Tóm tắt Luận án tiến sĩ Nông nghiệp: Nghiên cứu chọn tạo giống dâu lai F1 lưỡng bội trồng hạt cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

NGUYỄN THỊ MIN

NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG DÂU LAI F1 LƯỠNG
BỘI THỂ TRỒNG HẠT THÍCH HỢP CHO VÙNG SẢN XUẤT
DÂU TẰM TRỌNG ĐIỂM Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Chuyên ngành: Di truyền và chọn giống cây trồng
Mã số: 9 62 01 11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, 2018


Công trình hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Hà Văn Phúc
2. TS. Nguyễn Tất Khang

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

tằm như nguồn lao động phụ ở nông thôn có nhiều mà các công đoạn hái dâu nuôi tằm
thích hợp với các cháu học sinh, ông bà già. Quỹ đất có thể trồng dâu ở vùng Đồng
bằng Bắc bộ hiện có khoảng 19.000ha. Diện tích đất này hiện đang trồng một số loại
cây không có hiệu quả kinh tế cao như ngô, khoai, sắn,... Điều kiện khí hậu ở nước ta
có thuận lợi cho cây dâu sinh trưởng quanh năm nên trong một năm có thể nuôi từ 8-10
lứa tằm. Trong khi đó, ở một số nước ôn đới chỉ nuôi được 4-5 lứa tằm. Mặt khác, chi
phí để đầu tư sản xuất dâu tằm không lớn nhưng vòng quay thu hồi vốn nhanh. Bình
quân cứ 20-25 ngày cho thu hoạch lứa tằm để bán kén. So với trồng lúa thì trồng dâu
nuôi tằm bán kén lợi nhuận tăng 3,5 lần. Nhưng nếu tính đến công đoạn ươm tơ thì lợi
nhuận tăng gấp 5 lần so với trồng lúa (Hà Văn Phúc, 2013).
Bên cạnh những tiềm năng thuận lợi, ngành sản xuất dâu tằm của Việt nam còn
tồn tại lớn nhất là năng suất kén bình quân trên héc ta còn thấp, nên tổng thu nhập mới
chỉ đạt 80 triệu đồng (Lê Hồng Vân, 2013), trong khi đó bình quân thu nhập một héc ta
dâu ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) có điều kiện khí hậu tương tự như Đồng
bằng Bắc bộ đạt 150 triệu đồng (Zhu Fang Rong, 2010). Mặt khác, công lao động sử
dụng trong khâu thu hoạch dâu và nuôi tằm nhiều, nên giá trị ngày càng thấp.
Trong những năm qua, các nhà khoa học chọn tạo giống dâu Việt Nam đã lai tạo,
đưa vào sử dụng trong sản xuất một số giống dâu mới như giống tam bội (3n=42), nhân
giống vô tính số 7,11,12,28 (Hà Văn Phúc, 1994) và giống dâu tam bội nhân giống hữu
tính VH9, VH13, VH15 (Hà Văn Phúc và cộng sự, 2002, 2003, 2009). Các giống dâu mới
này đã làm thay đổi cơ cấu giống dâu và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất.
Tuy nhiên các giống dâu mới như đã trình bày ở trên đều là giống dâu đa bội, bên
cạnh ưu điểm về năng suất, chất lượng lá thì có nhược điểm thân cành xốp nên bị sâu
1


đục thân hại nặng và khả năng tái sinh sau khi đốn cắt cành kém nên hạn chế cho việc
áp dụng phương pháp thu hoạch lá dâu bằng cắt cành. Mặt khác, để lai tạo ra giống dâu
tam bội cần phải sử dụng vật liệu khởi đầu là giống dâu tứ bội (4n=56) nhưng hiện nay
trong quỹ gen tập đoàn giống dâu chỉ có duy nhất một giống tứ bội là ĐB86 vì thế hạn

giống dâu trồng hạt tam bội. Nhưng đề tài này nghiên cứu theo hướng chọn tạo giống
dâu lưỡng bội trồng hạt bằng phương pháp lai hữu tính.
Đề tài sẽ chọn tạo ra giống dâu mới cho các tỉnh phía Bắc đáp ứng mục tiêu yêu
cầu của đề tài.
5. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 143 trang đánh máy vi tính khổ A4 với 64 bảng số liệu, 9 hình. Luận
án gồm phần: Mở đầu 5 trang; Tổng quan tài liệu 38 trang; Vật liệu, nội dung, phương
pháp nghiên cứu 10 trang; Kết quả nghiên cứu và thảo luận 88 trang; Kết luận và đề

2


nghị 2 trang. Đã tham khảo 110 tài liệu, gồm 32 tài liệu tiếng Việt, 62 Tiếng Anh và 16
tiếng Trung Quốc.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Con tằm dâu (Bombyx Mori L) là động vật đơn thực, thức ăn duy nhất của nó là lá
dâu. Vì thế năng suất và chất lượng của lá dâu có liên quan mật thiết với năng suất và
chất lượng kén tơ (Hà Văn Phúc, 2003). Mặt khác, trên 60% chi phí ra giá thành sản
xuất kén là sử dụng để trồng, chăm sóc và thu hoạch lá dâu (Deng Wen là cộng sự,
2010). Vì vậy lá dâu còn ảnh hưởng không nhỏ đến giá thành sản xuất kén, tơ.
Năng suất, chất lượng lá dâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động như điều kiện
đất đai, khí hậu, các biện pháp canh tác, đốn hái,... nhưng giống dâu là nhân tố có ảnh
hưởng rất lớn. Ngày nay giống dâu được coi như là phương tiện của quá trình sản xuất.
1.2. Nghiên cứu về chọn tạo giống dâu mới
1.2.1. Nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu chọn tạo giống dâu nhân giống vô tính
Cây dâu là loại cây thân gỗ, có đặc tính ra rễ mạnh khi cắt cành trồng vào thời vụ
thích hợp. Cây dâu nhân giống vô tính thì luôn luôn giữ được các đặc tính di truyền của
giống qua các thế hệ.

Triế t Giang và Phúc Kiế n.
Từ năm 1994, các nhà khoa ho ̣c ở viêṇ nghiên cứu dâu tằ m Quảng Đông Trung
Quố c (Sun Xiao - Xia và cs., 2013) đã lai hữu tính giữa giố ng dâu Luân giáo 408 nguồ n
gố c Quảng Đông có đă ̣c tính nảy mầ m xuân sớm, tỉ lê ̣ nảy mầ m cao, lá to và dày, cây
sinh trưởng khoẻ với giố ng dâu Hồ số 7 nảy mầ m xuân muô ̣n, lá to và dày, đề kháng tố t
với bê ̣nh virus và vi khuẩn. Kế t quả đã chọn ra được giố ng dâu mới có tên là "72 - 1"
có ưu điể m nảy mầ m xuân sớm hơn giố ng dâu Hồ . Cây dâu sinh trưởng khoẻ, đốt cành
ngắn, lá to và dầ y. Năng suấ t lá cao hơn giố ng đố i chứng từ 23 - 41%. Phẩ m chấ t lá tố t
nên năng suấ t kén thu đươ ̣c tăng 15% so với giố ng dâu đố i chứng.
Còn theo Wang Hong-Chi (1987) và Malli Krafunappa (1992), từ những năm 50
của thế kỉ trước nhờ ứng du ̣ng phương pháp lai hữu tính giữa các giố ng dâu có nguồ n
gố c xa về điạ lý, các nhà chọn tạo giống dâu Trung Quố c đã cho ̣n ra nhiề u giố ng mới
có năng suấ t lá cao như giố ng số 2, giố ng Trung 5801, giố ng Trung 6031, Hồ số 4 và
giố ng Thí số 11,...
1.2.1.2. Sử dụng phương pháp lai hữu tính để tạo giống dâu trồng hạt
Giống dâu nhân giống vô tính bên cạnh những ưu điểm như đã trình bày ở phần
trên, còn có một số nhược điểm như tỷ lệ cây sống thấp vì phụ thuộc vào khả năng ra rễ
của giống, thời vụ trồng và một số kỹ thuật khác. Bộ rễ của cây dâu phát triển kém nên
khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, nhất là điều kiện hạn hán kém hơn. Từ
thực tế này, các nhà chọn giống đã chuyển hướng sang chọn tạo giống dâu trồng hạt.
Từ những năm 30 của thế kỉ 19, mô ̣t số nhà khoa ho ̣c của Liên Xô như Đi-ĐiTren-Co, Bytenko, Kytro-Ka-Rop (Theo Hà Văn Phúc, 2003) đã nghiên cứu cho ̣n ta ̣o
ra giố ng dâu lai F1 lưỡng bội trồng hạt do sự phối hợp trong tổ hợp lai giữa giống dâu
điạ phương với giố ng nhâ ̣p nô ̣i của Nhâ ̣t Bản, kết quả đã cho ̣n ra đươ ̣c mô ̣t số giố ng
thích hơ ̣p trồng ở vùng phương bắ c như : San nhit 17 lai với Pi-o-nhe-ski, giố ng Lixi 5
lai với Pi-o-nhe-ski, Bo-bet-da lai với Pi-o-nhe-ski... Đố i với vùng khí hâ ̣u phía nam có
giố ng San-nhit 15 lai với Pi-o-nhe-ski (Hà Văn Phúc, 2003). Năng suấ t lá của các giố ng
dâu lai trồ ng ha ̣t đề u cao hơn giố ng dâu điạ phương Xa-cak từ 28 - 54,20%. Từ 12 tổ
hơ ̣p dâu lai F1 lưỡng bội, nhà chọn tạo giống dâu Bungari Pen-Kob và cộng sự đã cho ̣n
ra đươ ̣c giố ng dâu lai giữa giống No117 với No118 và No117 với No120 cho năng suấ t
lá tăng 12,2 - 24,5% so với giố ng dâu cũ (Theo Hà Văn Phúc, 2003).

1.2.2. Nghiên cứu chọn tạo giống dâu ở Việt Nam
1.2.2.1. Gây tạo đột biến
Nghề trồng dâu nuôi tằm ở nước ta tuy có lịch sử phát triển lâu đời nhưng việc
nghiên cứu chọn tạo giống tằm mới chỉ bắt đầu từ năm 1964 còn chọn tạo giống dâu từ
1970. Ở thời kỳ này, các nhà chọn tạo giống dâu đã sử dụng một số tác nhân hóa học là
chất Colchicine và chiếu tia phóng xạ γ lên hạt của giống dâu địa phương Hà Bắc với
liều lượng chiếu xạ từ 2.000 đến 10.000 đã thu nhận được các đột biến ở liều lượng
chiếu 7.000 đến 10.000R. Tác giả đã đặt tên các đột biến này là 2R7, 1R10 và 2R10
(Hà Văn Phúc và CS, 1994). Trong đó ở dạng 2R10 là dạng khảm, trên cây có hai loại
hình dạng lá khác nhau.
Nguyễn Văn Vinh (1996, 1997) cũng đã xử lý chiếu tia γ vào hom của giống dâu
VA186 của Ấn Độ và Bầu Đen Bảo Lộc với liều lượng từ 1 Krad đến 10 Krad. Ngoài ra
tác giả còn chiếu vào cây dâu invitro với liều lượng từ 0,5 - 4,5 Krad. Kết quả tác giả đã
chọn được 6 dòng đột biến từ giống dâu Bầu Đen là B93-1, B93-2, B93-3, B-16, B-17,
B-18 và 5 dòng từ giống dâu VA186 là VA93-5; VA93-8; VA-12; VA-15 và VA-18 từ
giống VA-186. Cũng giống như kết quả ở phần trên, các đột biến này chỉ có sự khác biệt
với giống nguyên thủy về hình thái lá, đốt cành,...
Từ các kết quả trên cho thấy hướng chọn tạo giống dâu đột biến bằng phương pháp
chiếu tia γ không định hướng được kết quả chọn tạo giống theo mục đích của con người.
1.2.2.2. Tạo giống dâu tam bội trồng hom
Từ tổ hợp đột biến C71A do xử lý Colchicine, năm 1972, tác giả Hà Văn Phúc và
cộng sự đã lai hữu tính với một số giống dâu địa phương như giống dâu Chân Vịt, Quang
Biểu và Ngái để tạo ra các giống dâu tam bội số 7, số 11 và số 12 (Hà Văn Phúc và CS,
1994). Thông qua kết quả khảo nghiệm sản xuất ở một số địa phương thuộc vùng Đồng
bằng Bắc bộ cho thấy cả ba giống dâu mới này đều có ưu điểm là cây dâu sinh trưởng
mạnh hơn so với giống tứ bội C71A, kích thước phiến lá to và dày hơn các giống lưỡng
bội tham gia trong cặp lai là Chân Vịt, Quang Biểu và Ngái. Năng suất lá của các giống
mới No7, No11 và No12 đều cao hơn giống đối chứng Hà Bắc từ 10-15%. Do phiến lá
5


tam bội nhân giống hữu tính. Trong luận án này chúng tôi sẽ trình bày kết quả chọn tạo
giống dâu lai lưỡng bội nhân giống hữu tính.
CHƯƠNG II. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm:12 giống dâu nhập nội và nhập ngoại. Cụ thể:
- 9 giống dâu có nguồn gốc Trung Quốc là: K9, K10, K11, Q1, Q2, No2, No3,
ĐB1, ĐB2.
- 1 giống dâu có nguồn gốc Ấn Độ: IA.
- 2 giống dâu có nguồn gốc Việt Nam: Ngái, Hà Bắc.
- 10 tổ hợp dâu lai F1 được tạo thành do lai hữu tính giữa các giống dâu gồm
(VH18, VH19, VH20, VH21, VH22, VH23, VH24, VH25, GQ1, GQ2.

6


- Giống dâu đố i chứng VH13 là giống dâu tam bội thể mới được Bộ nông nghiệp
công nhận năm 2006, được tạo thành do lai giữa giống IA có nguồn gốc ở Ấn Độ với
giống dâu ĐB86 có nguồn gốc Việt Nam.
- Giống tằm lưỡng hệ GQ2218 và giống tằm vàng lai (ĐSK × TQ).
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Nghiên cứu đánh giá một số giống dâu sử dụng làm vật liệu khởi đầu và lai
hữu tính tạo ra các tổ hợp lai mới
2.2.2. So sánh chọn lọc các tổ hợp lai mới lai tạo
2.1.2.1 Nghiên cứu đánh giá sức sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất lá của các tổ hợp lai
2.2.2.2 Mức độ nhiễm một số bệnh hại chính
2.2.3. So sánh chọn lọc một số tổ hợp lai có triển vọng
2.2.3.1. Nghiên cứu xác định một số yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lá và mức
độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính
2.2.3.2. Kiểm định phẩm chất lá dâu thông qua nuôi tằm

7


trong bao cách ly của giống có hoa cái rồi buộc bao với cành. Sau thụ phấn 2-3 ngày
quan sát thấy có vòi nhụy của hoa cái chuyển từ màu trắng sang màu vàng nhạt thì bỏ
túi cách ly, ngắt bỏ một số ít hoa cái do nở muộn nên chưa thụ phấn. Dùng túi lưới bao
bọc cành dâu đã thụ phấn để bảo vệ quả dâu. Khi quả dâu chín có màu tím đậm thì thu
quả, tách hạt dâu và đem gieo trong bầu. Chế độ chăm sóc cây dâu ở trong bầu của các
tổ hợp lai đều thực hiện đồng nhất. Khi cây dâu trong bầu sinh trưởng đạt chiều cao từ
20-25cm thì đem ra trồng ngoài ruộng theo từng lần nhắc lại của các tổ hợp lai.
2.3.3. So sánh chọn lọc tổ hợp dâu lai
- Thời gian tiến hành 7 - 2009 đến 12 – 2011. Cây dâu trồng từ tháng 5 năm
2009. Năm 2010 cây dâu được đốn ở vụ đông, năm 2011 để lưu đông, đốn hè.
- Địa điểm nghiên cứu: Ngọc Thụy, Gia Lâm, Hà Nội.
- Phương pháp chọn lọc tổ hợp lai: thực hiện theo chọn lọc quần thể, dựa vào
một số chỉ tiêu cấu thành năng suất, năng suất là và mức độ nhiễm một số bệnh hại chủ
yếu để lựa chọn các tổ hợp lai có triển vọng.
- Phương pháp thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh gồm 3 lần
nhắc lại, mỗi lần nhắc lại trồng 40 cây trên cùng một hàng. Khoảng cách trồng 1,20 x
0,3 m. Các chế độ chăm sóc cho cây dâu đều thực hiện đồng nhất giữa các giống, lần
nhắc lại.
2.3.4. Nghiên cứu so sánh một số tổ hợp dâu lai có triển vọng
Sau hai năm nghiên cứu 10 tổ hợp dâu lai, dựa vào kết quả thu được về các chỉ
tiêu yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lá,… đã chọn được 4 tổ hợp dâu lai có triển
vọng nhất để khảo nghiệm cơ bản.
2.3.4.1. Phương pháp thí nghiệm ngoài đồng ruộng
- Thời gian thí nghiệm: tháng 7- 2011 đến tháng 12 - 2014.
- Địa điểm: Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội.
+ Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh gồm 3

ngày18/6, thứ 3 vào ngày 14-8, sau đó hái lá vào ngày 9-10.
4: Công thức hái lá (đối chứng).
2.3.6. Nghiên cứu khảo nghiệm tính thích ứng của giống dâu GQ2 ở một số vùng
thuộc các tỉnh phía Bắc
2.3.6.1. Khảo nghiệm về năng suất lá
Thời gian thực hiện: từ năm 2012-2014.
- Vật liệu nghiên cứu: giống dâu GQ2, giống dâu đối chứng VH13.
- Địa điểm khảo nghiệm:
+ Công ty dâu tằm tơ Mộc Châu (Sơn La).
+ Hợp tác xã Tình Cương, Cẩm Khê, Phú Thọ.
+ Hợp tác xã Thiệu Đô, Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
- Phương pháp tiến hành: theo qui định của Cục trồng trọt, mỗi địa điểm trồng 2
giống dâu ở liền cạnh nhau. Diện tích mỗi giống 1000 m2 , mật độ trồng 40.000 cây/ha.
Dâu thí nghiệm được trồng tháng 5 năm 2012.
Chế độ chăm sóc: phân hữu cơ 25 tấn/ha/năm bón 1 lần vào tháng 12, phân N.P.K
thì tỉ lệ 16,5:7:7, số lượng 2000 kg NPK/ha/năm, bón 4 lần vào các tháng 1, 4, 7 và 9.
2.3.6.2. Đánh giá tính ổn định năng suất lá của giống GQ2
Để đánh giá tính ổn định của giống dâu mới chúng tôi sử dụng phương pháp xử
lý số liệu sơ bộ trên phần mềm thống kê Excel 2013, sau đó được xử lý theo phần mềm
ổn định của Nguyễn Đình Hiền (2001).
2.4. Các chỉ tiêu thí nghiệm và phương pháp theo dõi
- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu thí nghiệm ngoài đồng áp dụng theo Tiêu
chuẩn Ngành (10TN 328-98) và TCVN 9485:2013/ Cục trồng trọt và phát triển nông
thôn và QCVN 01-147: 2013/BNNPTNT
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu đánh giá một số giống dâu bố mẹ làm vật liệu khởi đầu và lai hữu
tính tạo tổ hợp lai
3.1.1. Đặc điểm hình thái một số bộ phận của cây dâu:
Giữa các giống dâu sử dụng làm vật liệu khởi đầu có sự khác nhau về hình dạng
phiến lá, đầu và đáy lá, hình dạng mầm đông và trạng thái đỉnh của mầm trên cây.

VH18
2
K9
Q2
VH19
3
IA
Q2
VH20
4
ĐB1
Q2
VH21
5
Q1
K11
VH22
6
Q1
Ngái
VH23
7
Q1
ĐB2
VH24
8
IA
Ngái
VH25
9

hơn giống đối chứng.
3.3.1.3. Một số chỉ tiêu về lá
- Độ lớn của lá bao gồm chiều dài và chiều rộng phiến lá. Độ lớn của lá vừa liên
quan đến năng suất lá dâu, vừa chi phối đến năng suất lao động khi thu hái lá.
Bảng 3.1. Bình quân kích thước lá dâu ở 3 vụ của các tổ hợp lai
(Đơn vị: cm, %)
% so với giống đ/c
Tổ hợp lai
Chiều dài lá (cm)
Chiều rộng lá (cm)
Chiều dài
Chiều rộng
VH18
17,14±0,21
14,60±0,12
112
104
VH19
16,85±0,16
14,±0,12
110
104
VH20
15,25±0,19
13,73±0,11
100
98
VH21
16,49±0,18
14,50±0,13

118
113
VH13 (đ/c)
15,25±0,15
14,00±0,13
100
100
(Số liệu năm 2010)
Số liệu ở bảng 1 cho thấy ngoại trừ tổ hợp lai VH20 và VH25 có kích thước lá
tương tự giống dâu đối chứng VH13, các tổ hợp lai còn lại đều có kích thước lá lớn hơn
giống dâu đối chứng. Trong đó các tổ hợp lai GQ1 và GQ2 có kích thước lá lớn nhất,
chiều dài lá tăng hơn giống đối chứng 18%, chiều rộng lá tăng 10-13%, tiếp đến là tổ
hợp lai VH22 và VH23 chiều dài lá tăng từ 14-17%, chiều rộng tăng 6%.
- Số lượng lá trên mét cành:
Số lượng lá trên mét cành phụ thuộc vào chiều dài đốt trên cành, đốt cành càng dài
thì số lượng lá trên mét cành ít đi. Số liệu thu được trong thí nghiệm cho thấy trong các
tổ hợp lai chỉ có tổ hợp lai VH20, VH25 và VH24 có số lá nhiều hơn giống đối chứng
từ 3,26-8,28%, các tổ hợp lai GQ1, GQ2, VH21, VH18 đều có số lá ít hơn từ 3-14,6%,
chứng tỏ các tổ hợp lai này có đốt cành dài.
- Khối lượng lá trên mét cành
Khối lượng lá trên mét cành là chỉ tiêu phản ánh độ dài đốt cành, độ lớn và độ dày
của phiến lá và liên quan mật thiết với năng suất lá. Trong 10 tổ hợp lai thí nghiệm chỉ
11


có tổ hợp VH25 có khối lượng lá thấp hơn giống đối chứng 6%. Số tổ hợp lai còn lại
đều có khối lượng lá trên mét cành tăng từ 6-12% so với giống đối chứng, trong đó tổ
hợp lai GQ2 tăng 20%, tiếp là GQ1, VH19 và VH20 tăng từ 13-17%, các tổ hợp lai còn
lại đều tăng từ 4-7%. Nguyên nhân các tổ hợp lai có khối lượng lá trên mét cành cao
hơn giống đối chứng là do có kích thước lá lớn như chúng tôi đã trình bày ở bảng trên.

56,43
214,84
41,93
313,20
98,67
VH22
59,68
196,94
48,48
305,10
96,12
VH23
57,83
184,98
52,47
295,28
93,02
VH24
60,91
207,28
46,28
314,47
99,07
VH25
70,64
195,68
48,36
314,68
99,13
GQ1

Năng suất lá dâu
(% so với đối chứng)
140
120
100
80
60
40
20
0

118

110 105

99

96

93

99

99

110 115

100

Tên tổ

0

120

117
100 100
62

69

81

100
69

81

70

Tên tổ
hợp lai

Hình 3.3. Tỷ lệ cây dâu bị bệnh virus ở các tổ hợp lai so với giống đối chứng
Dựa vào kết quả tổng hợp các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất lá, chúng
tôi đã chọn ra 4 tổ hợp lai có triển vọng là VH19, VH20, GQ1 và GQ2 để tiến hành
khảo nghiệm cơ bản, đánh giá chi tiết hơn các ưu nhược điểm của từng giống.
3.4. So sánh chọn lọc các tổ hợp lai có triển vọng
3.4.1. Một số yếu tố cấu thành năng suất lá dâu
- Thời gian nảy mầm ở vụ xuân
Vụ xuân năm 2013 từ ngày 8 đến 13/1 thì cây dâu của các tổ hợp lai mới bắt đầu

Vụ thu
1
VH19
239,33 174,00
366,00
259,78
93
2
VH20
235,33 155,00
415,00
268,67
96
3
GQ1
232,00 140,30
359,67
243,99
87
4
GQ2
243,00 142,00
294,00
226,30
81
5
VH13
251,00 241,33
345,67
279,33

trên cây (cm)
cành
cành kiń h cành
cành bình
cấp 1
Tổ ng chiề u
% so quân (cm) cấp 1 cấp 2
(cành) (cành)
(cm)
dài cành/cây với đ/c
1
VH19 264,67
1940,73
108
102,30
7,47
11,60
1,85
2
VH20 258,40
1836,50
103
90,02
7,80
12,60
1,96
3
GQ1 274,62
1907,45
107

trong đó có tổ hợp lai GQ2 đạt cao nhất 89,41kg/100m, tiếp là GQ2- 79,52kg/100m,
giống đối chứng chỉ đạt 65,80kg. Vụ xuân và vụ thu có thời tiết rất thích hợp cho nuôi
giống tằm lưỡng hệ cho năng suất chất lượng tổ kén cao. Vì thế, giống dâu có năng suất
lá cao ở vụ xuân và vụ thu có ý nghĩa lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành
sản xuất dâu tằm. So sánh năng suất lá cả năm của các tổ hợp lai với giống dâu đối
chứng được trình bày ở hình 3.6.
Bảng 3.5. Năng suấ t lá ở các mùa vu ̣ của các tổ hơ ̣p lai năm 2014
(Đơn vi:̣ kg, %)
Chiề u
Tổ hơ ̣p
STT
cao cây
lai
(cm)

STT

Tổ hơ ̣p lai

1
2
3
4
5

VH19
VH20
GQ1
GQ2
VH13

8,40
8,75

Tổ ng cô ̣ng cả
năm (kg)
354,96
370,06
354,68
389,75
329,75
-


Hình 3.6. So sánh năng suất lá bình quân 4 năm của các tổ hợp lai
Giống dâu GQ2 cho năng suất lá cao nhất, vượt giống đối chứng 18%, tiếp đến
VH19 là 8%, GQ2-6%. Tổ hợp lai VH20 chỉ cao hơn 3%.
Bảng 3.6. Năng suất lá của các tổ hợp lai năm 2012-2015
tại Ngọc Thụy - Long Biên - Hà Nội
(đvt: Kg/100m2)
Tên tổ hợp
Năm
Năm
Năm
Năm
Bình Quân So với đối
lai
2012
2013
2014
2015

VH13(đ/c)
310,23
307,00
329,95
349,63
324,20
100
CV (%)
6,60
5,50
4,10
6,80
LSD 0,05
20,01
24,60
17,85
31,36
Số liệu về năng suất lá qua 4 năm theo dõi cho thấy ở năm 2012 chỉ có tổ hợp
lai GQ2 và VH19 cho năng suất lá cao hơn giống VH13 với độ tin 95%, hai tổ hợp
lai GQ1 và VH20 có năng suất không chênh lệch nhau nhiều so với giống đối chứng.
Năm 2013 chỉ có 2 tổ hợp lai là GQ1 và GQ2 có độ chênh năng suất so với giống
đối chứng là tin cậy. Nhưng ở năm 2014 và 2015, năng suất lá của cả 4 tổ hợp lai
đều cao hơn giống đối chứng với độ tin cậy 95%. Bình quân cả 4 năm thì tổ hợp lai
GQ2 có năng suất lá cao nhất, vượt đối chứng 16%, VH19 là 11%. Hai tổ hợp lai
còn lại cao hơn 4-9%.
- Chất lượng lá là phản ảnh thành phần hóa học ở trong lá dâu giúp cho con tằm
cho năng suất chất lượng kén cao. Để đánh giá phẩm chất lá, người ta thường dùng
phương pháp sinh hóa tức là phân tích các chất dinh dưỡng ở lá và phương pháp sinh
vật học tức là thông qua kết quả nuôi tằm. Trong 2 phương pháp này thì phương pháp
sinh vật học là thông dụng và chính xác hơn (Hà Văn Phúc, 2003). Chúng tôi đã nuôi

491,68
106,78
460,32
99,97
483,14
104,93
471,53
102,41
460,45
100,00
3,90
35,16
-

Vụ hè
So với
Số thực
giống đối
(gam)
chứng (%)
245,44
100,01
256,77
104,12
248,22
100,65
252,95
102,81
246,62
100,00

nghệ của sợi tơ cũng cho kết quả tương tự như năng suất kén. Nghĩa là sự sai khác
phẩm chất kén giữa các tổ hợp lai với giống dâu đối chứng VH13 không có ý nghĩa ở
độ tin 95%.
3.4.3. Mức độ bị hại do một số sâu bệnh chính
3.4.3.1. Bệnh nấm hại ở lá dâu
Vùng Đồng bằng Bắc bộ do ẩm độ cao nên bệnh nấm bạc thau (Phyllacđinia
moricol) thường phát triển mạnh ở vụ xuân và vụ thu. Bệnh này làm giảm chất lượng lá
dâu, tăng hệ số tiêu hao lá dâu cho cân kén.
Bảng 3.8. Mức độ nhiễm bệnh bạc thau ở vụ xuân của các tổ hợp lai
Bình quân
Vu ̣ xuân 2013
Vu ̣ xuân 2014
2 năm
STT Tổ hơ ̣p lai
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Chỉ số
Tỉ lệ bệnh Chỉ số bệnh
Chỉ số bệnh
bệnh
bệnh
bệnh
1
VH19
16,65
6,70
9,12
4,50
12,88
5,60

5,91
3,13
Kết quả cho thấy ở vụ xuân của cả 2 năm thì tỷ lệ và chỉ số bệnh ở 4 tổ hợp lai đều
cao hơn giống đối chứng VH13, chứng tỏ các tổ hợp lai này mẫn cảm với bệnh.

17


3.4.3.2. Mức độ nhiễm bệnh Virus
Qua thực tế sản xuất cho thấy tất cả các giống dâu địa phương, giống mới và nhập
nội đều bị bệnh Virus nhưng mức độ có khác nhau.
Bảng 3.9. Mức độ nhiễm bệnh virus ở các tổ hợp dâu lai
(Đơn vi:̣ cây, %)
Bình quân cả
Vụ hè
Vụ thu
năm
Số cây
STT Tổ hơ ̣p lai
điều tra Số cây % cây Số cây % cây
% cây
% so
bệnh
bệnh
bệnh
bệnh
bệnh
với đ/c
1


9,70

64

3

GQ1

99

10

10,10

11

11,11

10,60

70

4

GQ2

108

11


này theo chúng tôi liên quan đến mức độ bị hại do sâu đục thân mà chúng tôi sẽ trình
bày dưới đây.
3.4.3.3. Mức độ bị hại do sâu đục thân
Sâu đục thân hại cây dâu có nhiều loại nhưng chúng tôi thấy loại phía Bắc là
Apriona Germani Hope. Cây dâu bị sâu hại làm cho cành non ở phía ngọn bị gãy, thân
và gốc cây bị đục rỗng vì thế cây dâu mau già cỗi.
Bảng 3.10. Mức độ bị hại do sâu đục thân cây dâu
(Đơn vi ̣: cây, %)
Số cây dâu bị hại
Số cây
STT

Tổ hơ ̣p lai

dâu điều
tra

Số cây bị hại
(cây)

Tỉ lệ cây bị
hại (%)

% cây bị hại so với
đ/c

1

VH19


64

4

GQ2

108

37

34,25

54

5

VH13(đ/c)

96

61

63,54

100

Số liệu ở bảng 3.10 cho thấy cả 4 tổ hợp lai đều có tỷ lệ cây dâu bị sâu đục thân ít
hơn giống đối chứng từ 28-46%. Nguyên nhân có sự sai khác này là do giống dâu
VH15 là loại hình tam bội (3n=42), còn 4 tổ hợp lai là lưỡng bội (2n=24). Theo tác giả
Hà Văn Phúc (1994) thì độ dày phần gỗ ở thân, cành các giống dâu đa bội đều mỏng

ngày
(%)

Cắt 1 lần

Cắt 2 lần

Cắt 3 lần

Hái lá
(đ/c)

Chiều dài
mầm (cm)

0,00

2,15

8,05

13,73

16,94

0,85

185

Số lá (lá)

174

Số lá (lá)

0,00

1,93

3,40

4,27

5,07

0,25

167

Chiều dài
mầm (cm)

0,00

3,66

15,93

26,71

36,13

8,67

9,11

0,46

100

Số lá (lá)

0,00

1,60

2,73

3,13

3,13

0,15

100

Số liệu của chúng tôi thu được ở cắt cành 1 lần và 2 lần cũng giống như cắt cành 3
lần, nghĩa là tốc độ tăng chiều dài mầm, tăng số lá đều tăng theo số lần cắt cành, số lần
cắt cành tăng tốc độ tăng chiều dài mầm và số lá tăng hơn so với hái lá như hình 3.7 đã
biểu thị.

19

96
Cắt 2 lần
2,36
1,66
1,82
1,94
88
Cắt 3 lần
2,32
1,63
1,60
1,85
84
Hái lá (đ/c)
2,75
2,10
1,78
2,21
100
Độ dày của phiến lá được xác định thông qua khối lượng diện tích 100cm2 lá,
khối lượng càng lớn thì chứng tỏ phiến lá dày, số liệu ở bảng 12 cho thấy số lần cắt
cành càng tăng thì khối lượng diện tích 100cm2 lá càng giảm so với công thức đối
chứng hái lá.
Như vậy phương pháp thu hoạch lá dâu bằng cắt cành đã làm giảm kích thước và
độ dày của phiến lá. Nguyên nhân là do cắt cành làm cho cây dâu bị mất đi lượng các
chất dinh dưỡng tích lũy ở cành. Mặt khác theo Lin Shou Kang (1999), cây dâu sau khi
cắt cành thì các rễ, lông hút tạm thời bị chết đi, sau đó một thời gian mới khôi phục. Do
20



49,52
Như vậy cắt cành đều làm giảm năng suất lá từ 6% đến 16% so với hái lá, tùy
thuộc vào số lần cắt cành. Dựa theo kết quả phân tích thống kê thì năng suất lá giữa
công thức cắt cành 1 lần so với hái lá sai khác không có ý nghĩa, còn công thức cắt
cành 2 lần và 3 lần thì sai khác năng suất lá có ý nghĩa với độ tin 95%.
Hiệu quả lớn nhất của phương pháp thu hoạch lá dâu bằng cắt cành là giảm công
lao động trong khâu hái lá và nuôi tằm. Để khắc phục nhược điểm của khâu kỹ thuật
này cần phải nghiên cứu xác định mật độ trồng dâu, phương pháp cắt và chế độ chăm
sóc thích hợp.
3.6. Nghiên cứu khảo nghiệm tính thích ứng của giống dâu GQ2 ở một số vùng
thuộc các tỉnh phía Bắc
3.6.1. Khảo nghiệm về năng suất lá
Chúng tôi đã tiến hành trồng giống dâu GQ2 ở 3 địa phương là công ty dâu tằm
Mộc Châu (Sơn La) thuộc vùng núi phía Bắc, xã Thiệu Đô (Thanh Hóa) thuộc vùng
bắc miền Trung và xã Tình Cương, huyện Cẩm Khê (Phú Thọ) thuộc cùng Đồng bằng
Sông Hồng.
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu về lá
(Bình quân trong năm 2015) Đơn vị: lá, gam, cm
Kích thước lá (cm)
Giống dâu
Địa điểm
Số lá/m cành P lá/m cành
Chiều dài
Chiều rộng
Thanh Hoá
24,80
60,70
18,40±0,70
15,40±0,40
Phú Thọ

15,80±0,30
Trung Bình
27,30
56,96
17,60±0,30
15,10±0,40
Số lá trên mét cành ở cả 3 địa điểm trồng, giống dâu GQ2 đều có số lá ít hơn
giống đối chứng, nghĩa là đốt cành dài hơn, còn độ lớn của lá gồm chiều dài và chiều
rộng lá thì giống dâu GQ2 đều lớn hơn nên khối lượng lá trên mét cành cũng lớn hơn
21


giống đối chứng. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét ở các thí nghiệm so sánh
giống thuộc phần trên.
Bảng 3.15. Năng suất lá của giống dâu GQ2 ở các điểm khảo nghiệm
Đơn vị: tấn/ha
Năng suất lá (tấn/ha)
% so với
Địa điểm
Giống dâu
giống đ/c
Năm 2014
Năm 2015
Bình quân
GQ2
37,06
38,20
37,60
113,60
Thanh Hoá

Đơn vị: %
Bệnh bạc thau
Bệnh gỉ sắt
Bệnh
Giống dâu Đặc điểm
Tỉ lệ
Chỉ số
virus
Chỉ số bệnh Tỉ lệ bệnh
bệnh
bệnh
Thanh Hoá
20,40
4,85
6,10
3,10
10,77
Phú Thọ
24,90
6,80
7,70
3,50
9,32
GQ2
Mộc Châu
40,10
8,40
8,90
4,30
11,20

12,25
Số liệu thu được về mức độ nhiễm bệnh ở ba địa phương cho thấy với nấm bệnh
bạc thau thì giống dâu mới GQ2 đều có tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh ở cả 3 địa phương đều
cao hơn giống dâu VH13. Đặc biệt ở Mộc Châu thì tỷ lệ bệnh rất cao (40,10%) bởi vì
khí hậu ở đây có nhiệt độ, ẩm độ từ tháng 5 đến tháng 9 rất thích hợp cho sự phát triển
của nấm bệnh. Dẫn liệu này cho thấy nếu mở rộng trồng giống dâu GQ2 ở Mộc Châu
cần áp dụng các biện pháp phòng trừ bệnh bạc thau. Đối với bệnh gỉ sắt thì chênh lệch
giữa hai giống dâu không lớn.
Đối với bênh virus thì ở giống dâu VH13 có tỷ lệ cây bệnh cao hơn giống GQ2.
3.6.2. Đánh giá tính ổn định năng suất lá của giống dâu mới GQ2
Giống dâu mới có năng suất lá cao là một mục tiêu của chọn tạo giống, nhưng
đồng thời yêu cầu giống mới phải có tính ổn định về năng suất lá qua các mùa vụ trong
22


năm và qua các vùng sinh thái khác nhau. Cây dâu là loại cây trồng lâu năm nhiệm kỳ
kinh tế kéo dài 20 - 30 năm, vì thế tính ổn định về năng suất lá sẽ góp phần đảm bảo
hiệu quả kinh tế cao của ngành sản xuất dâu tằm.
Dựa trên kết quả thu được về năng suất lá của giống dâu mới GQ2, ở từng mùa
vụ trong năm, qua từng năm và ở ba địa phương thí nghiệm khảo nghiệm. Chúng tôi
xác định tính thích nghi và ổn định năng suất lá như sau:
Bảng 3.17. Chỉ số thích nghi và ổn định về năng suất lá của giống dâu GQ2 qua 3
mùa vụ trong năm tại Thanh Hóa, Phú Thọ, Mộc Châu
Năng suất
Hệ số
Chỉ số ổn
Độ tin
Chỉ số
Vụ
Giống

14,471
1,171 0,783
0,178
1,807
0,919
9,76
0,989 0,057
-0,028
0,820
0,428
GQ2
Thu
VH13(đ/c)
9,153
1,011 0,057
-0,028
0,820
0,428
Giống ổn định hệ số hồi quy (bi), chỉ số thích nghi bằng 1 và chỉ số ổn định S2di
bằng 0. Bảng số liệu 3.64 cho thấy các hệ số hồi quy (bi) và chỉ số ổn định (S2di) cho
thấy giống dâu GQ2 có hệ số hồi quy bi ≠ 𝟏 và chỉ số ổn định S2di ≠ 𝟎 nhưng không
có ý nghĩa. Như vậy giống dâu GQ2 được xác định có năng suất lá cao, ổn định ở 3 vụ
xuân, hè và thu ở vùng đồng bằng Sông Hồng.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Kết quả nghiên cứu đánh giá một số giống dâu sử dụng làm vật liệu
Khởi đầu trong lai hữu tính cho thấy các giống dâu nhập nội từ Quảng Đông,
Quảng Tây- Trung Quốc đều có ưu điểm nổi trội như nảy mầm xuân sớm, số mầm nảy
và số mầm hữu hiệu nhiều. Kích thước phiến lá lớn, bình quân chiều dài và chiều rộng
lá của các giống so với giống dâu địa phương Hà Bắc đều tăng tương ứng từ 8-32% và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status