Tóm tắt luận án Tiến sĩ: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số nước Đông Âu - Pdf 58

­ 1 ­

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Châu Âu nói chung và Đông Âu nói riêng năm 2016 trải qua nhiều sự kiện bất  
ổn đã ảnh hưởng trực tiếp lên quá trình phục hồi kinh tế của cả khu vực. Khủng  
bố  liên tiếp xảy ra tại Pháp, Đức, Bỉ; khủng hoảng người di cư  lớn nhất từ  sau  
Thế  chiến thứ  II khiến cho tình hình an ninh  ở  EU vốn được đánh giá là an toàn  
nhất trên thế  giới trở  nên xáo trộn. Brexit, trưng cầu dân ý tại Italia, chiến tranh  
Syria, căng thẳng Nga ­ Ukraine đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, tự 
do thương mại khu vực Châu Âu.
Đối với thị  trường các nước Đông Âu, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam  
sang thị  trường một số  nước Đông Âu đã tăng từ  698,6 triệu USD năm 2007 lên 
1488,7 triệu USD năm 2011 và tăng lên 5743,2 triệu USD năm 2016. Trong đó, xuất  
khẩu sang thị  trường Slo­va­kia tăng từ  82,1 triệu USD năm 2007 lên 297,6 triệu  
USD năm 2011 và tăng lên 3.197,5 triệu USD năm 2016; thị  trường Ba Lan tăng từ 
375,4 triệu USD năm 2007 lên 779,7 triệu USD năm 2011 và tăng lên 1.650,0 triệu  
USD năm 2016; tiếp đến là thị trường Cộng hòa Séc tăng từ 198,2 triệu USD năm  
2007 lên 375,4 triệu USD năm 2011 và tăng lên 771,5 triệu USD năm 2016 và thị 
trường Hung­ga­ri tăng từ  51,9 triệu USD năm 2007, giảm xuống còn 36,0 triệu 
USD năm 2011 và tăng lên 124,3 triệu USD năm 2016.
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  các nước Đông Âu cũng tăng từ 
168,5 triệu USD năm 2007 lên 310,9 triệu USD năm 2011 và tăng lên 445,7 triệu 
USD năm 2016. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ  thị trường Ba Lan tăng từ 68,3 
triệu USD năm 2007 lên 130,3 triệu USD năm 2011 và tăng lên 236,0 triệu USD  
năm 2016; thị trường Séc từ 65,9 triệu USD năm 2007 giảm xuống còn  44,9 triệu  
USD năm 2011 và tăng lên 93,3 triệu USD năm 2016; tiếp đến là thị trường Cộng  
hòa Slo­va­kia tăng từ  2,9 triệu USD năm 2007 lên 13,9 triệu USD năm 2011 và 
tăng lên 40,5 triệu USD năm 2016 và thị trường Hung­ga­ri tăng từ 31,5 triệu USD  
năm 2007, tăng lên 45,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 76,1 triệu USD năm 2016.

không ít khó khăn cho các doanh nghiệp và  ảnh hưởng không nhỏ  tới thúc đẩy 
xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thị trường một số nước Đông Âu nói riêng, 
như: thời gian kê khai thuế vẫn còn quá lớn; thủ tục hải quan vẫn còn nhiều điểm  
"vướng",…
Để có được cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc triển khai một cách có hiệu  
quả các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới nói chung  
và xuất khẩu sang khu vực thị  trường các nước Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slo­va­
kia, Hung­ga­ry và Ba Lan trong nhóm Visegrad nói riêng, nghiên cứu sinh lựa chọn 
đề tài luận án “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một  
số nước Đông Âu”. 
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
­ Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu và đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu  
hàng hóa của Việt Nam sang thị  trường  một số  nước  Đông Âu thời  kỳ  đến năm 
2025, tầm nhìn đến năm 2030.
­ Nhiệm vụ  cụ  thể:   (1) Làm rõ một số  vấn đề  lý luận về  thúc đẩy xuất  
khẩu hàng hóa đối với một quốc gia; (2) Nghiên cứu kinh nghiệm của một số 
nước về  các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang các thị  trường trong  
nhóm Visegrad và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong vi ệc thúc đẩy 
xuất khẩu hàng hóa của sang nhóm thị trường các quốc gia này; (3) Đánh giá thực 
trạng các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị  trường 
một số  nước Đông Âu giai đoạn 2011 ­ 2016; rút ra những  ưu điểm và kết quả 
đạt được chủ yếu; những hạn chế bất cập và nguyên nhân; (4) Đề xuất các quan 
điểm, định hướng và một số  giải pháp chủ  yếu nhằm  thúc đẩy xuất khẩu hàng 
hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu thời kỳ  đến năm 2025, 
tầm nhìn đến năm 2030.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án


­ 3 ­


bất cập và nguyên nhân để làm căn cứ, cơ sở cho các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu 
hàng hóa của Việt Nam sang 4 nước Đông Âu được lựa chọn trong thời gian tới.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng luận án đề xuất các giải pháp, kiến 
nghị  nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng  hóa  của Việt Nam sang thị  trường một số 
nước Đông Âu thời kỳ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
6. Kết cấu của Luận án
Ngoài lời mở  đầu, kết luận, tổng quan các công trình nghiên cứu, danh mục 
tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:


­ 4 ­

Chương 1: Một số  vấn đề  lý luận về  thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và 
bài học kinh nghiệm của một số quốc gia về thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.
Chương 2: Đánh giá thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt 
Nam sang thị trường một số nước Đông Âu giai đoạn 2011 – 2016.
Chương 3:  Quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu  
hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu thời kỳ  đến 
năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.


­ 5 ­

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Mặc dù qua tổng hợp tất cả các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan  
ở  trên (từ  đánh giá những thành tựu mà các công trình nghiên cứu đó đã giải  
quyết được, nhận định những hạn chế  còn chưa giải quyết đượ c) cho thấy, đã 
có rất nhiều công trình nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đã đề cập trực tiếp 
hoặc gián tiếp đến thúc đẩy xuất khẩu nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng  

nguồn thu ngoại tệ, tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa đất 
nước. 
­ Thúc đẩy xuất khẩu đồng nghĩa với việc gia tăng khả năng mở rộng mặt hàng  
và thị trường và nâng cao giá trị cho hàng hóa xuất khẩu, từ đó góp phần tích cực vào 
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất phát triển. 
­ Thúc đẩy xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ 
sản xuất tạo nguồn cung hàng hóa phục vụ  cho mục tiêu đa dạng hóa mặt hàng và 
thị trường xuất khẩu. 
­ Xuất khẩu hàng hóa nói chung và khả năng thúc đẩy xuất khẩu nhằm gia tăng  
về khối lượng cũng như giá trị hàng hóa xuất khẩu sẽ góp phần tích cực tới việc gia  
tăng về công ăn việc làm, góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống  
của xã hội. 
­ Thúc đẩy xuất khẩu góp phần củng cố  và thúc đẩy các quan hệ  kinh tế  đối  
ngoại của quốc gia.
­ Thúc đẩy xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố và đẩy mạnh 
hoạt động sản xuất ­ kinh doanh và tăng cường khả  năng xuất khẩu cho doanh 
nghiệp. 
1.2. NỘI DUNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ  TÁC ĐỘNG TỚI THÚC ĐẨY XUẤT 
KHẨU HÀNG HÓA
1.2.1. Nội dung của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa 


­ 7 ­

1.2.1.1. Những nội dung của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
(1) Chiến lược và chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ
* Chiến lược quốc gia:  Chiến lược phát triển thương mại quốc gia; Chiến  
lược xuất nhập khẩu quốc gia; Chiến lược đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế; 
Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ  (Chính sách mặt hàng;  Chính 
sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu; Chính sách thuế; Chính sách tỷ giá hối đoái; Chính 

biện pháp tổng thể sau đây: (1) Lồng ghép và điều phối các chương trình xúc tiến  
xuất khẩu nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện tiếp cận và phát triển thị  trường cho các 
doanh nghiệp. (2) Tăng cườnghợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo cơ hội và 
chia sẻ lợi ích kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu. (3) Tăng cường sự hỗ trợ, 
đóng góp tích cực của các cơ quan, tổ chức ở nước ngoài phục vụ cho mục tiêu thúc 
đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế quốc gia. (4) Tăng cường vai trò của các Hiệp 
hội ngành hàng đối với cộng đồng doanh nghiệp quốc gia.  (5) Tăng cường sự hiện 
diện quốc tế, tập trung thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu. (6) Tăng cường sự 
gắn kết giữa các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy đối với sự phát triển thương mại 
và xuất khẩu. (7) Tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ cho  
doanh nghiệp. (8) Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư và hỗ trợ tài 
chính, tín dụng nhằm thúc đẩy  xuất  khẩu cho các SMEs.  (9) Xây dựng và tăng 
cường công tác xúc tiến xuất khẩu theo định hướng chiến lược kinh doanh và định 
hướng chiến lược phát triển thị trường. 
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa 
1.2.2.1. Các yếu tố  thuộc về  quốc gia xuất khẩu:   (1) Nhận thức của các 
cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định và thực thi chính sách xuất khẩu; (2). Chiến lược  
phát triển kinh tế quốc gia; (3). Điều kiện tự nhiên, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh  


­ 9 ­

tranh; (4). Điều kiện kinh tế, thị trường; (5). Thể chế, chính sách phát triển thương  
mại; (6). Tình hình thị trường hàng hóa thế giới.
1.2.2.2. Các  yếu  tố  về  quốc tế  và  quốc gia nhập khẩu:  (1)  Tự  do hóa 
thương mại  và hội nhập kinh tế  quốc tế;  (2) Quan hệ  chính trị, kinh tế  thế  giới, 
những vấn đề mang tính toàn cầu; (3) Chính sách của các quốc gia nhập khẩu; (4) 
Yêu cầu về chính sách thương mại của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới.  
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  TRONG  THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG 
HÓA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

thương mại và đầu tư của mình, xây dựng các chính sách thúc đẩy xuất khẩu sang 
Ba Lan dựa trên các nỗ  lực hiện tại để  xem xét, sửa đổi và bổ  sung những công  
cụ, biện pháp mang tính cụ thể, rõ ràng hơn.
Chính phủ Trung Quốc đã triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất  
khẩu, như: chính sách hoàn thuế, chính sách tiền tệ, hỗ trợ lãi suất,… 
Nhìn chung, cả Trung Quốc và Ba Lan đang thực hiện tốt các chính sách thúc  
đẩy quan hệ  thương mại giữa hai bên. Hơn nữa, việc mình bạch hóa các chính  
sách thương mại giữa hai nước không chỉ  mang lại lợi ích cho phát triển quan hệ 
kinh tế kinh tế trực tiếp giữa hai nước, mà còn củng cố thuận lợi hóa thương mại  
trong bối cảnh xu hướng đa phương hóa đang diễn ra trên khắp các khu vực trên  
thế giới.
1.3.3. Bài học rút ra cho Việt Nam
1.3.3.1. Bài học có thể áp dụng
Thứ  nhất, Chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi hướng chính sách từ  trợ  cấp trực  
tiếp của các ngành công nghiệp và doanh nghiệp có chọn lọc sang chính sách định 
hướng chức năng như  hỗ  trợ  chung cho các hoạt động R&D. Ngoài ra, Chính phủ 
hỗ trợ việc xây dựng và vận hành các tổ chức xúc tiến hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu.  
Những chính sách và công cụ thúc đẩy xuất khẩu này cũng có thể được đưa ra bởi  
các nước đang phát triển khác. 
Thứ  hai,  phát huy tiềm năng và lợi thế  so sánh trong thúc đẩy xuất khẩu 
hàng hóa với bên ngoài. Tăng cường hợp tác đầu tư  chế biến sâu và đa dạng hóa  
sản phẩm xuất khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ra bên ngoài. Thực hiện 
ưu tiên chính sách ngoại giao kinh tế, tăng cường thăm viếng lẫn nhau của lãnh đạo 
hai bên và tăng  cường  hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư  cấp chính phủ.  
Ngoài ra,  Trung Quốc tăng cường thực hiện chính sách hoàn thuế  xuất khẩu hay 
giảm thuế xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. 
1.3.3.2. Bài học kinh nghiệm lưu ý để tránh
Thứ  nhất,  trong bối cảnh cán cân thương mại của Việt Nam tương đối cân bằng nếu 
không nói là chúng ta đã thường xuyên thâm hụt thương mại (mặc dù cán cân thương mại đã 
được cải thiện theo hướng bắt đầu thăng dư) thận trọng trong trong việc xem xét và sử  dụng 

giai đoạn 2012 ­ 2015 đạt 2,23%/năm. GDP của Slo­va­ki­a theo ngang giá sức mua  
đã tăng từ 145,1 tỷ USD năm 2012 lên 158,4 tỷ USD năm 2015. Tỷ trọng các ngành 
trong GDP như  sau: Nông nghiệp 3,4% ­ Công nghiệp 30,4% ­ Dịch vụ  66,2%. 
GDP bình quân đầu người tăng từ  26.800 USD/người/năm năm 2012 lên 29.500 
USD/người/năm năm 2015. 


­ 12 ­

­ Hung­ga­ri : Tốc độ  tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Hung­ga­ri 
trong giai đoạn 2012 ­ 2015 đạt 1,4%/năm. GDP của Hung­ga­ri theo ngang giá sức 
mua đã tăng từ 230,9 tỷ USD năm 2012 lên 257,0 tỷ USD năm 2015. 
2.1.2. Tổng quan về tình hình thương mại của 4 nước Đông Âu lựa chọn
­ Cộng hòa Ba Lan :  Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ba Lan tăng giảm thất 
thường trong giai đoạn 2011 ­ 2016. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 191 tỷ USD  
năm 2012 tăng lên 210,7 tỷ USD năm 2014 sau đó lại giảm xuống còn 190,2 tỷ USD  
năm 2015; Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm: Máy móc, thiết bị giao thông 37,8%,  
hàng hóa sản xuất trung gian 23,7%, hàng hóa sản xuất khác 17,1%, thực phẩm và 
động vật sống 7,6%. Các quốc  gia  nhập khẩu chính của Ba Lan gồm: Đức 27,1%, 
Anh 6,6%, Cộng hòa Séc 6,6%, Pháp 5.8%, Ý 4,7%, Hà Lan 4,3%, Nga 4,2% (2014).  
Tương tự kim ngạch nhập khẩu đạt 208,1 tỷ USD năm 2012 tăng lên 215,0 tỷ USD 
năm  2014 sau đó lại giảm xuống còn 187,5 tỷ  USD năm 2015; Các mặt hàng nhập 
khẩu chính gồm: Máy móc, thiết bị  giao thông 38%, hàng hóa sản xuất trung gian 
21%, hóa chất 15%, khoáng sản, nhiên liệu, dầu nhờn, và các sản phẩm liên quan 9%; 
Các thị trường nhập khẩu chính của Ba Lan gồm: Đức 28,0%, Nga 9,1%, Trung Quốc  
6,5%, Hà Lan 5,9%, Ý 5,5%, Pháp 4,2%, Cộng hòa Séc 4.2% (2014).
­ Cộng hòa Séc:  Kim ngạch xuất nhập khẩu của Cộng hòa Séc tăng nhanh 
trong giai đoạn 2011 ­ 2016. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cộng hòa Séc gồm: 
Máy móc và thiết bị vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất. Các quốc gia nhập  
khẩu chính gồm: Đức 32,4%, Slo­va­kia 8,4%, Ba Lan 6%, Anh 5,1%, Pháp 5,1%,  

khẩu chính gồm: Dức 25,5%, Nga 8,6%, Áo 6,8%, Trung Quốc 6,7%, Slo­va­kia 
5,8%, Ba Lan 4,9%, Ý 4,4%, Cộng hòa Séc 4,2% (2013).
2.2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ 
TRƯỜNG MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG ÂU
2.2.1. Khái quát về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số 
nước Đông Âu
­ Về  xuất khẩu:  Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường một số 
nước Đông Âu đã tăng từ 698,6 triệu USD năm 2007 lên 1488,7 triệu USD năm 2011  
và tăng lên 5743,2 triệu USD năm 2016. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Slo­va­
kia tăng từ 82,1 triệu USD năm 2007 lên 297,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 3.197,5  
triệu USD năm 2016; thị trường Ba Lan tăng từ 375,4 triệu USD năm 2007 lên 779,7  
triệu USD năm 2011 và tăng lên 1.650,0 triệu USD năm 2016; tiếp đến là thị trường 
Cộng hòa Séc tăng từ  198,2 triệu USD năm 2007 lên 375,4 triệu USD năm 2011 và  
tăng lên 771,5 triệu USD năm 2016 và thị  trường Hung­ga­ri tăng từ  51,9 triệu USD 
năm 2007, giảm xuống còn 36,0 triệu USD năm 2011 và tăng lên 124,3 triệu USD năm 
2016.
­ Về nhập khẩu:  Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước Đông Âu 
cũng tăng từ  168,5 triệu USD năm 2007 lên 310,9 triệu USD năm 2011 và tăng lên 
445,7 triệu USD năm 2016. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ  thị  trường Ba Lan 


­ 14 ­

tăng từ  68,3 triệu USD năm 2007 lên 130,3 triệu USD năm 2011 và tăng lên 236,0  
triệu USD năm 2016; thị  trường Cộng hòa Séc từ  65,9 triệu USD năm 2007 giảm 
xuống còn  44,9 triệu USD năm 2011 và tăng lên 93,3 triệu USD năm 2016; tiếp đến 
là thị  trường Cộng hòa Slo­va­kia tăng từ  2,9 triệu USD năm 2007 lên 13,9 triệu 
USD năm 2011 và tăng lên 40,5 triệu USD năm 2016 và thị trường Hung­ga­ri tăng từ 
31,5 triệu USD năm 2007, tăng lên 45,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 76,1 triệu 
USD năm 2016.

may, da giày và đồ  gỗ  (Bộ  trưởng Bộ Công Thương phê duyệt tại Quyết định số 
4842/QĐ­BCT ngày 09/12/2016).
(2). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xuất nhập khẩu hàng hóa 
­ Thời gian qua, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu 
đã có nhiều thay đổi, hoàn thiện với sự ban  hành và có hiệu lực của một loạt văn 
bản cấp Luật như: Luật Hải quan năm 2014, Luật sửa đổi, bổ  sung một số  điều 
của các Luật về thuế năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế 
tiêu thụ đặc biệt năm 2014, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, Luật 
sửa đổi, bổ  sung một số  điều của Luật Thuế  giá trị  gia tăng, Luật Thuế  tiêu thụ 
đặc biệt và Luật Quản lý thuế  năm 2016, Luật Đầu tư  năm 2014, Luật Ngoại  
thương,… Nghị định số 77/2016/NĐ­CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ 
sung một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng 
hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ  công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh  
doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. 
­ Về thủ tục hành chính và công tác kiểm tra chuyên ngành, Bộ Công Thương 
đã ban hành Thông tư  số  05/2016/TT­BCT ngày 06/6/2016 quy định về  việc cung 
cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ  Công Thương; Thông tư số  23/2016/TT­BCT 
ngày   12/10/2016   bãi   bỏ   Thông   tư   số   37/2015/TT­BCT   ngày   30/10/2015   của   Bộ 
trưởng Bộ  Công Thương quy định về  mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng 
formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ  thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt  
may; Quyết định số  3648/QĐ­BCT ngày 08/9/2016 công bố  Danh mục sản phẩm 
hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật,  
an toàn thực phẩm trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ  Công 
Thương thay thế  Quyết   định số  11039/QĐ­BCT; Thông tư  số  27/2016/TT­BCT 
ngày 05/12/2016 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật quy 
định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong một số lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý 
nhà nước của Bộ Công Thương,… 
­ Đối với hoạt động thương mại biên giới, để  khắc phục một số  tồn tại, 
vướng   mắc   tại   Thông   tư   số   52/2015/TT­BCT,   Bộ   Công   Thương   đã   ban   hành 
Thông tư  số  34/2016/TT­BCT quy định chi tiết  hoạt  động mua bán hàng hóa qua 

XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỘT SỐ 
NƯỚC ĐÔNG ÂU
2.3.1. Những kết quả đạt được
2.3.1.1. Đối với các chính sách thúc đẩy xuất khẩu
­ Về  chính sách xúc tiến thương mại:  Hoạt động XTTM đã được triển khai 
nhiều, đồng bộ và hiệu quả cao hơn.


­ 17 ­

­ Chương trình Thương hiệu Quốc gia: Hoạt động tuyên truyền quảng bá cho 
Chương trình và các doanh  nghiệp  có thương hiệu sản phẩm đạt thương hiệu 
quốc gia ngày càng được tăng cường. 
­ Chương trình Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín: Từ khi bắt đầu triển khai đến 
nay, chương trình Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín của Bộ  Công Thương đã nhận 
được hưởng  ứng tích cực từ  cộng đồng  doanh  nghiệp xuất khẩu trên cả  nước 
cũng như các cơ quan hữu quan, đóng góp hiệu quả vào công tác giới thiệu, tuyên 
truyền và quảng bá hình  ảnh các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam mang tầm 
quốc gia. 
2.3.1.2. Đối với chính sách hỗ  trợ  tài chính, tín dụng với tư  cách là các  
biện pháp góp phần thúc đẩy xuất khẩu
Về  cơ  bản, các quy định về  chính sách tín dụng đầu tư  của Chính phủ  đã  
khắc phục được những hạn chế, tồn tại trong chính sách cũng như  những khó 
khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách trong giai đoạn trước. Cụ 
thể:
Một là, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về tài chính, tín dụng hỗ trợ 
cho thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu sang thị  trường một số 
nước Đông Âu nói riêng. 
Hai là, cơ chế lãi suất được thực hiện theo nguyên tắc lãi suất cho vay không 
thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của ngân hàng. 

nói riêng. (4) Chính sách xúc tiến thương mại: hoạt động XTTM trên phạm vi cả 
nước vẫn ít đổi mới, thiếu một chiến lược XTTM chung  ở cấp quốc gia để  liên 
kết các hoạt động XTTM thành một tổng thể nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu 
của doanh nghiệp. (5) Chính sách bảo hiểm xuất khẩu: sự  phát triển của dịch vụ 
bảo hiểm xuất khẩu và năng lực của các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam  
hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. (6) Chính sách phát triển hạ tầng cho xuất khẩu  
và phát triển nguồn nhân lực: thực tế  các chính sách này cũng chưa thực sự  phát 
huy một cách có hiệu quả  trong việc hỗ  trợ  hoạt động xuất khẩu hàng hóa, tuy  
nhiên hoạt động bảo hiểm xuất khẩu của Việt Nam.
2.3.2.2. Hạn chế  trong vi ệc thu ận l ợi hóa thương mại:  Thứ  nhất,  thời 
gian kê khai thuế   vẫn còn quá lớn.  Thứ  hai, ngành Hải quan mặ dù đã có nhiều  
cải cách, tuy nhiên thủ  tục hải quan vẫn còn nhiều điểm "vướ ng". Ngoài ra, sự 
đồng bộ của các bộ, ngành trong việc hỗ tr ợ doanh nghi ệp tri ển khai thông quan 
cũng còn nhiều bất cập. Hệ thống hạ tầng vi ễn thông, đầu tư  cơ  sở  vật chất  ở 


­ 19 ­

nhiều nơi chưa đáp  ứng được yêu cầu đã làm hạn chế  việc thực hiện cải cách 
thủ tục hành chính về Hải quan,...
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan (thuộc về nhà nước): Trước hết, hình thức 
huy động vốn theo chiều sâu đối với các doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả. Triển  
khai thực hiện đồng bộ  các giải pháp của Chính phủ  và chỉ  đạo của NHNN về 
hỗ  trợ  DN phát triển.   Thứ  hai, chính sách khuyến khích cho vay đồng ngoại tệ 
nhằm nâng cao khả  năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.   Thứ  ba,  mặc dù chính 
sách tỷ giá hối doái chưa đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ một cách hợp lý  
các doanh nghiệp trong nước, ch ưa h ỗ  tr ợ  đấy mạnh hoạt động xuất khẩu các  
sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Thứ tư, hoạt động bảo hiểm tín dụng 
xuất khẩu của các ngân hàng và các tổ  chức tín dụng của Việt Nam còn nhiều  

thị trường các nước Đông Âu còn rất hạn chế.  Thứ bảy, lĩnh vực vận tải, logistics 
vẫn đang là trở ngại lớn để tăng kết nối giao thương Việt Nam với các nước Đông 
Âu. Thứ tám, xuất khẩu Việt Nam ngày càng tập trung vào thị trường lớn.  Thứ chín, 
các sản phẩm xuất khẩu của DN Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt 
về  giá cả, mẫu mã, bao bì, chất lượng... Thứ  mười, sự  mất cân đối giữa khu vực 
trong nước và FDI trong vấn đề  xuất khẩu. Mười một, vấn đề  liên kết với doanh 
nghiệp của các nước Đông Âu trong sản xuất, xuất khẩu, tiếp cận thị trường,  tận 
dụng ưu đãi, khắc phục thách thức hiện nay còn hạn chế.
2.3.3.3. Nguyên nhân khách quan (thuộc về  các nước nhập khẩu):  Thứ 
nhất, việc khai thác tiềm năng xuất khẩu sang từng thị  trường các nước Đông Âu  
(Ba Lan, Cộng hòa Séc, Cộng hòa S­lô­va­kia, Hung­ga­ri) của doanh nghiệp Việt  
Nam vẫn còn hạn chế. Thứ hai, các tiêu chuẩn của EU nói chung và các nước Đông 
Âu nói riêng đòi hỏi rất cao, ngoài ra các nước Đông Âu cũng ngày càng áp dụng 
nhiều hơn các rào cản kỹ  thuật trong thương mại nhằm hạn chế hàng xuất khẩu 
vào thị trường các nước này. Thứ ba, sự khác biệt về văn hóa, vấn đề chính trị của 
các nước thành viên EU nói chung và các nước Đông Âu nói riêng (vấn đề  khủng 
hoảng  ở  Thổ  Nhĩ Kỳ, vấn đề  Brexit,...) cũng  ảnh hưởng tới  phát triển xuất khẩu 
của Việt Nam. Thứ  tư, một số biện pháp của EU nói chung và các nước Đông Âu 
nói riêng quy định tiêu chuẩn cao hơn các hiệp định của WTO. Ngoài các quy định 
SPS, doanh nghiệp cần đáp ứng các quy định riêng của các hãng bán lẻ, bán buôn. 
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC 
ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỘT 
SỐ NƯỚC ĐÔNG ÂU
3.1. BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU 


­ 21 ­

HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG 

­ 22 ­

quá trình xử lý nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng và trì hoãn củng cố tài khóa sẽ gây  
thêm rủi ro tới  ổn định kinh tế  vĩ mô và tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt  
Nam. 
3.1.2.2. Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia và thực thi các  
cam kết trong Hiệp định thương mại tự  do, đặc biệt là Hiệp định thương  
mại tự do giữa Việt Nam ­ EU (EVFTA)
3.2. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 
CỦA VIỆT NAM SANG THỊ  TRƯỜNG MỘT SỐ  NƯỚC ĐÔNG ÂU THỜI 
KỲ ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
3.2.1. Quan điểm
Thứ  nhất,  phải coi thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị  trường một số 
nước   Đông   Âu   là   một   trong   những   biện   pháp  tốt   nhất   để   mở   rộng   quan   hệ 
thương mại với các nước khác trong khu vực EU và toàn thế giới.
Thứ  hai,  thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị  trường một số  nước Đông 
Âu phải căn cứ  vào đặc điểm, đặc thù của từng thị  trường để  có thể  xác lập  
được những phân khúc thị  trường xuất  khẩu  phù hợp với điều kiện của Việt 
Nam.
Thứ  ba,  chủ  động và có  ưu tiên trong xây dựng chiến lược thúc đẩy xuất 
khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu thời gian tới 
nhằm xây dựng và nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa và doanh nghiệp Việt  
Nam bởi đây là con đường cơ bản và lâu dài để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của  
Việt Nam sang các thị trường này.  
Thứ tư, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước Đông Âu phải  
trên cơ  sở  tạo điều kiện và phát huy tối đa được tính năng động của các doanh 
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp xuất khẩu. 
3.2.2. Định hướng 
Thứ  nhất,  vận dụng một cách đồng bộ  và có hiệu quả  các công cụ, chính  
sách của Nhà nước; đồng thời kết hợp nhịp nhàng giữa các chính sách của Nhà  

3.3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước
3.3.1.1. Hỗ  trợ  tài chính, tín dụng cho doanh nghiệp:   Giải pháp về  vốn 
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc  
tế;  Thứ  nhất,  huy động vốn từ  nội lực của các DN thông qua việc phát huy các  
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, tăng NSLĐ 


­ 24 ­

để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Đây được coi là hình thức huy  
động vốn theo chiều sâu đối với các doanh nghiệp; Thứ hai, phát triển thị  trường 
vốn thông qua việc nghiên cứu triển khai các giải pháp để  khuyến khích, đẩy 
nhanh quá trình cổ  phần hóa DNNN, phát hành cổ  phiếu không có quyền biểu 
quyết để  tăng khả  năng huy động vốn cho doanh nghiệp;  Thứ  ba,  khuyến khích 
các TCTD thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng cung  ứng cho DN thông  
qua phát triển ngân hàng bán lẻ, áp dụng công nghệ trong quản trị cho vay để  tối 
ưu hóa các chi phí và chuẩn hóa các hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng sản 
phẩm, dịch vụ cung cấp cho DN, phát triển thẻ thanh toán, mở rộng tài trợ vốn có 
bảo đảm bằng động sản, tài sản trí tuệ, bao thanh toán,… Thứ tư, triển khai thực 
hiện đồng bộ  các giải pháp của Chính phủ  và chỉ  đạo của NHNN về  hỗ  trợ  DN  
phát triển.
3.3.1.2. Hỗ trợ thanh toán cho doanh nghiệp
3.3.1.3. Chính sách tỷ giá hối doái (TGHĐ) phải liên tục được hoàn thiện  
và điều chỉnh thích ứng với môi trường trong nước và quốc tế thường: Một là,  
thường xuyên phân tích tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước để đề ra 
được  chính sách TGHĐ phù hợp cho từng giai đoạn;  Hai là,  hoàn thiện công tác 
quản lý ngoại hối  ở  Việt Nam; Ba là, hoàn thiện thị  trường ngoại hối Việt Nam  
để  tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu quả;   Bốn là,  
hoàn chỉnh thị  trường ngoại tệ liên ngân hàng, điều kiện cần thiết để  qua đó nhà  
nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, đồng thời qua đó thực 

của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu nhờ tận dụng tốt những cơ hội  
từ Hiệp định này. 
3.3.1.6. Cải thiện môi trường kinh doanh:  (1) Tiếp tục các nỗ lực trong hợp  
tác hành chính giữa Việt Nam và các nước Đông Âu. (2) Nâng cấp cơ  sở  hạ  tầng 
công nghệ thông tin quốc gia để triển khai có hiệu quả Quyết định số 33/2016/QĐ­
TTg ngày 19/8/2016 của Thủ  tướng Chính phủ  về  Quy chế  cung cấp, sử  dụng 
thông tin tờ  khai hải quan điện tử. (3) Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ  các nhà 
đầu tư, cũng như hoàn thiện các thể chế gia nhập và rút lui khỏi thị trường của các 
chủ  thể  kinh tế  trên cơ  sở  nghiên cứu triển khai ký kết các thỏa thuận về  thanh  
toán quốc tế qua ngân hàng với thị trường các nước Đông Âu bởi vì hàng hóa xuất  



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status