Tóm tắt Luận văn tiến sĩ Chính trị học: Chất lượng hoạt động báo cáo viên Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay - Pdf 58

   BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO       HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
                                                        HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM TUYẾT LỆ 

  CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO VIÊN VÙNG
   ĐÔNG BĂNG SÔNG C
̀
̀
ỬU LONG HIÊN NAY
̣
Chuyên ngành: Công tác tư tưởng
Mã số: 9 31 02 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:  PGS.TS. Ngô Văn Thạo
        

           TS. Hà Thị Bình Hòa


HÀ NỘI ­ 2018
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Người hướng dẫn khoa học:  PGS.TS. Ngô Văn Thạo
          TS. Hà Thị Bình Hòa

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Viết Thông

và tiến lên chủ  nghĩa cộng sản. Xét về  nội dung, vị  trí, vai trò, công tác  
tư tưởng là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, quan trọng hàng đầu trong 
tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Công tác tư tưởng bao gồm 3 hình thái: hình thái lý luận, hình thái  
tuyên truyền và hình thái cổ  động. Hình thái lý luận bao gồm các hoạt 
động  nghiên  cứu,  tuyên truyền lý   luận  và  giáo dục  lý  luận  chính  trị, 
nhằm xác lập, phát triển, hiện thực hóa hệ  tư  tưởng. Hình thái tuyên 
truyền bằng các hình thức khác nhau phổ  biến, truyền bá hệ  tư  tưởng,  
quan điểm, đường lối của giai cấp, chính đảng trong xã hội. Hình thái cổ 
động là các hoạt động cổ  vũ, động viên, đa số  bằng các hình thức trực 
tiếp, kêu gọi và tổ chức quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng 
trong thực tế. Tuyên truyền là một trong những hoạt động cơ  bản của 
công tác tư  tưởng. Các kết quả  của công tác nghiên cứu lý luận, hệ  tư 
tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng nhờ  có tuyên truyền đã đến với 
quần chúng và trở  thành lực lượng vật chất vĩ đại thông qua các hoạt 
động cách mạng của hàng triệu quần chúng.
TTM là bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng. Cùng với các bộ 
phận khác của công tác tư tưởng, TTM và hoạt động của BCV góp phần 
quan trọng truyền bá chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, 
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước  
trong  xã   hội,   góp phần  xây  dựng  thế   giới   quan  duy vật   biện  chứng,  
phương pháp luận khoa học, tư tưởng, tình cảm, nhân cách, lối sống, cho  


2

cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo  sự  chuyển biến trong nhận thức và 
cùng với cổ  động, tạo nên các hành động tự  giác, tích cực, chủ  động,  
sáng tạo của đại đa số quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và 
bảo vệ  Tổ  quốc. Công tác TTM còn là công cụ  quan trọng hàng đầu 

Bộ, có 12 tỉnh và thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung  ương. Toàn vùng 
có có diện tích tự nhiên 40.548 km2, bằng 12,25% diện tích tự nhiên của 
cả nước; có đường biên giới với Campuchia dài hơn 340 km; có bờ biển 


3

dài   743   km,   vùng   biển,   vùng   đặc  quyền   kinh   tế   rộng   lớn   với   tài 
nguyên biển, trong lòng đất đáy biển rất phong phú; có hai  2 huyện đảo 
là Phú Quốc và Kiên Hải nằm trên đường giao lưu quốc tế  rất nhộn 
nhịp…. Dân số trong vùng gồm 17,55 triệu người, trong đó dân tộc Kinh 
chiếm 91,91%; còn lại là các dân tộc thiểu số Khmer, Hoa, Chăm và một 
số  ít người của các dân tộc thiểu số  khác. Các dân tộc sống đan xen  
nhau, có sự giao thoa về văn hóa của các dân tộc, tạo nên sự phong phú, 
đa dạng và gắn kết các dân tộc với nhau. Vị  trí quan trọng của Vùng  
trong phát triển kinh tế ­ xã hội, an ninh ­ quốc phòng của Tổ quốc đặt ra  
yêu cầu cao và những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế ­ xã hội, dân tộc, tôn  
giáo, đối ngoại… nơi đây  có tác động mạnh đến TTM và hoạt động 
BCV trên địa bàn.
Những năm qua, hoạt động BCV của VĐBSCL đã đạt được những 
kết quả  nhất định, góp phần quan trọng vào việc đưa các chủ  trương,  
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán 
bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, hoạt động TTM, BCV cũng còn 
nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đáp  ứng được yêu cầu của  
công tác tư  tưởng trong tình hình mới. Nghiên cứu để  tìm ra giải pháp  
nâng cao chất lượng hoạt động BCV  ở  VĐBSCL  là yêu cầu cấp bách 
của công tác tư tưởng nói chung và CTTT nói riêng ở các đảng bộ trong  
Vùng hiện nay.
Với các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề   “Chất lượng hoạt  
động báo cáo viên Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” làm đề  tài 

́
ất lượng hoạt động BCV của VĐBSCL hiên nay.
̣
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong 
hoạt động BCV và chất lượng hoạt động BCV của VĐBSCL hiện nay.
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu chất lượng hoạt động BCV cấp 
ủy VĐBSCL (bao gồm BCV cấp tỉnh và cấp huyện). Hoạt động BCV  
được nghiên cứu bao gồm hoạt động của ĐNBCV dưới sự lãnh đạo, chỉ 
đạo của cấp ủy và hoạt động của từng BCV.
Về thời gian nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu thực trạng và chất 
lượng hoạt động BCV của VĐBSCL từ năm 2012 đến 2017.
Về  không gian:  Luận án tập trung khảo sát lấy số  liệu thực tế  về 
hoạt động BCV cấp tỉnh và cấp huyện qua các báo cáo và khảo sát thực tế 
hoạt động này  ở  các tỉnh tiêu biểu là Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, thành 
phố Cần Thơ.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên các nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác ­ Lênin,  
tư  tưởng Hồ  Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, 
pháp luật của Nhà nước; quan điểm chỉ  đạo của Đảng về  hoạt động 
BCV. Trong quá trình nghiên cứu của đề tài, tác giả có lựa chọn kế thừa  
một số  kết quả  nghiên cứu lý luận của các công trình khoa học có liên 
quan.
4.2. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ 
nghĩa Mác ­ Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện mục đích, nhiệm vụ  nghiên 

các BTG, Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo một số  tỉnh VĐBSCL 
về các nội dung liên quan đến hoạt động BCV ở cơ sở, qua đó tìm hiểu  
những vấn đề có liên quan đến luận án.
5. Đóng góp mới của luận án
Từ góc độ khoa học công tác tư tưởng, luận án góp phần làm rõ khái 
niệm hoạt động BCV và chất lượng hoạt động BCV, xây dựng hệ thống  
tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động BCV từ  cấp độ  hoạt động của  
ĐNBCV và cấp độ hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ của từng BCV.  
Chất lượng hoạt động BCV từ bình diện một đội ngũ và từ bình diện một  
cá nhân.


6

Luận   án   đã   khái   quát,   phân  tích, làm rõ cơ sở khoa học, tổng kết 
thực trạng và xác định những vấn đề  đặt ra trong hoạt động BCV ở  một 
vùng lãnh thổ với nhiều điểm đặc thù. Luận án đã đề xuất và luận giải cơ 
sở khoa học của các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt  
động BCV của VĐBSCL hiện nay. Dưới góc độ nghiên cứu, triển khai, đó  
là quá trình tổng kết thực tiễn, góp phần làm phong phú thêm khoa học về 
công tác tư tưởng.
Những kết quả  nghiên cứu của luận án có giá trị  tham khảo đối 
với những người làm công tác BCV nói chung.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cua lu
̉
ận án
­ Luận án làm rõ những vấn đề  lý luận và khái niệm hoạt động 
BCV, chất lượng hoạt động BCV, xác định các tiêu chí đánh giá chất 
lượng hoạt động BCV dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng. Với kết 
quả  nghiên cứu luận án đã có thể  được sử  dụng làm tài liệu tham khảo  

́
1.1. Các công trình nghiên cứu về công tác tuyên truyền, tuyên  
truyền miệng và hoạt động báo cáo viên
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về công tác tuyên truyền, tuyên  
truyền miệng ở nước ngoài
Có một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài đề cập đến CTTT, 
TTM và hoạt động BCV với các góc độ  khác nhau. Sau đây là một số 
công trình tiêu biểu:
­ Tác giả  I.Ia­Blinôp trong cuốn “Nghê thuât noi chuyên cua tuyên
̣
̣
́
̣
̉
 
truyền viên”, (ngươi dich: Nguyên Ngoc L
̀ ̣
̃
̣ ư), Nxb Văn hoa ­ Nghê thuât,
́
̣
̣  
(1962). E.Phancôvích trong tác phẩm “Nghệ thuật diễn giảng”, Nxb Sách 
giáo   khoa   Mác   ­   Lênin,   Hà   Nội   (1976).X.I.   Xurơnitrencô   trong   cuốn 
“Hoạt động tư  tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô”, (chủ  biên), Nxb 
Thông   tin   lý   luận   (1982).M.M.   Rakhơmancunôp   trong   cuốn   “Tuyên 
truyền miệng: Lý luận ­ Tổ chức ­ Phương thức ”, (1983), Nxb Sách giáo 
khoa Mác ­ Lênin, Hà Nội. Tác giả  E.A. Nôgin trong cuốn  “Nghê thuât
̣
̣ 

tưởng”,  Nxb  Chính trị  quốc gia, Hà Nội (1999). Tác giả  Lương Khắc 
Hiếu (chủ  biên) trong cuốn“Nguyên lý công tác tư  tưởng"  tập 2,  Nxb 


8

Chính trị  quốc gia, Hà Nội (2008).  Tác giả  Ngô Văn Thạo (chủ  biên), 
trong cuốn  “Nghiệp vụ  Tuyên giáo”,  Nxb  Văn hóa ­ Thông tin, Hà Nội, 
(2008). BTG Trung ương, (2009), trong “Tập bài giảng cán bộ tuyên giáo  
cấp tỉnh, cấp huyện năm 2009”.  Tác giả  Phạm Tất Thắng trong cuốn 
“Ðổi mới công tác tư  tưởng, lý luận trong tình hình mới” , (2010),  Nxb 
Chính trị  quốc gia, Hà Nội. Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của Đinh Thị 
Mai “Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức  
của báo cáo viên”,  Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà 
Nội, (2013).  Tác giả  Lương Ngọc Vĩnh trong bài viết  “Công tác tuyên  
truyền miệng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp  
chí BCV, số 02, tháng 2/2015. Tác giả Bùi Thế Đức trong bài viết “Vai trò 
công tác tuyên truyền miệng đối với phát triển hình  ảnh và thương hiệu  
quốc gia Việt Nam”, Tạp chí BCV, số 05, tháng 05 năm 2016.
Luận án Tiến sĩ Chính trị học của Lê Mai Trang,  “Đổi mới công tác  
tuyên truyền của Đảng đáp  ứng yêu cầu hội nhập quốc tế   ở  Việt Nam  
hiện nay”, (2016).
Về hoạt động BCV, nhiều tác giả đã đề cập đến các lĩnh vực thuộc 
nội dung, phương thức, phương pháp, nghệ thuật phát biểu của BCV.
Tác giả  Lương Khắc Hiếu (chủ nhiệm đề  tài) “Nâng cao năng lực  
hoạt động thực tiễn của đội ngũ báo cáo viên ở Hà Nội hiện nay”,  (2003). 
Trong tác phẩm “Nghệ thuật phát biểu miệng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà 
Nội, (2008). Bàn về PPTT, tác giả Hoàng Quốc Bảo trong cuốn sách  “Học  
tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ  Chí Minh”,  Nxb  Lý luận 
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,(2006).  Tác giả  Ngô Văn Thạo (chủ biên), 

thuyết phục trong công tác tuyên truyền miệng hiện nay”, Tạp chí BCV, số 
10, tháng 10/2013. Tác giả Nguyễn Chí Mỳ, với bài viết “Một số suy nghĩ  
về phương pháp tuyên truyền miệng hiện nay”, Thông tin chuyên đề, số 
3/2014.  Tác giả  Lương Khắc Hiếu trong bài viết “Phát huy  ưu thế  tuyên 
truyền miệng trong công tác tư tưởng”, Tạp chí BCV, số 08, tháng 8/2013.
Về  nâng cao chất lượng hoạt  động TTM, BCV  ở  các ngành, địa  
phương có các nghiên cứu đáng chú ý: Tổng hợp “Một số kết quả công tác  
tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên năm 2016; nhiệm vụ trọng  
tâm năm 2017”, Tạp chí BCV, số 01, tháng 01 năm 2017. Các bài viết trong  
cuốn Kỷ  yếu tọa  đàm“Nâng cao chất  lượng,  hiệu quả  công tác  tuyên 
truyền miệng  và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên thành phố  Hồ  Chí  
Minh”, (2014).
Công tác  TTM  và hoạt động BCV trong các ngành, các cấp, các đối  
tượng.
Về  hoạt động BCV trong quân đội và công an đã có một số  bài  
viết đáng chú ý. Tác giả  Nguyễn Trọng Nghĩa trong bài  “Tiếp tục đổi  
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả  hoạt động công tác   tuyên truyền  
miệng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong toàn quân”, Tạp chí BCV , số 10, 
tháng 10 năm 2017. Tác giả  Hồ  Bá Vinh trong bài viết   “Xây dựng đội  
ngũ báo cáo viên quân đội đáp  ứng yêu cầu công tác tuyên huấn trong  
tình hình mới”, Tạp chí BCV, số 4, tháng 04 năm 2016. Tác giả  Nguyễn 
Văn Tín trong bài viết “Một số  bài học kinh nghiệm rút ra sau 10 năm  


10

thực  hiện  Chỉ   thị   17   của   Ban   Bí   thư  Trung  ương Đảng về  công tác  
tuyên truyền miệng của quân đội”, Tạp chí BCV, số 8, tháng 8 năm 2017.
Về hoạt động TTM, BCV trong lực lượng công an, tác giả Đào Gia 
Bảo với bài viết “Công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên góp  

tác giả  kế  thừa có chọn lọc, đề  ra phương hướng và giải pháp cơ  bản 
nâng cao chất lượng hoạt động BCV của VĐBSCL hiện nay.


11

1.3.   Các   công   trình  nghiên  cứu   về   đồng   bằng   sông   Cửu 
Long và chất lượng hoạt động báo cáo viên ở  Vùng đồng bằng sông 
Cửu Long
Những vấn đề  về  ĐBSCL cũng như  về  công tác TTM, hoạt động 
BCV  của Vùng  đến nay chưa  có nhiều  công  trình nghiên  cứu.  Trong 
phạm vi tổng quan, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về một số lĩnh  
vực, góc độ, cụ thể như sau:
1.3.1. Những nghiên cứu về Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Cuốn sách “Nam Bộ xưa và nay” của nhiều tác giả, Nxb thành phố 
Hồ  Chí Minh (1999).  Tác giả  Sơn Nam trong cuốn sách “Tiếp cận với  
đồng bằng sông Cửu Long”,  Nxb  Trẻ  thành phố  Hồ  Chí Minh,  (2000). 
Tập sách của Hội Khoa học lịch sử  thành phố  Hồ  Chí Minh “Nam Bộ 
đất và người”, (tập I và tập II) của   Nxb  Trẻ  (2004). Tác giả  Vũ Minh 
Giang (chủ biên), trong cuốn “Lược sử vùng đất Nam Bộ ­ Việt Nam”, Nxb 
Thế  giới, Hà Nội (2006).  Năm 2011 BTG Trung  ương và Ban Chỉ  đạo 
Tây Nam bộ đã ban hành“Đê c
̀ ương tuyên truyên trong đông bao cac dân
̀
̀
̀ ́
 
tôc, tôn giao vung đ
̣
́ ̀ ồng bằng sông Cửu Long giai đoan 2011 ­ 2015”

̣
ả Nguyễn Hồng Vệ đã có một số bài viết về công tác  
TTM, BCV ở Cà Mau. Trong bài báo “Báo cáo viên Cà Mau ­ Lực lượng  
chủ yếu giữ vững trận địa công tác tư tưởng cơ sở”, Báo điện tử Tuyên  
giáo, 9/2008. Tác giả Nguyễn Hồng Vệ trong bài báo “Mấy suy nghĩ về 
“nghề báo cáo viên” trong giai đoạn hiện nay”, Thông tin chuyên đề, số 
3/2014. Tác giả  Hồ  Văn Hoàng trong bài báo “Vai trò của đội ngũ báo  
cáo viên  với  phát  triển bền vững”,  Tạp  chí  Tư   tưởng  ­  Văn  hóa,  số 
10/2004. Tác giả  Bùi Thụy Ngọc Hân trong bài viết “Đổi mới nội dung  
và phương thức hoạt động của báo cáo viên cấp  ủy tỉnh Bến Tre hiện  
nay”, Báo điện tử  Tuyên giáo,  tháng 4/2014.  Tác giả  Trần Bình Trọng 
với bài viết “Tăng cường công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của  
ĐNBCV, TTV đáp  ứng yêu cầu, nhiệm vụ  trong tình hình mới ”, Trang 


12

thông tin điện tử  BTG tỉnh  ủy Trà  Vinh, tháng 2/2016.
1.4. Nhận định về kết quả đã đạt được và những vấn đề  cần 
tiếp tục nghiên cứu
1.4.1. Những kết quả đạt được
Các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã đề  cập 
những nội dung cơ  bản về  công tác tư  tưởng, CTTT, hoạt động BCV. 
Nhiều công trình nghiên cứu đã làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung,  
phương pháp, phương thức hoạt động BCV cũng như  chất lượng hoạt  
động BCV và yêu cầu phải đổi mới hoạt động BCV trong giai đoạn hiện  
nay. Do chưa có nhiều công trình nghiên cứu, nên nhiều vấn đề trong lĩnh 
vực này chưa được làm rõ hoặc còn có những ý kiến khác nhau… nhưng 
các nghiên cứu nêu trên là những gợi ý quan trọng để  tác giả  tiếp tục 
nghiên cứu và đề  ra những giải pháp thích hợp trong việc nâng cao chất  

Nghiên   cứu   hoạt   động  TTM  và   chất   lượng   hoạt   động   BCV   ở 
VĐBSCL dù chưa có nhiều công trình nhưng các nghiên cứu đã cho thấy 
một phần thực trạng công tác TTM,  hoạt động BCV cũng như  các yêu 
cầu về  số  lượng, chất lượng của ĐNBCV  ở  VĐBSCL… Đây là những 
nội dung quan trọng, gợi ý cho tác giả luận án nghiên cứu đề tài sát hợp 
với điều kiện thực tế của VĐBSCL.
1.4.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù các nghiên cứu đã tập trung làm rõ các vấn đề có liên quan  
đến hoạt động BCV, song vẫn còn trống vắng các công trình nghiên cứu 
một cách cơ bản, tổng thể cơ sở lý luận, thực tiễn chất lượng hoạt động 
và các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động BCV  ở  VĐBSCL hiện 
nay. Đây chính là nội dung mà luận án cần tiếp tục làm rõ.
Luận án cần tiếp tục nghiên cứu với các định hướng sau:
Một là, kế thừa các công trình nghiên cứu về hoạt động BCV, chất 
lượng hoạt động BCV và các đề  tài có liên quan để  làm rõ hơn các khái  
niệm công cụ như hoạt động BCV, chất lượng hoạt động BCV,  các tiêu 
chí đánh giá chất lượng hoạt động BCV, các yếu tố  tác động đến chất 
lượng BCV làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
Hai là, vận dụng lý luận để phân tích thực trạng hoạt động và chât́ 
lượng hoạt động BCV, những yếu tố chủ quan và khách quan tác động  
vào hoạt   động BCV   ở   VĐBSCL;   rút   ra  những  ưu  điểm,  hạn  chế  và 
những nguyên nhân; các giải pháp khắc phục những hạn chế trong chất  
lượng của hoạt động BCV. Kết quả  nghiên cứu cần đạt tới là chỉ  ra 
những nội dung cần thiết để  nâng cao chất lượng hoạt động BCV  ở 
VĐBSCL.
Ba là, đề  xuất  phương hướng  va các nhóm giai phap nh
̀
̉
́
ằm nâng 

truyền, giáo dục chính trị, tư  tưởng, củng cố  niềm tin,  định hướng tư 
tưởng và hành động cho cán bộ, đảng viên, nhân dân theo đường lối, quan 
điểm của Đảng.
2.1.1.2. Báo cáo viên và tuyên truyền viên
BCV, TTV là chức danh để chỉ những người làm công tác TTM, cổ 
động trực tiếp bằng lời nói đối với các đối tượng. BCV, TTV phối hợp  
với nhau, trở thành lực lượng TTM có tổ chức, có hệ thống từ Trung ương 
tới đảng bộ, chi bộ cơ sở, tới từng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong  
hoạt động của mình, BCV có quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng ­  
đối tượng TTM, trực tiếp góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận xã  
hội.
2.1.2. Hoat đông báo cáo viên
̣
̣
2.1.2.1. Khái niệm hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự  tác động 
một cách tích cực của con người vào hiện thực, là hệ  thống hoạt động 
chung của các cá nhân có quan hệ  lẫn nhau nhằm thực hiện một mục  
đích nhất định trong đời sống xã hội.


15

2.1.2.2. Khái niệm hoat đông
̣
̣   báo cáo viên
Hoạt động BCV là một trong những hoạt động quan trọng trong  
công tác tư tưởng của Đảng, là hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ  có tổ 
chức, có định hướng của ĐNBCV dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy 
đảng, nhằm giáo dục chủ nghĩa Mác­Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên 

chặt chẽ  với các HĐTT khác. Sự  phối hợp  ấy nhằm khắc phục những  
hạn chế  vốn có trong so sánh với các hình thức tuyên truyền khác của  
hoạt động BCV và phát huy  ưu thế  của các loại hình tuyên truyền. Sự 


16

phối hợp  ấy sẽ  tạo hiệu  ứng lan  tỏa, rộng rãi nội dung tuyên truyền 
trong xã hội.
2.2.2.4. Chế độ chính sách, phương tiện đảm bảo cho hoạt động  
báo cáo viên của ngành, địa phương
Thực hiện chế độ, chính sách thỏa đáng không chỉ là biểu hiện của  
sự quan tâm đến hoạt động BCV mà còn là sự kích thích tính tích cực, sự 
sáng tạo của ĐNBCV. Trên cơ sở xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm  
của BCV, nội dung của chế độ chính sách đối với hoạt động BCV là tạo 
điều kiện làm việc, cho hoạt động TTM của BCV. Chế  độ  chính sách 
đối với BCV chính là sự đãi ngộ xứng đáng với lao động của BCV.
2.2.2.5. Phẩm chất và năng lực của báo cáo viên
Đây  là  tiêu  chí  nói  lên "chất  lượng"  của  người  BCV,  bao gồm  
phẩm chất và năng lực trong hoạt động TTM của họ. Phẩm chất và năng  
lực này được hình thành chủ  yếu bằng sự  cố  gắng của cá nhân mỗi  
BCV. Ngoài yếu tố năng khiếu bẩm sinh có vai trò nhất định, phẩm chất, 
năng lực của BCV không phải là cái có sẵn và bất biến, mà phần lớn do 
đào tạo (bao gồm cả  tự  đào tạo), bồi dưỡng, qua rèn luyện trong thực 
tiễn hoạt động. Điều đó cũng nói lên vai trò, trách nhiệm của tổ  chức 
trong đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực TTM cho BCV.
2.2.2.6. Sự  chuyển biến trong nhận thức tư  tưởng chính trị  của  
cán bộ, đảng viên và kết quả  thực hiện nhiệm vụ  chính trị  của ngành,  
địa phương ­ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động báo cáo viên  
trong thực tiễn

2.3.2. Yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái  
về tư tưởng chất chính trị, đạo đức, lối sống, “tự chuyển biến”, “tự  
chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên hiện nay
Tham gia đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về  tư tưởng, phẩm  
chất chính trị, đạo đức, lối sống, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong  
nội bộ  hiện nay, hoạt động BCV có nhiều lợi thế   ở  chỗ  các nội dung  
TTM, vận động gắn liền với thực tế vận động ở  cơ  sở, giúp ổn định tình 
hình tư  tưởng trong nhân dân, giúp các cấp  ủy đảng và chính quyền các 
cấp thực hiện cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đáp ứng yêu cầu  
nhiệm vụ đặt ra.
2.3.3. Vai trò quan trọng của đội ngũ báo cáo viên trong hoạt  
động tuyên truyền của Đảng
Cũng như bất cứ hoạt động nào của con người, chủ thể hoạt động 
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định thành công hay thất bại của hoạt động  
đó. Vì vậy, có thể  khẳng định BCV là người quyết định chất lượng hoạt  
động TTM.  Với vai trò chủ thể trong hoạt động TTM, BCV là lực lượng 
tuyên truyền tập trung về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp 
luật của Nhà nước, người chịu trách nhiệm chính về  kết quả  hoạt động  
TTM.


18

2.3.4.   Xuất   phát   từ   những   hạn chế  của hoạt động báo cáo  
viên trong giai đoạn hiện nay
Trong thời gian qua,  hoạt động BCV nói chung và hoạt động BCV 
của VĐBSCL nói riêng, còn những hạn chế, chất lượng hoạt động BCV chưa  
cao. Trong tổ chức hoạt động của ĐNBCV, chất lượng lãnh đạo, chỉ  đạo 
hoạt động BCV, điều kiện, phương tiện vật chất cho hoạt động này còn 
hạn chế. Nhiều nơi cấp  ủy chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực hoạt 

3.1.1.2. Đặc điểm về lịch sử,   chinh tri, kinh t
́
̣
ế, văn hóa, xa hôi
̃ ̣
ĐBSCL có 3 mặt giáp biển và đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa gắn 
liền với biển. Những diễn biến phức tạp trong quan hệ của Việt Nam với  
các nước khu vực, đặc biệt là trên biển Đông, có tác trực tiếp đến tình hình 
kinh tế, xã hội và tư  tưởng của nhân dân trong Vùng. Đẩy mạnh HĐTT,  
nâng cao chất lượng hoạt động BCV góp phần tham gia  xử  lý kịp thời 
những vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đảm bảo an ninh  
nội địa và chủ  quyền biển, đảo là nhiệm vụ  quan trọng trong hoạt động 
TTM, BCV ở VĐBSCL.
3.1.2. Quá trình hình thành và thực trạng đội ngũ báo cáo viên  
Vùng đồng bằng sông Cửu Long
3.1.2.1. Quá trình hình thành đội ngũ báo cáo viên Vùng đồng bằng  
sông Cửu Long
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành lại nền độc 
lập của Tổ quốc, Đảng ta đã sớm có chủ trương xây dựng và phát triển  
ĐNBCV, TTV của Đảng ở VĐBSCL. Thực hiện Chỉ thị 14­CT/TW, ngày 
3 tháng 8 năm 1977 của Ban Bí thư  Trung  ương Đảng khoá IV về  việc 
“Tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên”, ở ĐBSCL, ĐNBCV 
đã được tổ chức ở tất cả các tỉnh, thành, quận, huyện.  Qua các tỉnh khảo 
sát,  cấp tỉnh có 196 BCV, trong đó có 26 BCV nữ  (chiếm 13,2%), có 4  
BCV là người dân tộc (chiếm 2%). Cấp huyện có 1279 BCV, trong đó có 
123 BCV nữ  (chiếm 10,3%), 11 BCV là người dân tộc (chiếm 0,86%).  
Về trình độ chuyên môn: 100% BCV cấp tỉnh đạt trình độ đại học, trong  
đó 5 BCV có trình độ tiến sĩ (chiếm 2,55%), 33 BCV có trình độ  thạc sĩ 
(chiếm 16,8%), còn lại 158 BCV có trình độ  đại học (chiếm 80,65%).  
BCV  cấp huyện có 1279/1279 BCV đạt trình độ  đại học, trong đó 72 

Vùng có nhận xét về sự quan tâm của một số cấp ủy đối với hoạt động 
BCV, chưa thực sự quan tâm hoặc chưa thường xuyên quan tâm đến hoạt 
động này. Biểu hiện rõ nhất là một số  nơi còn có hiện tượng “khoán  
trắng” cho BTG cùng cấp. Sự  quan tâm của cấp uỷ và chính quyền cấp 
tỉnh đa số  mới dừng lại  ở  việc ra quyết định công nhận ĐNBCV, chưa 
ban hành các nghị  quyết, văn bản chỉ  đạo và chưa thường xuyên quan  
tâm đến hoạt động của đội ngũ này.
3.2.2. Chất lượng tổ chức các hoạt động chủ yếu của đội ngũ  
báo cáo viên
3.2.2.1. Ưu điểm
­ Về  lựa chọn, xác định nội dung tuyên truyền: Hoạt động BCV 
của các địa phương VĐBSCL cơ bản được thực hiện theo chương trình,  
kế hoạch. Tổ chức HNBCV và hội nghị cung cấp thông tin định kỳ ở các 
tỉnh VĐBSCL đã duy trì thường xuyên và tổ  chức tốt HNBCV định kỳ,  
mỗi tháng một lần nhằm cung cấp thông tin thời sự, chủ trương, đường 
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, định hướng thông tin,  
hướng dẫn hoạt động hệ thống BCV cấp dưới. Để  nâng cao chất lượng 
hoạt động cho ĐNBCV, các tỉnh VĐBSCL hằng năm đã mở một số  lớp 
tập huấn nghiệp vụ TTM, hoạt động BCV.


21

3.2.2.2. Hạn chế
Việc chỉ  đạo, định hướng nội dung tuyên truyền, còn có những 
hạn chế. Cơ chế vận hành của hoạt động chỉ  đạo định hướng nội dung  
từ  trên xuống dưới, kể  cả  từ  Trung  ương, còn nhiều bất cập, ách tắc,  
làm cho nhiều sự  kiện trong nước và quốc tế  đã xảy ra, nhưng chưa có 
hoặc rất chậm có được chỉ  đạo, định hướng tuyên truyền. Với các địa 
phương, cấp  ủy, BTG thường phản  ứng chậm trong chỉ  đạo thông tin,  


22

hành đã đáp  ứng yêu cầu của hoạt  động   BCV.   Việc   cung   cấp   thông 
tin tài liệu, các trang thiết bị kỹ thuật và công tác bồi dưỡng chuyên môn,  
nghiệp vụ  hoạt động BCV đã được thể  hiện trong quy chế  hoạt động 
của BCV.
3.2.4.2. Hạn chế
Qua khảo sát cho thấy, tuy đã có bước đổi mới về  cơ  chế, chính 
sách cho hoạt động BCV, nhưng có 56% BCV được hỏi cho rằng cơ sở 
vật chất cho hoạt động BCV  ở VĐBSCL chỉ  đáp ứng một phần yêu cầu  
của hoạt động BCV. Chế độ đãi ngộ cho BCV so với mặt bằng chung của  
xã hội bị coi là chưa tương xứng với công sức của BCV. Chế độ phụ cấp  
như hiện nay chưa đủ kích thích tính tích cực hoạt động của các BCV.
3.2.5. Chất lượng đội ngũ báo cáo viên
3.2.5.1. Những ưu điểm của đội ngũ báo cáo viên
Phần lớn BCV có phẩm chất đạo đức, tác phong sinh hoạt và nghề 
nghiệp tốt, có năng lực nắm bắt đối tượng, tiếp nhận và xử lý, chuẩn bị 
nội dung tuyên truyền, có năng lực thuyết trình, năng lực giao tiếp sư 
phạm, năng lực đối thoại với người nghe, năng lực định hướng thông tin 
và giải quyết các tình huống tuyên truyền... đáp  ứng với yêu cầu, nhiệm 
vụ tuyên truyền.
3.2.5.2. Những hạn chế của đội ngũ báo cáo viên
So với yêu cầu, nhiệm vụ  chất lượng  của ĐNBCV còn hạn chế. 
Một bộ phận BCV chưa dành thời gian để thu thập, nghiên cứu, xử lý tài  
liệu và tìm hiểu thực tế; đề cương bài nói còn đơn giản, thiếu thông tin;  
khi báo cáo còn lúng túng, một chiều, còn thiếu tính thuyết phục, liên hệ 
chưa sát thực tế. Nội dung tuyên truyền còn dập khuôn, sao chép theo tài  
liệu, còn né tránh những vấn đề gay cấn, bức xúc mà dư luận quan tâm.
3.2.6. Kết quả  hoạt động của báo cáo viên qua chuyển biến về  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status