LĐLĐ HUYỆN ĐỒNG PHÚ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số : /BC - CĐGD Đồng Phú, ngày tháng năm 2009
(Dự thảo)
BÁO CÁO
Tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” 5 năm
(Giai đoạn 2004-2005 đến 2008-2009)
A. Phần thứ nhất
Báo cáo tổng kết thực hiện phong trào thi đua “Giỏi việc trường – Đảm việc nhà”
giai đoạn 2004 -2009
Trong 64 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ nữ cán bộ, công chức,
viên chức ngành giáo dục trưởng thành vượt bậc và đã có những đóng góp to lớn vào
quá trình phát triển nền giáo dục cách mạng, góp phần đào tạo con người mới có đủ
năng lực trình độ và bản lĩnh chính trị đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội. Một
trong những yếu tố có vai trò quyết định đến sự thành công đó chính là việc chỉ đạo
và tổ chức hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, trong đó có phong trào “Giỏi
việc trường-Đảm việc nhà” xuất phát từ phong trào “Giỏi việc nước-Đảm việc nhà”
do Tổng lien đoàn Lao động Việt Nam phát động từ năm 1993.
Trong 5 năm qua, được sự chỉ đạo thường xuyên của Công đoàn Giáo dục Tỉnh,
Liên đoàn Lao động Huyện, lãnh đạo ngành, thủ trưởng các cơ quan đơn vị, Ban Nữ
công các cấp của ngành tổ chức có hiệu quả phong trào “Giỏi việc trường-Đảm việc
nhà” trong đội ngũ nữ nhà giáo, lao động.
I/ Công tác chỉ đạo thực hiện phong trào.
Căn cứ vào chương trình hoạt động của Ban Nữ công Công đoàn giáo dục Việt
Nam, nh ngữ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đề ra trong phương hướng của phong
trào giai đoạn 2005-2010, công đoàn ngành đã tích cực, chủ động và tiển khai sâu
rộng phong trào đến 100% công đoàn cơ sở.
Hàng năm, Công đoàn cụ thể hóa chương trình hành động thông qua các văn
bản chỉ đạo về công tác nữ công tới tất cả công đoàn cơ sở. Sự phối kết hợp giữa tổ
chức công đoàn với chính quyền và với các tổ chức đoàn thể trong cơ quan đơn vị
trường học ngày càng chặt chẽ, biểu hiện sự nhất trí cao trong việc chỉ đạo và tổ
CĐCS Tiểu học Tân Lập, MN Sơn Ca, THCS Tân Phú.
II. Đánh giá thực hiện phong trào và những tấm gương tiêu biểu
1. Một số kết quả chủ yếu sau 5 năm thực hiện phong trào “GVT-ĐVN”
1.1 Phong trào “GVT-ĐVN” tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng trong
toàn ngành đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục trong thời kỳ hội nhập.
Ban Nữ công cơ sở đã cụ thể hóa các nhiệm vụ trong chương trình hoạt động
của từng năm học. Nữ nhà giáo và lao động đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm là
phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh
chính trị mới có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong đó phải chú
trọng đến công tác tự học, tự bồi dưỡng, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, sử
dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy, quan tâm đến chất lượng giáo
dục toàn diện, kịp thời khắc phục những yếu kém, hạn chế về năng lực sư phạm.
Quán triệt Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định số
09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”, các
đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên theo các chương trình
khác nhau cho phù hợp với điều kiện của địa phương. Chị em đã tham gia học tập
các lớp chuyên ngành ĐHTX, ĐHTC, công nghệ thông tin, ngoại ngữ. Tính đến nay,
nữ giáo viên ở bậc Mầm non đạt chuẩn và trên chuẩn là 95,04%, Tiểu học là 100%,
THCS là 100%. Số chị em học các lớp quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, chính trị
đã được phân công công tác hợp lý và được bổ nhiệm vào cương vị lãnh đạo các đơn
vị. Phần lớn số chị em tham gia công tác quản lý đã phát huy được vai trò cá nhân
trong việc chỉ đạo và tổ chức phong trào. Theo thống kê, đến nay toàn ngành đã có
1457 CB-GV-CNV trong đó có 1159 là nữ chiếm khoảng 82,02%. Nhìn chung, đội
ngũ nữ giáo viên có sự trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Tỉ lệ
giáo viên đạt chuẩn ở cấp Tiểu học là 100%, vượt chuẩn là 41,47%. Thông qua nhiều
nguồn lực khác nhau (Nhà nước, địa phương, các tổ chức xã hội, cá nhân, đơn vị….)
đã giúp cho chị em có điều kiện học tập, nâng cao chuẩn kiến thức, giúp các chị em
tự tin và vận dụng sáng tạo thông tin khoa học và công nghệ vào dạy học. Các đơn vị
tiêu biểu trong công tác học tập nâng cao trình độ đó là: TH Tân Lập A, TH Tân Phú,
Có thể khẳng định phong trào “GVT-ĐVN” đã mang lại nhiều cơ hội cho phụ
nữ ngành giáo dục lao động, cống hiến và trưởng thành. Chị em đã phấn đấu vươn
lên, mạnh dạn áp dụng những thành tựu khoa học cơng nghệ vào trong q trình
giảng dạy, cơng tác, vào thực tế giảng dạy từng mơn học.
Hiện nay, chị em giáo viên từ Mầm non đến THCS đều rất quan tâm đến xây
dựng nề nếp, kỷ cương trong dạy học, thường xun nghiên cứu đúc rút sang kiến
kinh nghiệm trong q trình cơng tác. Trong 5 năm qua, nữ CNVC LĐ ngành Giáo
dục Huyện đã có hang trăm sáng kiến kinh nghiệm được cơng nhận và áp dụng vào
thực tiễn, hàng ngàn đồ dùng dạy học được chế tạo và sử dụng.
1.3 Phong trào “GVT-ĐVN” có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội.
Trong 5 năm qua đã có 43 chị được học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý. Các
cấp, các ngành đã qua tâm tạo điều kiện cho chị em cả về thời gian, kinh phí học tập,
đào tạo đạt chuẩn ngành học Mầm non, ĐHMN 154 người với kinh phí huyện hỗ
trợ tổng cộng là 260 triệu đồng; ĐHTC Tiểu học huyện hỗ trợ kinh phí 270 triệu.
Các chị đều nhận thức được rằng muốn đạt danh hiệu “GVT-ĐVN” là phải làm tốt
chức năng quản lý, gương mẫu thực hiện các quy chế hoạt động của trường học, cơ
quan. Tỉ lệ nữ tham gia cơng tác quản lý trong cơ sở giáo dục đều tăng đáng kể,
chiếm 77,45%. Chính đội ngũ nữ tham gia cơng tác quản lý trong mỗi cơ sở giáo dục
đã trở thành hạt nhân của các phong trào thi đua dạy tốt – học tốt, phong trào phụ nữ
tích cực học tập lao động sáng tạo xây dựng gia đình hạnh phúc và cuộc vận động
Dân chủ - Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm, xây dựng gia đình nhà giáo văn
hóa, hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thơng qua cơng tác quản lý giúp
các chị tự tin và ngày càng đúc rút nhiều kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo phong
trào, bền bỉ chăm sóc, dạy dỗ học sinh biết u thương mọi người, đồn kết và giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ.
Trong nhiều năm qua với tinh thần tương thân tương ái, với những nghĩa cử cao
đẹp, phụ nữ tồn ngành trong huyện đã tích cực hưởng ứng các cuộc vận động hỗ trợ
những cơng đồn viên gặp khó khăn với hàng trăm triệu đồng cho quỹ vì người
Hiện nay, trong ngành có nhiều chị em do điều kiện, chưa xây dựng gia đình.
Có những chị sinh con một bề nhưng vẫn không sinh con thứ ba để nuôi dạy các
cháu và chăm sóc các thành viên trong gia đình tốt hơn. Có thể nói cho dù ở bất kỳ
hoàn cảnh nào, ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, phụ nữ ngành Giáo dục trong
toàn Huyện luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Chị em
luôn phấn đấu vươn lên đạt chuẩn và vượt chuẩn về trình độ đào tạo, sẵn sàng chia sẻ
với đồng nghiệp, tận tụy với nghề, giúp đỡ học sinh vươn lên, góp phần không nhỏ
vào quá trình đào tạo lớp người mới có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong
thời kỳ hội nhập. Phong trào xây dựng nhà giáo văn hoá được nữ CNVC, LĐ toàn
ngành hưởng ứng, 5 năm qua có 99,92% gia đình nữ nhà giáo đạt gia đình văn hoá
và 99,83 % cá nhân có nếp sống văn minh nơi công sở.
2. Những tấm gương tiêu biểu trong phong trào “GVT-ĐVN”
Chúng ta vô cùng tự hào về những tấm gương nhà giáo tiêu biểu trong công tác
giảng dạy. Nhìn lại quá trình tổ chức và triển khai phong trào, đã xuất hiện nhiều tập
thể lao động tiên tiến, cá nhân đạt chiến sĩ thi đua , danh hiệu “GVT-ĐVN”.
Phụ nữ toàn ngành của huyện có nhiều cố gắng trong công tác quản lý đơn vị.
Chị Nguyễn Thị Xim, Hiệu trưởng trường TH Tân Lập A, chị Nguyeãn Thò Sen,
Hiệu trưởng trường MN Thuận Lợi, Chị Nguyeãn Thò Tân, Hiệu trưởng trường
THCS Tân Phú, Chị Hứa Thị Phước, Hiệu trưởng trường MN Sơn Ca là những tấm
gương mẫu mực trong công tác quản lý, với tâm huyết nghề nghiệp, các chị đã lãnh
đạo nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục có hiệu quả, xây dựng trường đạt
chuẩn Quốc gia. Sự thành công của các chị là ở chỗ, cán bộ giáo viên đều rất phấn