Luận văn tốt nghiệp: Phân tích tài chính và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Đông Đô - Pdf 59

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 
 Chỉ tiêu                                                                                                                                        
 
.......................................................................................................................................
    
 20

KẾT LUẬN............................................................................................................30


DANH MỤC BẢNG BIỂU

 Chỉ tiêu                                                                                                                                        
 
.......................................................................................................................................
    
 20


LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp.Tất  
cả  các hoạt động kinh doanh đều  ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh  
nghiệp,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc 
kìm hãm quá trình kinh doanh.Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động 
kinh doanh có hiệu quả  các nhà quản trị  cần phải thường xuyên tổ  chức phân  
tích tình hình tài chính cho tương lai. Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài 
chính cho ta biết những điểm mạnh và yếu về  hoạt động sản xuất kinh doanh  
của doanh nghiệp cũng như  những tiềm năng cần phát huy và những nhược 
điểm cần khắc phục. Qua đó các nhà tài chính có thể xác định được nguyên nhân  
gây ra và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình 

1.1.1. Khái niệm ,đối tượng phân tích tài chính.
1.1.1.1.Khái niệm.
Phân   tích tài chính là một tập hợp các khái niệm phương pháp, công cụ 
theo một hệ  thống nhất định cho phép thu nhập và xử  lý các thông tin kế  toán 
cũng như  các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra những 
đánh giá chính xác, đúng đắn về  tình hình tài chính, khả  năng và tiềm lực của  
doanh   nghiệp,   giúp   nhà   quản   lý   kiểm   soát   tình   hình   kinh   doanh   của   doanh  
nghiệp, nâng cac hiệu quả  sử  dụng vốn củng như dự đoán trước những rủi ro  
có thể xảy ra trong tương lai để đưa các quyết định xử lý phù hợp tủy theo mục 
tiêu theo đuổi.
1.1.1.2.Đối tượng của phân tích tài chính.
   Để  tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các  
hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua nghững công cụ tài  
chính và vật chất.Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào 
các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp. Các quan hệ tài chính có thể chia 
thành các nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước.Quan hệ này 
biệu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc  
dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức :
­

Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định.

­Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp hoặc tham gia với tư 
cách người góp vốn.

5


Thứ  hai: Quan hệ  tài chính giữa doanh nghiệp với thị  trường tài chính và 

ty ,vong quay vốn, khả  năng phát triển của doanh nghiệp …Từ  đó  ảnh hưởng  
tới các quyết định tiếp tục đầu tư vào công ty trong tương lai.
Tất cả  những cá nhân, tổ  chức quan tâm nói trên đều có thể  tìm thấy và 
thỏa mãn nhu cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích 
báo cáo tài chính cung cấp.

1.1.3. Tổ chức công tác phân tích tài chính.
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loại 
hình tổ chức kinh doanh ỏe các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng 
nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế  hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết 
định.Công tác tổ  chức phân tích phải làm sao thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu 
thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau.
   1.1.4. Các loại hình phân tích tài chính.
    1.1.4.1. Căn cứ theo thời điểm kinh doanh.
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia thành 3 hình thức:
­ Phân tích trước khi kinh doanh.
­ Phân tích trong khi kinh doanh .
­ Phân tích sau khi kinh doanh .
  1.1.4.2. Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo.
 Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm :
­ Phân tích thường xuyên.
­ Phân tích định kỳ.
   1.1.4.3. Căn cứ theo nội dung phân tích. 
    a. Phân tích chỉ tiêu tổng hợp.
Phân tích theo chỉ  tiêu tổng hợp là việc tổng kết tất cả  các kết quả  phân  
tích để  đưa ra một số  chỉ  tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ  hoạt động sản 

7




đưa ra các quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là  
tăng trưởng,phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu.Đối với cho  
vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về  tài trợ đầu tư  ,đối 
cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp.
1.2.1.4.Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ  sở  được dùng để  phân tích hoạt động tài chính trong các  
doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
 Bảng cân đối kế toán :Là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính 
của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó.Nó được thành lập từ  2  
phần : Tài sản và nguồn vốn.
Báo cáo kết quả  hoạt  động kinh doanh:là một báo cáo tài chính tổng 
hợp ,phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả  kinh doanh trong một  
niên độ kế toán, dưới hình thái tiền tệ.Nội dung của báo cáo kết quả hoạt đông  
kinh doanh có thể  thay đổi nhưng phải phản ánh đươch 4 nội dung cơ  bản là 
:doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, 
lãi lỗ.Số  liệu trong báo cáo này cung cấp nhuengx thông tin tổng hợp nhất về 
phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kì và chỉ ra rằng, các hoạt 
động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay lỗ vốn , đồng thời nó còn phản ánh 
tình hình sử  dụng các tiềm năng về  vốn, lao động, kỹ  thuật và kihn nghiệm  
quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính .
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện 
pháp nhằm tiếp cận ,nghiên cứu các sự  kiện,hiện tượng ,các mối quan hệ  bên 
trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ  tiêu tài  
chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về  lý thuyết  có  nhiều phương  pháp phân tích tài chính doanh nghiệp , 
nhưng thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
1.2.2.1. Phương pháp so sánh.
9

10


2.1.

Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy  

đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ 
lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
2.2.

Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dự  liệu và thúc đẩy nhanh 

quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ.
2.3.

Phương   pháp   này   giúp   các   nhà   phân   tích   khai   thác   có   hiệu   quả 

những số  liệu và phân tích một cách hệ  thống hàng loạt tỷ  lệ  theo chuỗi thời  
gian liên tục hoặc thời gian giai đoạn.

 

          

11


CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN 


2.1.2.Mô hình tổ chức công ty.
Là một công ty còn non trẻ  trên thị  trường, công ty TNHH chế  biến thực  
phẩm Đông Đô có cơ  cấu tổ  chức khá đạt hiệu quả, thông tin thuận chiều và 
ngược chiều được truyền thông nhanh chóng qua các cấp quản trị  để  đưa ra  
được những quyết định kịp thời  ứng phó với mọi biến động trong sản xuất, 
kinh doanh.
Giám đốc
Phó giám đốc
Bộ 
phận 
kinh 
doanh

Bộ 

Bộ 

Bộ 

Bộ 

phận 

phận 

phận 

phận 


trong phạm vi quyền hạn của mình. Mọi nhân viên bán hàng được hưởng lương  
thưo doanh số hàng hoá của mình bán ra. 
Bộ phận kế toán bao gồm: kế toán trưởng, kế toán giá thành và thanh toán, 
kế  toán kho xưởng sản xuất, kế  toán kho thực phẩm, kế  toán tiền lương, kế 
toán bán hàng. Bộ  phận này có nhiệm vụ  ghi chép đầy đủ, kip thời, đúng đắn 
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các sổ thương vụ có liên quan.
Bộ phận kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, phụ trách các vấn đề về 
kỹ thuật, cơ khí, kỹ thuật điện, vận hành sửa chữa thiết bị máy móc dùng trong 
sản xuất kinh doanh.
Bộ  phận văn phòng có nhiệm vụ  tổ  chức bố  trí các hoạt động lễ  tân, văn  
thư, lưu trữ, soạn thảo văn bản, giấy tờ  sử  dụng trong nội bộ  công ty và giao  
dịch với bên ngoài.
Bộ  phận điều hành sản xuất phụ  trách các vấn đề  giám sát, kiểm tra, tổ 
chức mọi hoạt động sản xuất của công nhân, phụ  trách các vấn đề  về  chất 
lượng hàng hoá, Sản Phẩm, chất lượng nguyên vật liệu, đảm bảo mọi tiến độ 
sản xuất trong công ty.
Phân xưởng SX bao gồm 4 tổ  SX chủ  yếu,mỗi một tổ, bộ  phận  được  
chuyên môn hoá cao đảm bảo tay nghề  của công nhân nâng cao theo thời gian,  
năng suất công việc tăng lên, các tổ  chức có quan hệ  mật thiết chặt tạo thành 
một chu trình sản xuất khép kín.
2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty.
Công ty TNHH chế biến thực phẩm Đông Đô là công ty TNHH có 2 thành 
viên trở  lên với ngành nghề  kinh doanh là sản xuất, chế  biến thực phẩm, buôn  
bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu thụ, đại lý mua, đại lý bán, kính gửi hàng hoá, 
môi giới thương mại. Hiện nay ngành nghề Sản xuất­ Kinh doanh chính là: Sản  
xuất chế biến thực phẩm đông lạnh.

14




Năm 08
5372,9
15

Năm 09
2233,5

Năm 10
2613,8


1. Tài sản ngắn hạn
2. Tài sản dài hạn
II. Tổng nguồn vốn
1. Nợ ngắn hạn
2. Nợ dài hạn
3. Nguồn vốn CSH

4078,6
1294,3
5372.9
4091
­
1281,9

1002,7
1230,8
2233,5
900,9

1383.5
1384.3
­0.8

Đặc biệt là năm 2008, vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhiều so với 0.  
Mặc dù, năm 2009, công ty đã điều chỉnh lại cơ  cấu nguồn vốn: vốn lưu động 
thường xuyên lớn hơn 0, nhưng giá trị của nguồn vốn này nhỏ hơn nhiều so với  
giá trị  của nguồn vốn này trong 3 năm đầu. Và đến năm 2010, vốn lưu động 
thường xuyên của công ty lại nhỏ  hơn 0( chênh lệch so với giá trị  0 là không 
đáng kể).
Vốn lưu động thường xuyên của công ty có xu hướng giảm qua các năm, 
nguyên nhân của tình trạng này là:
­ Tài sản cố định là tài sản dài hạn duy nhất của công ty. Trong những năm 
đầu hoạt động, do quy mô sản xuất còn nhỏ, hoạt động công ty chưa thật sự đi  
vào ổn định, nên công ty chưa chú trọng việc đầu tư vào tài sản cố định ( giá trị 
tài sản cố  định là thấp). Những năm sau đó, công ty đẩy nhanh đầu tư  vào tài 
sản cố định ( tài sản cố định tăng mạnh).
­ Nguồn vốn dài hạn chỉ gồm nguồn vốn chủ sở hữu( vì công ty không tiến  
hành vay dài hạn từ ngân hàng hay các tổ chức khác), mà nguồn vốn này có tăng  
nhưng tăng không đáng kể qua các năm ( tăng do công ty dùng toàn bộ lợi nhuận  
16


sau thuế để tái đầu tư, phần lợi nhuận này không nhiều).
Như  vậy, tốc độ  tăng của giá trị  tài sản cố  định cao hơn nhiều so với tốc 
độ tăng của nguồn vốn dài hạn làm cho vốn lưu động thường xuyên của công ty  
có xu hướng giảm qua các năm, làm tình hình tài chính của công ty có xu hướng  
mất cân đối.

17

Qua bảng số  liệu trên, ta thấy: Hệ  số  nợ  năm 2009 và năm 2010 tuy đã 
được cải thiện đáng kể hơn so với năm 2008, nhưng hệ số nợ năm 2010 lại cao  
hơn hệ  số  nợ  năm 2009; hơn nữa, hệ  số  nợ  của công ty qua các năm đều cao  
hơn nhiều so với mức trung bình của ngành. Có thể  đây là chính sách tài chính 
để  khuyếch đại lợi nhuận của công ty song với hệ  số  nợ  này, khả  năng huy 
động thêm vốn bằng con đường đi vay của công ty sẽ là khó khăn. Hơn thế nữa, 
với hệ số nợ cao hơn so với mức trung bình của ngành, tức là công ty đã và đang  
kinh doanh trong cơ  cấu vốn mạo hiểm,  vì có thể   ảnh hưởng đến khả  năng 
thanh toán của công ty, chỉ cần một sự giảm sút về  doanh thu hoặc sự gia tăng 
về  chi phí có thể   ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được, đặc biệt nếu xét trong  
điều kiện công ty mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2001.
b, Hệ số nợ dài hạn
Từ  khi hoạt động cho đến nay, công ty hoàn toàn không tiến hành vay dài 
hạn, cho nên hệ số nợ dài hạn của công ty luôn bằng 0. Còn mức trung bình của 
ngành năm 2005 là 0,12; năm 2006 là 0,07 và năm 2007 là 0,09. Như vậy, công ty  
dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho các tài sản dài hạn, đây là một sự đầu  
tư mạo hiểm. Công ty nên thực hiện việc vay dài hạn để giảm bớt rủi ro trong  
kinh doanh.

18


c, Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
Bảng số 4.2. Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn của công ty
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
1. Vốn CSH của công ty (trđ)
2. Tài sản dài hạn của công ty ( trđ)
3. Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
4. Tỷ suất tự tài trợ TS dài hạn trung bình của 

Qua các số  liệu trên ta thấy: Năm 2008, tỷ  suất tự  tài trợ  tài sản dài hạn 
bằng 0,99, tức là: chỉ  có một phần tài sản dài hạn (có giá trị  khoảng 6,4 triệu 
đồng) được tài trợ  bằng nguồn vốn vay. Hơn nữa, lại là nguồn vốn vay ngắn  
hạn( công ty không có vay dài hạn), nên năm 2008, công ty kinh doanh với cơ 
cấu vốn khá mạo hiểm. Năm 2009, tỷ suất này đã tăng lên và vượt qua so với 1,  
tức là: toàn bộ tài sản dài hạn của công ty đều được tài trợ bằng nguồn vốn chủ 
sở  hữu, đây được coi là thành tích của công ty trong việc xác định cơ  cấu vốn.  
Nhưng đến năm 2010, công ty lại kinh doanh với cơ  cấu vốn mạo hiểm, vì tỷ 
suất tự tài trợ tài sản dài hạn lại nhỏ hơn so với 1,  tuy mức độ  đã giảm so với  
năm 2008. Mặt khác, tỷ suất này đều nhỏ hơn nhiều so với giá trị trung bình của 
ngành. Nên, có thể  nói rằng: công ty đã và đang kinh doanh với cơ  cấu vốn 
không an toàn.
d, Tỷ suất đầu tư 
Bảng số 5.2  Qui mô đầu tư vào tài sản cố định của công ty
                                                                                           Đơn vị: Triệu đồng 
Chỉ tiêu
1.Tài sản cố định của công ty( trđ)
2. Tổng tài sản của công ty( trđ)
3. Tỷ suất đầu tư tài sản cố định của 

Năm 2008
1294.3
5372.9
0.24

công ty 
19

Năm 2009
1230.8

Bảng số 6.2. Khả năng thanh toán tổng quát
                                                                              Đơn vị:Triệu đồng  
Chỉ tiêu
1. Tổng tài sản của công ty (trđ)
2. Nợ phải trả của công ty(trđ)
3. Hệ  số  khả  năng thanh toán tổng 

Năm 2008
5372.9
4091

Năm 2009
2233.5
900.9

Năm 2010
2613.8
1230.3

1.31

2.48

2.12

quát

20



1229.5
1230.3
0.999
1.99

Qua bảng số  liệu trên ta thấy: Hệ số  khả năng thanh toán nợ  ngắn hạn là 
không ổn đình qua các năm cụ thể trong năm 2008 là 0.997  nhưng đến năm 2009 
tăng lên 1.113 và đến năm 2010 lại giảm  xuống là 0.999. Khả  năng thanh toán 
nợ  ngắn hạn của công ty năm 2009 cao hơn năm 2008 và thấp hơn  mức trung 
bình của ngành do nợ ngắn hạn giảm nhanh ( các khoản vay ngắn hạn giảm  và  
các khoản phải trả  cho người bán cũng giảm mạnh). Đến năm 2010 thì khả 
năng thanh toán ngắn hạn của công ty lại giảm so với năm 2009 và vẫn thấp  
hơn mức trung bình của ngành. Sở dĩ có sự giảm xuống này là do nợ  ngắn hạn  
tăng nhanh, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán. Dù sự 
giảm xuống về  hệ  số  này  của công ty là không đáng kể  và chưa phải là biến  
động lớn nhưng xu hướng này sẽ  là không tốt xét về  khả  năng thanh toán nợ 
ngắn hạn.
c, Phân tích khả năng thanh toán nhanh.
                  

21


Bảng số 8.2. Khả năng thanh toán nhanh của công ty
                                                                                           Đơn vị:Triệu đồng
Chỉ tiêu

Năm 

Năm 


0.04

0.03

0.2

0.25

0.29

1. Tiền và các khoản tương đương tiền + ĐTTC 

123.198
ngắn hạn
2. Tiền và các khoản tương đương tiền + ĐTTC  1105.92
ngắn hạn + Các khoản PT
3. Nợ ngắn hạn
4.   Hệ   số   khả   năng   thanh  Của công ty 
Của ngành
toán nhanh tương đối
5.   Hệ   số   khả   năng   thanh  Của công ty 
Của ngành
toán nhanh tức thì

7
4091
0.27

Qua bảng số liệu trên, ta thấy: Hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối 

mới thấy hai hệ  số  này là quá chênh lệch .Hệ  số  thanh toán nhanh tức thì quá 
nhỏ  so với hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối và cũng quá nhỏ  so với  
hệ  số  của ngành. Như  vậy chứng tỏ  công ty đã  cho bán chịu với  một lượng  
hàng khá lớn. Đó là biểu hiện không tốt mà công ty cần khắc phục.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ  TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH  
CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐÔNG ĐÔ – HÀ NỘI.

2.3.1. Những kết quả đạt được qua việc phân tích các báo cáo tài chính  
ở trên.
Những năm hoạt động vừa qua, tuy công ty thường xuyên phải chịu áp lực 
cạnh tranh rất lớn từ thị trường( chủ yếu là từ các đổi thủ cạnh tranh lớn); quy  
mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ  ( tổng nguồn vốn nhỏ, trung bình là trên 2 tỷ 
đồng ), lại phải đối mặt với sự gia tăng liên tục của giá cả các nguyên vật liệu  
đầu vào của quá trình sản xuất( vì lạm phát của nền kinh tế đã lên đến hai con 
số), nhưng công ty vẫn tiếp tục phát triển (hàng năm đều thu được lợi nhuận và 
lợi nhuận năm sau thường cao hơn so với năm trước đó), và đã đạt được một số 
thành tích về tài chính trong hoạt động kinh doanh.

23


Thành tích thứ  nhất, năm 2009 và năm 2010, công ty đã điều chỉnh lại cơ 
cấu nguồn vốn huy động ( cấu trúc nguồn vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu), góp  
phần đảm bảo cấu trúc vốn kinh doanh an toàn hơn so với những năm trước.
Thành tích thứ hai, công tác kiểm soát việc sử  dụng các tài sản trong công 
ty được thực hiện ngày càng có hiệu quả và khá chặt chẽ hơn. Rút kinh nghiệm  
từ quản lý kém các khoản phải thu và hàng tồn kho năm 2008, ( giá trị các khoản 
phải thu chiếm 18% giá trị tổng tài sản; còn giá trị của hàng tồn kho chiếm 55%  
giá trị tổng tài sản), năm 2009 và 2010, công ty đã tiến hành phân tích, đánh giá  
lại quá trình kiểm soát việc sử dụng tài sản, để tìm ra nguyên nhân và từ đó, tìm 

độ tăng của nguồn vốn dài hạn làm cho vốn lưu động thường xuyên của công ty  
có xu hướng giảm qua các năm, làm tình hình tài chính của công ty có xu hướng  
mất cân đối. Trong ba năm trở lại đây, công ty kinh doanh với cơ cấu vốn khá là  
mạo hiểm, và sự  phụ  thuộc vào ngân hàng có xu hướng tăng lên.  Cơ  cấu vốn 
năm 2008 của công ty mạo hiểm nhất, vì nguồn vốn chủ yếu được huy động từ 
nguồn vốn ngắn hạn( chủ yếu là vốn chiếm dụng được từ nhà cung cấp), đây là  
một cơ  cấu vốn rất mạo hiểm vì có thể   ảnh hưởng đến khả  năng thanh toán  
của công ty, chỉ cần một sự  giảm sút về  doanh thu hoặc sự gia tăng về  chi phí  
có thể   ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được, đặc biệt nếu xét trong điều kiện 
công ty mới đi vào hoạt động từ cuối năm 2001. Mặc dù, 2 năm sau đó, công ty 
đã điều chỉnh cơ cấu này nhưng công ty vẫn duy trì một cơ  cấu vốn vẫn mạo 
hiểm (về  cơ bản hệ số vốn chủ sở hữu của công ty vẫn cao hơn so với hệ số 
vốn chủ sở hữu trung bình của ngành).
Thứ hai, khả năng thanh toán của công ty mặc dù được cải thiện so với các  
năm trước đó, nhưng nhìn chung là vẫn thấp hơn so với mức bình quân của 
ngành. Tuy nhiên khi so sánh hệ  số  khả năng thanh  toán nhanh tức thì với khả 
năng thanh toán nhanh tương đối ta mới thấy hai hệ  số  này là quá chênh lệch.  
Hệ số thanh toán nhanh tức thì quá nhỏ so với hệ số khả năng thanh toán nhanh 
tương đối và cũng quá nhỏ  so với hệ  số của ngành. Như vậy chứng tỏ  công ty 
đã cho bán chịu với  một lượng hàng khá lớn. Đó là biểu hiện không tốt mà công  
ty cần khắc phục.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status