MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Chỉ tiêu
.......................................................................................................................................
20
KẾT LUẬN............................................................................................................30
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chỉ tiêu
.......................................................................................................................................
20
LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp.Tất
cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc
kìm hãm quá trình kinh doanh.Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động
kinh doanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân
tích tình hình tài chính cho tương lai. Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài
chính cho ta biết những điểm mạnh và yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cần phát huy và những nhược
điểm cần khắc phục. Qua đó các nhà tài chính có thể xác định được nguyên nhân
gây ra và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình
1.1.1. Khái niệm ,đối tượng phân tích tài chính.
1.1.1.1.Khái niệm.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm phương pháp, công cụ
theo một hệ thống nhất định cho phép thu nhập và xử lý các thông tin kế toán
cũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra những
đánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của
doanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cac hiệu quả sử dụng vốn củng như dự đoán trước những rủi ro
có thể xảy ra trong tương lai để đưa các quyết định xử lý phù hợp tủy theo mục
tiêu theo đuổi.
1.1.1.2.Đối tượng của phân tích tài chính.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các
hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua nghững công cụ tài
chính và vật chất.Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào
các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp. Các quan hệ tài chính có thể chia
thành các nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước.Quan hệ này
biệu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức :
Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định.
Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp hoặc tham gia với tư
cách người góp vốn.
5
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và
ty ,vong quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp …Từ đó ảnh hưởng
tới các quyết định tiếp tục đầu tư vào công ty trong tương lai.
Tất cả những cá nhân, tổ chức quan tâm nói trên đều có thể tìm thấy và
thỏa mãn nhu cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích
báo cáo tài chính cung cấp.
1.1.3. Tổ chức công tác phân tích tài chính.
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loại
hình tổ chức kinh doanh ỏe các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng
nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết
định.Công tác tổ chức phân tích phải làm sao thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu
thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau.
1.1.4. Các loại hình phân tích tài chính.
1.1.4.1. Căn cứ theo thời điểm kinh doanh.
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia thành 3 hình thức:
Phân tích trước khi kinh doanh.
Phân tích trong khi kinh doanh .
Phân tích sau khi kinh doanh .
1.1.4.2. Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo.
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm :
Phân tích thường xuyên.
Phân tích định kỳ.
1.1.4.3. Căn cứ theo nội dung phân tích.
a. Phân tích chỉ tiêu tổng hợp.
Phân tích theo chỉ tiêu tổng hợp là việc tổng kết tất cả các kết quả phân
tích để đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản
7
đưa ra các quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là
tăng trưởng,phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu.Đối với cho
vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư ,đối
cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp.
1.2.1.4.Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong các
doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
Bảng cân đối kế toán :Là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó.Nó được thành lập từ 2
phần : Tài sản và nguồn vốn.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:là một báo cáo tài chính tổng
hợp ,phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một
niên độ kế toán, dưới hình thái tiền tệ.Nội dung của báo cáo kết quả hoạt đông
kinh doanh có thể thay đổi nhưng phải phản ánh đươch 4 nội dung cơ bản là
:doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,
lãi lỗ.Số liệu trong báo cáo này cung cấp nhuengx thông tin tổng hợp nhất về
phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kì và chỉ ra rằng, các hoạt
động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn , đồng thời nó còn phản ánh
tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kihn nghiệm
quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính .
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện
pháp nhằm tiếp cận ,nghiên cứu các sự kiện,hiện tượng ,các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài
chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp ,
nhưng thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
1.2.2.1. Phương pháp so sánh.
9
10
2.1.
Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy
đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ
lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
2.2.
Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dự liệu và thúc đẩy nhanh
quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ.
2.3.
Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả
những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời
gian liên tục hoặc thời gian giai đoạn.
11
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN
2.1.2.Mô hình tổ chức công ty.
Là một công ty còn non trẻ trên thị trường, công ty TNHH chế biến thực
phẩm Đông Đô có cơ cấu tổ chức khá đạt hiệu quả, thông tin thuận chiều và
ngược chiều được truyền thông nhanh chóng qua các cấp quản trị để đưa ra
được những quyết định kịp thời ứng phó với mọi biến động trong sản xuất,
kinh doanh.
Giám đốc
Phó giám đốc
Bộ
phận
kinh
doanh
Bộ
Bộ
Bộ
Bộ
phận
phận
phận
phận
trong phạm vi quyền hạn của mình. Mọi nhân viên bán hàng được hưởng lương
thưo doanh số hàng hoá của mình bán ra.
Bộ phận kế toán bao gồm: kế toán trưởng, kế toán giá thành và thanh toán,
kế toán kho xưởng sản xuất, kế toán kho thực phẩm, kế toán tiền lương, kế
toán bán hàng. Bộ phận này có nhiệm vụ ghi chép đầy đủ, kip thời, đúng đắn
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các sổ thương vụ có liên quan.
Bộ phận kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, phụ trách các vấn đề về
kỹ thuật, cơ khí, kỹ thuật điện, vận hành sửa chữa thiết bị máy móc dùng trong
sản xuất kinh doanh.
Bộ phận văn phòng có nhiệm vụ tổ chức bố trí các hoạt động lễ tân, văn
thư, lưu trữ, soạn thảo văn bản, giấy tờ sử dụng trong nội bộ công ty và giao
dịch với bên ngoài.
Bộ phận điều hành sản xuất phụ trách các vấn đề giám sát, kiểm tra, tổ
chức mọi hoạt động sản xuất của công nhân, phụ trách các vấn đề về chất
lượng hàng hoá, Sản Phẩm, chất lượng nguyên vật liệu, đảm bảo mọi tiến độ
sản xuất trong công ty.
Phân xưởng SX bao gồm 4 tổ SX chủ yếu,mỗi một tổ, bộ phận được
chuyên môn hoá cao đảm bảo tay nghề của công nhân nâng cao theo thời gian,
năng suất công việc tăng lên, các tổ chức có quan hệ mật thiết chặt tạo thành
một chu trình sản xuất khép kín.
2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty.
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô là công ty TNHH có 2 thành
viên trở lên với ngành nghề kinh doanh là sản xuất, chế biến thực phẩm, buôn
bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu thụ, đại lý mua, đại lý bán, kính gửi hàng hoá,
môi giới thương mại. Hiện nay ngành nghề Sản xuất Kinh doanh chính là: Sản
xuất chế biến thực phẩm đông lạnh.
14
Năm 08
5372,9
15
Năm 09
2233,5
Năm 10
2613,8
1. Tài sản ngắn hạn
2. Tài sản dài hạn
II. Tổng nguồn vốn
1. Nợ ngắn hạn
2. Nợ dài hạn
3. Nguồn vốn CSH
4078,6
1294,3
5372.9
4091
1281,9
1002,7
1230,8
2233,5
900,9
1383.5
1384.3
0.8
Đặc biệt là năm 2008, vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhiều so với 0.
Mặc dù, năm 2009, công ty đã điều chỉnh lại cơ cấu nguồn vốn: vốn lưu động
thường xuyên lớn hơn 0, nhưng giá trị của nguồn vốn này nhỏ hơn nhiều so với
giá trị của nguồn vốn này trong 3 năm đầu. Và đến năm 2010, vốn lưu động
thường xuyên của công ty lại nhỏ hơn 0( chênh lệch so với giá trị 0 là không
đáng kể).
Vốn lưu động thường xuyên của công ty có xu hướng giảm qua các năm,
nguyên nhân của tình trạng này là:
Tài sản cố định là tài sản dài hạn duy nhất của công ty. Trong những năm
đầu hoạt động, do quy mô sản xuất còn nhỏ, hoạt động công ty chưa thật sự đi
vào ổn định, nên công ty chưa chú trọng việc đầu tư vào tài sản cố định ( giá trị
tài sản cố định là thấp). Những năm sau đó, công ty đẩy nhanh đầu tư vào tài
sản cố định ( tài sản cố định tăng mạnh).
Nguồn vốn dài hạn chỉ gồm nguồn vốn chủ sở hữu( vì công ty không tiến
hành vay dài hạn từ ngân hàng hay các tổ chức khác), mà nguồn vốn này có tăng
nhưng tăng không đáng kể qua các năm ( tăng do công ty dùng toàn bộ lợi nhuận
16
sau thuế để tái đầu tư, phần lợi nhuận này không nhiều).
Như vậy, tốc độ tăng của giá trị tài sản cố định cao hơn nhiều so với tốc
độ tăng của nguồn vốn dài hạn làm cho vốn lưu động thường xuyên của công ty
có xu hướng giảm qua các năm, làm tình hình tài chính của công ty có xu hướng
mất cân đối.
17
Qua bảng số liệu trên, ta thấy: Hệ số nợ năm 2009 và năm 2010 tuy đã
được cải thiện đáng kể hơn so với năm 2008, nhưng hệ số nợ năm 2010 lại cao
hơn hệ số nợ năm 2009; hơn nữa, hệ số nợ của công ty qua các năm đều cao
hơn nhiều so với mức trung bình của ngành. Có thể đây là chính sách tài chính
để khuyếch đại lợi nhuận của công ty song với hệ số nợ này, khả năng huy
động thêm vốn bằng con đường đi vay của công ty sẽ là khó khăn. Hơn thế nữa,
với hệ số nợ cao hơn so với mức trung bình của ngành, tức là công ty đã và đang
kinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm, vì có thể ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán của công ty, chỉ cần một sự giảm sút về doanh thu hoặc sự gia tăng
về chi phí có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được, đặc biệt nếu xét trong
điều kiện công ty mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2001.
b, Hệ số nợ dài hạn
Từ khi hoạt động cho đến nay, công ty hoàn toàn không tiến hành vay dài
hạn, cho nên hệ số nợ dài hạn của công ty luôn bằng 0. Còn mức trung bình của
ngành năm 2005 là 0,12; năm 2006 là 0,07 và năm 2007 là 0,09. Như vậy, công ty
dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho các tài sản dài hạn, đây là một sự đầu
tư mạo hiểm. Công ty nên thực hiện việc vay dài hạn để giảm bớt rủi ro trong
kinh doanh.
18
c, Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
Bảng số 4.2. Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn của công ty
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
1. Vốn CSH của công ty (trđ)
2. Tài sản dài hạn của công ty ( trđ)
3. Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
4. Tỷ suất tự tài trợ TS dài hạn trung bình của
Qua các số liệu trên ta thấy: Năm 2008, tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
bằng 0,99, tức là: chỉ có một phần tài sản dài hạn (có giá trị khoảng 6,4 triệu
đồng) được tài trợ bằng nguồn vốn vay. Hơn nữa, lại là nguồn vốn vay ngắn
hạn( công ty không có vay dài hạn), nên năm 2008, công ty kinh doanh với cơ
cấu vốn khá mạo hiểm. Năm 2009, tỷ suất này đã tăng lên và vượt qua so với 1,
tức là: toàn bộ tài sản dài hạn của công ty đều được tài trợ bằng nguồn vốn chủ
sở hữu, đây được coi là thành tích của công ty trong việc xác định cơ cấu vốn.
Nhưng đến năm 2010, công ty lại kinh doanh với cơ cấu vốn mạo hiểm, vì tỷ
suất tự tài trợ tài sản dài hạn lại nhỏ hơn so với 1, tuy mức độ đã giảm so với
năm 2008. Mặt khác, tỷ suất này đều nhỏ hơn nhiều so với giá trị trung bình của
ngành. Nên, có thể nói rằng: công ty đã và đang kinh doanh với cơ cấu vốn
không an toàn.
d, Tỷ suất đầu tư
Bảng số 5.2 Qui mô đầu tư vào tài sản cố định của công ty
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
1.Tài sản cố định của công ty( trđ)
2. Tổng tài sản của công ty( trđ)
3. Tỷ suất đầu tư tài sản cố định của
Năm 2008
1294.3
5372.9
0.24
công ty
19
Năm 2009
1230.8
Bảng số 6.2. Khả năng thanh toán tổng quát
Đơn vị:Triệu đồng
Chỉ tiêu
1. Tổng tài sản của công ty (trđ)
2. Nợ phải trả của công ty(trđ)
3. Hệ số khả năng thanh toán tổng
Năm 2008
5372.9
4091
Năm 2009
2233.5
900.9
Năm 2010
2613.8
1230.3
1.31
2.48
2.12
quát
20
1229.5
1230.3
0.999
1.99
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là
không ổn đình qua các năm cụ thể trong năm 2008 là 0.997 nhưng đến năm 2009
tăng lên 1.113 và đến năm 2010 lại giảm xuống là 0.999. Khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn của công ty năm 2009 cao hơn năm 2008 và thấp hơn mức trung
bình của ngành do nợ ngắn hạn giảm nhanh ( các khoản vay ngắn hạn giảm và
các khoản phải trả cho người bán cũng giảm mạnh). Đến năm 2010 thì khả
năng thanh toán ngắn hạn của công ty lại giảm so với năm 2009 và vẫn thấp
hơn mức trung bình của ngành. Sở dĩ có sự giảm xuống này là do nợ ngắn hạn
tăng nhanh, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán. Dù sự
giảm xuống về hệ số này của công ty là không đáng kể và chưa phải là biến
động lớn nhưng xu hướng này sẽ là không tốt xét về khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn.
c, Phân tích khả năng thanh toán nhanh.
21
Bảng số 8.2. Khả năng thanh toán nhanh của công ty
Đơn vị:Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
Năm
0.04
0.03
0.2
0.25
0.29
1. Tiền và các khoản tương đương tiền + ĐTTC
123.198
ngắn hạn
2. Tiền và các khoản tương đương tiền + ĐTTC 1105.92
ngắn hạn + Các khoản PT
3. Nợ ngắn hạn
4. Hệ số khả năng thanh Của công ty
Của ngành
toán nhanh tương đối
5. Hệ số khả năng thanh Của công ty
Của ngành
toán nhanh tức thì
7
4091
0.27
Qua bảng số liệu trên, ta thấy: Hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối
mới thấy hai hệ số này là quá chênh lệch .Hệ số thanh toán nhanh tức thì quá
nhỏ so với hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối và cũng quá nhỏ so với
hệ số của ngành. Như vậy chứng tỏ công ty đã cho bán chịu với một lượng
hàng khá lớn. Đó là biểu hiện không tốt mà công ty cần khắc phục.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH
CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐÔNG ĐÔ – HÀ NỘI.
2.3.1. Những kết quả đạt được qua việc phân tích các báo cáo tài chính
ở trên.
Những năm hoạt động vừa qua, tuy công ty thường xuyên phải chịu áp lực
cạnh tranh rất lớn từ thị trường( chủ yếu là từ các đổi thủ cạnh tranh lớn); quy
mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ ( tổng nguồn vốn nhỏ, trung bình là trên 2 tỷ
đồng ), lại phải đối mặt với sự gia tăng liên tục của giá cả các nguyên vật liệu
đầu vào của quá trình sản xuất( vì lạm phát của nền kinh tế đã lên đến hai con
số), nhưng công ty vẫn tiếp tục phát triển (hàng năm đều thu được lợi nhuận và
lợi nhuận năm sau thường cao hơn so với năm trước đó), và đã đạt được một số
thành tích về tài chính trong hoạt động kinh doanh.
23
Thành tích thứ nhất, năm 2009 và năm 2010, công ty đã điều chỉnh lại cơ
cấu nguồn vốn huy động ( cấu trúc nguồn vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu), góp
phần đảm bảo cấu trúc vốn kinh doanh an toàn hơn so với những năm trước.
Thành tích thứ hai, công tác kiểm soát việc sử dụng các tài sản trong công
ty được thực hiện ngày càng có hiệu quả và khá chặt chẽ hơn. Rút kinh nghiệm
từ quản lý kém các khoản phải thu và hàng tồn kho năm 2008, ( giá trị các khoản
phải thu chiếm 18% giá trị tổng tài sản; còn giá trị của hàng tồn kho chiếm 55%
giá trị tổng tài sản), năm 2009 và 2010, công ty đã tiến hành phân tích, đánh giá
lại quá trình kiểm soát việc sử dụng tài sản, để tìm ra nguyên nhân và từ đó, tìm
độ tăng của nguồn vốn dài hạn làm cho vốn lưu động thường xuyên của công ty
có xu hướng giảm qua các năm, làm tình hình tài chính của công ty có xu hướng
mất cân đối. Trong ba năm trở lại đây, công ty kinh doanh với cơ cấu vốn khá là
mạo hiểm, và sự phụ thuộc vào ngân hàng có xu hướng tăng lên. Cơ cấu vốn
năm 2008 của công ty mạo hiểm nhất, vì nguồn vốn chủ yếu được huy động từ
nguồn vốn ngắn hạn( chủ yếu là vốn chiếm dụng được từ nhà cung cấp), đây là
một cơ cấu vốn rất mạo hiểm vì có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của công ty, chỉ cần một sự giảm sút về doanh thu hoặc sự gia tăng về chi phí
có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được, đặc biệt nếu xét trong điều kiện
công ty mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2001. Mặc dù, 2 năm sau đó, công ty
đã điều chỉnh cơ cấu này nhưng công ty vẫn duy trì một cơ cấu vốn vẫn mạo
hiểm (về cơ bản hệ số vốn chủ sở hữu của công ty vẫn cao hơn so với hệ số
vốn chủ sở hữu trung bình của ngành).
Thứ hai, khả năng thanh toán của công ty mặc dù được cải thiện so với các
năm trước đó, nhưng nhìn chung là vẫn thấp hơn so với mức bình quân của
ngành. Tuy nhiên khi so sánh hệ số khả năng thanh toán nhanh tức thì với khả
năng thanh toán nhanh tương đối ta mới thấy hai hệ số này là quá chênh lệch.
Hệ số thanh toán nhanh tức thì quá nhỏ so với hệ số khả năng thanh toán nhanh
tương đối và cũng quá nhỏ so với hệ số của ngành. Như vậy chứng tỏ công ty
đã cho bán chịu với một lượng hàng khá lớn. Đó là biểu hiện không tốt mà công
ty cần khắc phục.
25