Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Đặc điểm hình thái chân răng và ống tủy răng cối lớn thứ nhất và thứ hai người Việt - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH HỮU THỤC HIỀN

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CHÂN RĂNG VÀ
ỐNG TỦY RĂNG CỐI LỚN THỨ NHẤT VÀ
THỨ HAI NGƢỜI VIỆT
Ngành: Răng - Hàm - Mặt
Mã số: 62720601

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

TP Hồ Chí Minh- Năm 2019


Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Tử Hùng

Phản biện 1: .......................................................................................
Phản biện 2: .......................................................................................
Phản biện 3: .......................................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp trường họp tại
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
vào hồi ……..giờ……….ngày…….tháng……..năm ……….

Có thể tìm hiểu luận án tại:

thái hốc tủy đã được nghiên cứu ngày càng sâu. Giải phẫu chân răng
và giải phẫu ống tủy thường được nghiên cứu đồng thời.
Các răng cối lớn hàm trên và dưới đều có nhiều chân răng và hệ
thống ống tủy phức tạp hơn, trong khi nhu cầu điều trị nội nha các
răng này lại cao hơn so với các răng khác. Nhiều nghiên cứu trên thế
giới về đặc điểm hình thái chân răng và ống tủy các răng cối lớn thực
hiện trên những nhóm cư dân khác nhau đã cho thấy các răng cối lớn
có nhiều biến thể hình thái chân răng và ống tủy.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đặc điểm hình thái ống tủy răng
cối lớn như Nguyễn Tấn Hưng (2007), Phạm Thị Thu Hiền (2008)
khảo sát chân gần ngoài răng cối lớn thứ nhất (I) hàm trên, Lê Thị
Hường (2009) khảo sát ống tủy hình C ở răng cối lớn thứ hai (II)
hàm dưới. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu toàn diện về hình thái chân
răng và ống tủy các răng cối lớn người Việt.
Trong khoảng một thập niên gần đây, cone beam CT (CBCT) được
ứng dụng rộng rãi trong Nha khoa nên kho dữ liệu CBCT đủ dồi dào
để cung cấp cỡ mẫu đủ lớn cho một khảo sát toàn diện về ống tủy
các răng cối lớn. Conebeam CT cung cấp hình ảnh 3 chiều của răng
với độ phân giải không gian tốt trong tất cả các mặt phẳng, đã được
chứng minh là một phương pháp đáng tin cậy, có độ chính xác cao
trong nghiên cứu hình thái ống tủy.
Nghiên cứu được trình bày trong luận án này nhằm mục đích tìm
hiểu đặc điểm hình thái chân răng và ống tủy các răng cối lớn thứ
nhất và thứ hai hàm trên và hàm dưới ở người Việt, với các mục tiêu
cụ thể như sau:
1. Xác định mức độ tương đồng và so sánh giữa hai phương pháp
khảo sát bằng conebeam CT và nhuộm màu hốc tủy - làm trong
răng trong ghi nhận hình thái ống tủy các răng cối lớn đã nhổ.



đồng với bộ răng Mongoloid.
Nghiên cứu đã thực hiện các tiêu bản răng trong suốt thể hiện hình
ảnh hệ thống ống tủy rõ ràng, trực quan; là nguồn tư liệu giảng dạy


3
nội nha sinh động, cụ thể giúp người học hiểu biết sâu sắc hơn về
giải phẫu hốc tủy theo một phương cách lý thú, dễ tiếp thu tốt hơn.
Đóng góp mới của nghiên cứu là phát hiện biến thể ống tủy hình C
có 4 ống tủy ở răng cối lớn II hàm dưới chưa từng được đề cập trong
các nghiên cứu trước đây, bổ sung vào loại C3 của phân loại ống tủy
hình C theo Fan (2004). Đồng thời phát hiện một biến thể ngoài phân
loại Vertucci chưa được công bố trong các nghiên cứu trước đây là
biến thể 1-3, có một ống tủy tách ra thành 3 và đi ra ngoài qua 3 lỗ
chóp. Từ đó, đề xuất một phương pháp mới ghi nhận hình thái ống
tủy theo số lượng ống tủy ở các phần ba chân răng- phương pháp
3TH.
Ứng dụng trong thực tiễn điều trị. Hiểu biết toàn diện về hình
thái chân răng và ống tủy các răng là yếu tố quan trọng dẫn đến
thành công của điều trị nội nha. Trước khi bắt đầu điều trị nội nha
một răng, người bác sĩ RHM phải quan tâm trước tiên đến giải phẫu
bên ngoài và bên trong răng đó. Không dự đoán được những biến thể
hình thái chân răng và ống tủy có thể dẫn đến thất bại trong điều trị.
Nghiên cứu này cung cấp những số liệu cụ thể về đặc điểm hình thái
chân răng và ống tủy răng cối lớn người Việt giúp nâng cao hiểu biết
và nhận thức của sinh viên và bác sĩ RHM về những đặc điểm giải
phẫu thường gặp, cũng như những biến thể đa dạng và phức tạp của
hệ thống ống tủy để chú ý hơn trong thực hành lâm sàng, tránh
những thất bại khi điều trị nội nha trong hành nghề.
Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định giá trị và tính khả thi của

dụng trong một thời gian dài. Tuy nhiên, kỹ thuật này chỉ có thể áp
dụng cho răng đã nhổ trong nghiên cứu và giảng dạy, không có giá
trị ứng dụng để xác định hình thái hốc tủy các răng trên cung hàm
bệnh nhân. Đối với các răng trên cung hàm, phương pháp CBCT gần
đây được sử dụng tương đối phổ biến, không những khảo sát được
hình thái chân răng và hốc tủy mà còn giúp ích cho các nhà lâm
sàng.
Các răng cối lớn có nhiều chân răng và hệ thống ống tủy phức tạp.
Răng cối lớn hàm trên dạng điển hình có 3 chân: gần ngoài, xa ngoài
và trong; trong đó, chân gần ngoài thường có 2 ống tủy với hình thể
đa dạng, phức tạp hơn. Răng cối lớn hàm dưới dạng điển hình có hai


5
chân: gần và xa. Chân gần thường có 2 ống tủy, chân xa có thể có 1
hoặc 2 ống tủy. Răng cối lớn II có nhiều biến thể về số lượng, hình
thái chân răng và ống tủy, đa dạng hơn so với răng cối lớn I.
Hình thái chân răng và ống tủy của các răng cối lớn mang những
đặc trưng chủng tộc. Bộ răng người đại chủng Á có đặc điểm là răng
cối lớn I hàm dưới có 3 chân và răng cối lớn II hàm dưới có ống tủy
hình C. Vấn đề này còn ít được nghiên cứu trên người Việt, nhất là
chưa có nghiên cứu răng trên cung hàm để có thể khảo sát toàn diện
và cụ thể những đặc điểm hình thái và ống tủy các răng cối lớn theo
tuổi, giới, vị trí
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG và PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Công trình gồm hai nghiên cứu độc lập, bổ sung cho nhau, được tiến
hành theo trình tự. Nghiên cứu thứ nhất khảo sát hình thái ống tủy
các răng đã nhổ theo 2 phương pháp: CBCT (CBCT) và nhuộm màulàm trong. Nghiên cứu thứ hai khảo sát hình thái chân răng và ống
tủy từ dữ liệu CBCT có sẵn.
Thiết kế nghiên cứu: Hai nghiên cứu đều theo thiết kế cắt ngang mô

đổi từ phần ba cổ đến chóp, ghi nhận thông nối giữa các ống tủy
của các chân răng có dính nhau, sự đối xứng về số lượng, hình thái
ống tủy của 2 răng cùng tên 2 bên.
Phƣơng pháp xử lý số liệu: số liệu được nhập và lưu giữ vào máy
tính, phần mềm Excel 2010 và được phân tích thống kê bằng phần
mềm SPSS for Windows, phiên bản 16.0.
Phƣơng pháp phân tích số liệu
 Thống kê mô tả: tần số và tỉ lệ phần trăm theo các biến số chính.


7
 Thống kê phân tích: sử dụng phép kiểm Chi bình phương hoặc
Fisher để xác định sự khác biệt về các biến số giữa các nhóm. Tính
OR có hiệu chỉnh để xác định mối liên quan giữa một vài đặc
điểm.
Kiểm soát sai lệch: Hình ảnh CBCT được quan sát bởi 2 quan sát
viên là giảng viên bộ môn Chữa răng – Nội nha, Khoa Răng Hàm
Mặt, ĐH Y dược TPHCM, được chuyên gia tập huấn. Trong nghiên
cứu, dữ liệu ghi nhận dựa trên sự nhất trí của 2 quan sát viên. Khi có
khác biệt trong ghi nhận, 2 quan sát viên cùng quan sát lại, thảo luận
cho đến khi nhất trí. Chọn ngẫu nhiên và quan sát lập lại 10% tổng
số chân răng trong mẫu nghiên cứu, Kappa đánh giá độ kiên định của
2 quan sát viên là 0,89 cho thấy các quan sát viên có độ kiên định
cao và số liệu ghi nhận là đáng tin cậy.
Y đức: Đề cương được thông qua bởi Hội đồng khoa học và Hội
đồng đánh giá đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y dược
TPHCM. Răng trong mẫu nghiên cứu thứ nhất được thu thập sau khi
đã nhổ, không liên quan đến chỉ định nhổ hay tình trạng của bệnh
nhân. Hình ảnh CBCT trong mẫu nghiên cứu thứ hai đã được chụp vì
những chỉ định khác không liên quan đến nghiên cứu. Thông tin của

tủy theo phân loại Vertucci.
Tỉ lệ nhất trí và hệ số Kappa thấp khi quan sát các răng cối lớn II
hàm dưới có ống tủy hình C.
Thực hiện quan sát lặp lại 20% chân răng trong mẫu nghiên cứu,
giá trị Kappa là 0,91 đối với phương pháp nhuộm màu-làm trong, là
0,92 đối với phương pháp CBCT cho thấy sự kiên định cao của các
quan sát viên trong cả 2 phương pháp.
Nghiên cứu đã phát hiện ra 1 biến thể cần bổ sung phân loại ống
tủy hình C theo Fan (thêm loại có 4 ống tủy vào loại C3).
3.2. Nghiên cứu thứ 2
Trong nghiên cứu thứ hai, chúng tôi đã quan sát 3.285 răng cối lớn
từ hình ảnh CBCT của 580 người Việt (350 nữ và 230 nam, tuổi từ 9
đến 76 tuổi) ghi nhận những đặc điểm của các răng cối lớn I, II như
sau.


9

Biểu đồ 3.1: Phân bố mẫu nghiên cứu thứ 2 theo nhóm tuổi và giới
Răng cối lớn I hàm trên:

Biểu đồ 3.2: Phân bố các răng cối lớn I hàm trên theo hình thể ống
tủy gần ngoài.
 Về số lượng và hình thái chân răng, hầu hết có 3 chân riêng biệt,
rất hiếm gặp răng có 4 chân (0,1%).
 Chân gần ngoài phổ biến có từ trên 2 ống tủy (67,8%).
 Hình thể ống tủy gần ngoài phức tạp, đa dạng nhất, có thể gặp cả 8
dạng ống tủy theo phân loại Vertucci và những dạng ngoài phân
loại (1,6%): 2-3-2, 2-3…
 Nhóm 10-20 tuổi có tỉ lệ ống tủy gần ngoài thứ 2 thấp hơn so với

(83,9%), còn lại (16,1%) có 3 chân riêng biệt. Chân thứ ba là chân
xa trong, xuất hiện bên phải nhiều hơn bên trái (p
200
33 18,3
52
15,3 (370) 3 1,6
1 0,5
307
47 19,7
78
16,7 (566) 3 1,1
4 1,4
507
80 19,1* 130 16,1 (936) 6 1,3
5 1,1
(*: có ý nghĩa thống kê, p
Chân răng hình C
Số răng
Tỉ lệ (%)
Ống tủy hình C
Số răng
Tỉ lệ (%)

Vị trí

Nữ
n=566

Nam
n=370

Trái
n=462

Phải
n=474

221
39,1*

82
22,2*

146
31,6


Tổng

206 (88,0%)
108 (46,2%)
46 (19,7%)

18 (7,7%)
51 (21,8%)
4 (1,7%)

10 (4,3%)
75 (32,1%)
110 (47,0%)

74 (31,6)

234 (100%)
234 (100%)
234 (100%)

Tỉ lệ đối xứng về hình thái chân răng và ống tủy ở các răng cối lớn
trong mẫu nghiên cứu là 58,1%. Trong 352 người có 2 răng cối lớn I
trên, tỉ lệ đối xứng hình thái chân răng và ống tủy là 60,2%
(212/352); và tỉ lệ đối xứng là 60,6% (223/368) trong 368 người có 2
răng cối lớn II trên. Trong 348 người có 2 răng cối lớn I dưới là tỉ lệ
đối xứng là 58,9% (205/348); và tỉ lệ đối xứng là 53,6% (230/429)
trong 429 người có 2 răng cối lớn II dưới. Không có sự khác biệt về
tỉ lệ đối xứng giữa răng cối lớn I và II trong cùng một hàm trên
(p=0,16) hay hàm dưới (p=0,98). Khi so sánh giữa 2 hàm, tỉ lệ đối
xứng ở răng cối lớn trên hơi cao hơn so với răng cối lớn dưới, nhất là

Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Một số đặc trƣng hình thái chân răng và hốc tủy răng cối lớn
ngƣời Việt
Hình thái chân răng và hốc tủy có thể khác nhau nhiều giữa các
nhóm dân cư khác nhau (Walker 1988, Melton 1991, Haddad


15
1999…). Các nghiên cứu nhân học răng đã khẳng định sự tồn tại của
các mẫu cơ bản của bộ răng Mongoloid, Europoid và Negroid. Trong
đó, bộ răng Mongoloid đặc trưng bởi tỉ lệ răng cửa hình xẻng cao, tỉ
lệ núm Carabelli thấp, tỉ lệ có núm men mặt nhai trên răng cối nhỏ
và răng cối lớn cao, tỉ lệ không có răng khôn cao, tỉ lệ răng cối lớn II
hàm dưới có 5 múi cao. Hình thái chân răng và ống tủy răng cối lớn
hàm dưới cũng có tính đặc trưng theo chủng tộc, một số mẫu hình
thái nổi trội, có thể giúp phân biệt các cộng đồng khác nhau trên thế
giới cụ thể ở răng hàm dưới người Mongoloid, tỉ lệ răng cối lớn I có
3 chân cao và tỉ lệ răng cối lớn II có chân răng và ống tủy hình C
cao. Nghiên cứu này cho thấy hình thái chân răng và ống tủy răng
cối hàm dưới người Việt trong mẫu nghiên cứu có hai đặc điểm nổi
bật của bộ răng Mongoloid là tỉ lệ khá cao răng cối lớn I có 3 chân
(16,1%) và răng cối lớn II có ống tủy hình C (25,0%). Ngoài hai đặc
trưng Mongoloid ở răng cối lớn hàm dưới, hình thể ống tủy gần
ngoài răng cối lớn I hàm trên với các dạng ống tủy loại IV, I, II, V
thường gặp, có đặc điểm riêng, khác biệt so với các nhóm dân cư lân
cận.
Tỉ lệ răng cối lớn I hàm dưới người Việt có 3 chân (16,1%) gần với
tỉ lệ ở những cộng đồng dân cư Đông Nam Á khác như người Thái
(19,2% theo Reichart 1981, 13% theo Gulabivala 2002), Miến Điện
(10% theo Gulabivala 2001);nhưng thấp hơn so với các cộng đồng

chân răng phía ngoài.

Hình 4.1: Trường hợp có hai đặc điểm Mongoloid: răng cối lớn I có
chân xa trong (mũi tên trắng), răng cối lớn II hàm dưới có ống tủy
hình C (mũi tên xanh).
Cả hai đặc điểm của bộ răng Mongoloid ở răng cối lớn người Việt
đều có nét tương đồng với các cộng đồng dân cư Đông Nam Á khác,
và không có mối liên quan giữa 2 đặc điểm này trong bộ răng người


17
Việt, OR=1,07. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng dữ liệu
hình ảnh CBCT sẵn có của bệnh nhân đến chụp tại Khoa Răng Hàm
Mặt, Đại học Y Dược TPHCM. Do cách chọn mẫu thuận tiện nên
mẫu nghiên cứu chưa thể đại diện cho toàn thể người Việt. Tuy
nhiên với cỡ mẫu lớn, nghiên cứu này có thể cung cấp dẫn chứng
đáng tin cậy về đặc điểm hình thái chân răng và ống tủy các răng cối
lớn người Việt đặc biệt là người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tộc người và dân tộc là hai khái niệm khác nhau, nhưng trong thực
tế nhiều khi nó được dùng chung cho các khái niệm khác nhau. Khái
niệm dân tộc được dùng để chỉ dân tộc Việt Nam (tất cả những người
là công dân Việt Nam, sinh sống trên đất Việt Nam và Việt kiều ở
nước ngoài) , nhưng cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người
cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh),… Như
vậy trong thực tiễn, dân tộc có hai nội hàm: chỉ dân tộc ở cấp độ
quốc gia và chỉ cộng đồng tộc người cụ thể. Ở đây, chúng tôi dùng
chữ người Việt theo nghĩa thứ nhất, là công dân Việt Nam. Việt Nam
là một trong những quốc gia có nhiều dân tộc, các dân tộc trên đất
nước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư trú phân tán
và đan xen nhau. Người Việt có nguồn gốc từ người Việt cổ bản địa,

nhiều so với ở răng cùng tên hàm dưới nên không thấy được sự khác
biệt có ý nghĩa về đặc điểm ống tủy thông nối ở răng hàm trên. Hiện
tượng chân răng cối lớn II dính nhau thường gặp ở nữ nhiều hơn nam
cho thấy yếu tố quyết định hình thái chân răng có liên quan đến
nhiễm sắc thể giới tính. Các đặc điểm hình thái ống tủy còn lại
không có khác biệt giữa hai giới. Điều này cũng phù hợp với nhận
định chung rằng sự khác biệt về giới tính ở vùng răng cối lớn không
nhiều.
Vị trí. Sự khác biệt hình thái chân răng và ống tủy răng cối lớn giữa
hai bên (phải hay trái) chỉ thể hiện ở đặc điểm răng cối lớn I hàm
dưới có 3 chân thường gặp ở bên phải nhiều hơn bên trái (p=0,021).
Ngoài ra, không phát hiện khác biệt giữa hai bên ở các đặc điểm
khác cho thấy hình thái giải phẫu chân răng và hốc tủy phân bố khá
đều giữa hai bên hàm; nhưng không phải luôn đối xứng giữa hai bên
hàm, tỉ lệ đối xứng chung 58,1% ở răng cối lớn người Việt trong
nghiên cứu này.
4.3. Những lƣu ý khi điều trị nội nha các răng cối lớn


19
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các răng cối lớn có có hệ
thống ống tủy phức tạp và đa dạng. Trong khi nhu cầu điều trị nội
nha ở các răng này cao hơn so với các nhóm răng khác. Thất bại nội
nha phổ biến nhất là bỏ sót ống tủy và trám bít không đủ. Vì thế để
đối mặt với những thách thức khi điều trị nội nha các răng cối lớn,
người điều trị phải có những hiểu biết đầy đủ về hình thái chân răng
và ống tủy nhóm răng này, đồng thời kết hợp với quan sát lâm sàng
và quan sát trên phim để nắm bắt được đặc điểm giải phẫu chân răng
và hốc tủy của răng cụ thể cần điều trị mà áp dụng phương pháp điều
trị phù hợp. Quan sát cẩn thận các chân răng và ống tủy trên phim

được nhà lâm sàng có kiến thức, được huấn luyện và có kinh nghiệm
đọc hình ảnh cắt lớp.
4.4. Hạn chế của đề tài
Nghiên cứu thứ nhất thực hiện trên răng đã nhổ do đó có hạn chế
do cỡ mẫu nhỏ, không thu thập được thông tin nền, có thể mắc phải
sai lầm do nhận dạng răng không đúng. Do cố gắng nhận dạng răng
chính xác, chúng tôi chỉ giới hạn chọn vào mẫu những răng có đặc
điểm điển hình, nên mẫu thứ nhất không đại diện cho tất cả các răng
cối lớn.
Nghiên cứu thứ hai là nghiên cứu cắt ngang mô tả dựa trên dữ liệu
có sẵn nên có những hạn chế về thông tin của các cá thể trong mẫu.
Một số biến không thể khai thác thêm nên việc phân tích các biến có
những hạn chế nhất định. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn thuận tiện,
chưa thể đại diện cho cộng đồng Việt Nam.
Cả hai nghiên cứu trong luận án này đều dựa vào hình ảnh CBCT
chụp từ máy Galileos (Sirona Dental System Inc., Đức) có kích cỡ
voxel là 0,3 mm, không phải là máy chuyên chụp để khảo sát nội
nha. Hình ảnh có độ phân giải chưa cao, nên chưa khảo sát được
những chi tiết nhỏ của hốc tủy. Ngoài ra, khi chọn vào mẫu nghiên
cứu chúng tôi chỉ chọn những trường hợp hình ảnh rõ ràng, do đó có
thể dẫn đến sai lầm do lựa chọn.
KẾT LUẬN
1. Về mức độ tƣơng đồng và so sánh giữa hai phƣơng pháp khảo
sát CBCT và nhuộm màu-làm trong


21
1.1. Có mức độ tương đồng cao giữa hai phương pháp trong ghi nhận
hình thái ống tủy theo phân loại Vertucci ở các răng cối lớn: hệ số
Kappa K=0,94 và tỉ lệ phần trăm nhất trí 96,82%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status