại phần vốn góp của thành viên góp vốn
trong công ty hợp danh hoặc góp vốn vào công ty hợp danh để trở thành thành
viên góp vốn mới.
Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân mua lại phần vốn góp của thành viên
hợp danh trong công ty hợp danh hoặc góp vốn vào công ty hợp danh để trở
thành thành viên hợp danh mới, sau khi được sự chấp thuận của các thành viên
hợp danh còn lại.
c) Nhà đầu tư nước ngoài mua lại một phần vốn của chủ doanh nghiệp tư
nhân hoặc góp vốn với chủ doanh nghiệp tư nhân để chuyển đổi doanh nghiệp tư
nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và trở thành
thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”.
5