i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Nguyễn Thị Bích Loan
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Dương
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý kinh tế tại trường Đại học
Thương mại, bên cạnh sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được sự động viên,
hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo,
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Ban lãnh
đạo trường Đại học Thương mại, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, các thầy cô
giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học CH21N.QLKT
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm giúp đở về mọi mặt của Ban lãnh đạo Sở Tài
chính Hà Nam, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi hoàn thành khóa học.
Đặc biệt, tôi vô cùng trân trọng biết ơn PGS, TS. Nguyễn Thị Bích Loan, giáo
viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư thời gian và công sức nghiên cứu
hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết,
kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đọc thông cảm.
1.2.1. Nội dung cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước.........................13
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước.22
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước....24
1.3.1. Cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật của Nhà nước....................24
1.3.2. Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị......................................................25
1.3.3. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính...................26
1.3.4. Hệ thống kiểm soát tài chính tại địa phương........................................27
iv
1.3.5. Nhận thức của người lao động..............................................................28
v
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TẠI CÁC CƠ QUAN NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM...........................................................30
2.1. Khái quát về các cơ quan nhà nước và quá trình triển khai thực hiện cơ
chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn Tỉnh Hà Nam...............30
2.1.1. Hệ thống các cơ quan nhà nước của Tỉnh Hà Nam.............................30
2.1.2. Khái quát quá trình triển khai thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ
quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam......................................................34
2.2. Phân tích thực trạng cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước trên địa
bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014-2016.................................................................35
2.2.1. Thực trạng tự chủ về sử dụng biên chế.................................................35
2.2.2. Thực trạng tự chủ về sử dụng kinh phí quản lý hành chính................39
2.2.3. Thực trạng tự chủ trong sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết
kiệm được.........................................................................................................56
2.3. Phân tích ảnh hưởng các yếu tố đến cơ chế tự chủ trong các cơ quan nhà
3.3.1. Đối với các cơ quan ở Trung ương........................................................94
3.3.2. Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách...................................................95
KẾT LUẬN............................................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................98
PHỤ LỤC
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng biên chế trong các cơ quan nhà nước của tỉnh Hà Nam giai
đoạn 2014-2016......................................................................................................36
Bảng 2.2: Số lượng biên chế làm việc trong từng phòng,ban, đơn vị của Sở Tài
chính trong năm 2014- 2015..................................................................................37
Bảng 2.3: Đánh giá về cơ chế tự chủ về sử dụng biên chế đối với các cơ quan
nhà nước tại tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 – 2016...............................................38
Bảng 2.4: Cơ cấu chi QLHC trong tổng mức chi thường xuyên NSNN giai đoạn
2014-2016...............................................................................................................40
Bảng 2.5: Dự toán giao đầu năm kinh phí chi quản lý hành chính của các đơn
vị khối tỉnh giai đoạn 2014-2016...........................................................................42
Bảng 2.6: Kết cấu kinh phí chi QLHC được giao thực hiện tự chủ trong các cơ
quan nhà nước tại tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 - 2016.......................................44
Bảng 2.7: Kết cấu số thu được để lại của một số loại phí, lệ phí do cơ quan nhà
nước ở tỉnh Hà Nam thu năm 2015......................................................................48
Bảng 2.8: Kết cấu các nội dung chi trong kinh phí giao thực hiện tự chủ của Sở
Tài chính Hà Nam năm 2015................................................................................49
Bảng 2.9: Số liệu quyết toán kinh phí NSNN được giao thực hiện tự chủ năm
2015 của các cơ quan nhà nước khối Tỉnh...........................................................50
Bảng 2.10: Đánh giá cơ chế tự chủ về sử dụng kinh phí QLHC đối với các cơ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC
: Cán bộ công chức
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KP
: Kinh phí
KT-XH
: Kinh tế xã hội
NLĐ
: Người lao động
NSNN
: Ngân sách nhà nước
NS
: Ngân sách
QLHC
chuyên hoá, thực trạng biên chế ở các cơ quan vừa thừa lại vừa thiếu, do vậy, vừa
lãng phí vừa hạn chế hiệu quả công tác.
Thứ hai, mặc dù đã qua nhiều lần cải cách song thực trạng tiền lương, chính
sách tiền lương còn nhiều bất hợp lý, chưa đảm bảo công bằng. Tiền lương thực tế
của cán bộ công chức nhà nước là yếu tố hạn chế sức thu hút người có năng lực vào
làm việc ở các cơ quan nhà nước. Tình trạng chảy máu chất xám diễn ra ngay tại thị
trường trong nước.
Thứ ba, phương thức cấp phát kinh phí hành chính hiện nay còn nhiều hạn chế
dẫn đến tình trạng kinh phí NSNN bị sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp. Một số tiêu
chuẩn, định mức chi tiêu theo quy định cũ đã lạc hậu, thiếu cụ thể và không còn phù
hợp. Dự toán nhiều khoản chi thường xuyên ở các cơ quan hành chính thường được
tính theo đầu biên chế, dẫn đến việc ngầm khuyến khích các đơn vị xin tăng thêm
biên chế để được cấp kinh phí nhiều hơn.
2
Nhằm khắc phục được những tồn tại nêu trên, cơ chế tự chủ đối với các cơ
quan nhà nước đã ra đời, đánh dấu sự chuyển biến tích cực về mặt cơ chế, chính
sách. Cơ chế tự chủ được ban hành và đưa vào áp dụng sẽ góp phần khuyến khích
các đơn vị tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ công chức góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tăng thu
nhập cho người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.
Tại Hà Nam, trong 03 năm qua (2014-2016), với việc 100% các cơ quan nhà
nước trên địa bàn tỉnh đã được giao thực hiện theo cơ chế tự chủ đã góp phần tích
cực, tăng hiệu quả sử dụng NSNN trên địa bàn. Vơi tổng số chi thường xuyên
NSNN trong 03 năm lần lượt là 8.823 tỷ đồng, 9.915 tỷ đồng, 10.745 tỷ đồng, mức
kinh phí chi quản lý hành chính lần lượt là 726 tỷ đồng, 759 tỷ đồng, 850 tỷ đồng.
Có thể nhận thấy, bằng việc triển khai, thực hiện cơ chế tự chủ một cách đồng bộ đã
góp phần giúp tỷ trọng chi QLHC trong tổng chi NSNN đã giảm dần qua các năm,
đồng thời, các cơ quan nhà nước trên toàn tỉnh đã thực hiện tiết kiệm được 5,935 tỷ
phát triển, giảm áp lực phụ thuộc và ngân sách Nhà nước.
Bùi Tiến Dũng (2014), “Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
khoa học và công nghệ - Những vấn đề đặt ra” bài đăng trên Tạp chí tài chính số
2/2014. Bài báo đã phân tích các vấn đề cốt lõi trong cơ chế tài chính hiện nay của
các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập và đề xuất một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay. Tuy nhiên đề tài mới chỉ giới
hạn trong phạm vi tự chủ tài chính của các tổ chức khoa học công nghệ.
Trần Đức Cân (2012), “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường
đại học công lập ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận án đã làm rõ bản chất của tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính, phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ. Đồng thời, luận án cũng phân tích các
thực trạng, những thuận lợi, khó khăn của cơ chế tự chủ tài chính hiện nay từ góc
độ các trường đại học công lập. Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt,
tính công bằng, tính đồng thuận của các trường đối với cơ chế hiện hành, từ đó
đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính phù hợp với hoàn cảnh
của Việt Nam.
Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013), “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sĩ, Trường đại học Nông nghiệp Hà
Nội. Tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng việc sử dụng kinh phí Ngân sách
nhà nước cấp cũng như công tác quản lý sử dụng nguồn kinh phí từ nguồn thu thu
được tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện việc
4
thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Nhưng phạm vi nghiên cứu và đề xuất giải pháp
chỉ áp dụng trên khía cạnh một đơn vị.
Nguyễn Thị Kim Thương (2013), "Hoàn thiện cơ chế tự chủ tại cơ quan quản
lý hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập tại Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh
Thái Nguyên", Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Thái Nguyên. Luận văn đã nêu
lên hệ thống những vấn đề lý luận chung về cơ chế tự chủ trong các cơ quan nhà
nhà nước ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà
nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về cơ chế tự chủ đối với các
cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
+ Về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế tự
chủ của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong khoảng thời gian từ
2014 - 2016 và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ trong các cơ quan
nhà nước tại Tỉnh đến năm 2020.
+ Về nội dung: Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng cơ chế tự chủ đối với
các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam, luận văn đề xuất giải pháp hoàn
thiện cơ chế tự chủ trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn Tỉnh. Cơ chế tự chủ đối
với các cơ quan nhà nước bao gồm nhiều nội dung, luận văn giới hạn nghiên cứu
trong phạm vi cơ chế tự chủ về biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các
cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1. Đối với dữ liệu sơ cấp
Để có nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học
thông qua phỏng vấn và lập phiếu điều tra khảo sát. Mục đích của việc điều tra là để
đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành
chính đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam, mức độ chấp hành
pháp luật về cơ chế tự chủ trên địa bàn tỉnh, tính hợp lý của các chính sách về biên
chế nhân sự của các cơ quan nhà nước tại tỉnh….. Phiếu điều tra, các câu hỏi phỏng
vấn và cơ cấu mẫu phiếu điều tra được tác giả trình bày chi tiết trong phụ lục, kết
quả cụ thể như sau:
thông dụng để đánh giá các phiếu điều tra, so sánh các tỷ lệ của phiếu điều tra phục
vụ kết quả đánh giá cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà
Nam qua các năm.
Phương pháp thống kê mô tả: dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến
động cũng như xu hướng thay đổi của các số liệu, các tình hình sử dụng biên chế,
7
kinh phí qua các năm, số dự toán kinh phí giao đầu năm, kinh phí đề nghị bổ sung
và số quyết toán cuối năm.
Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ
bản của các thông tin đã thu thập được, luận văn sử dụng phương pháp quy nạp,
diễn dịch để đưa ra những đánh giá mang tính tổng quát và thực trạng cơ chế tự chủ
đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam, từ đó để ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ về biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với
các cơ quan nhà nước tại tỉnh trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Đề tài hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ trong
các cơ quan nhà nước; nhận dạng được các nhân tố ảnh hướng đến cơ chế tự chủ về
sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan nhà nước.
- Về thực tiễn:
+ Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ của các cơ quan nhà
nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đánh giá những kết
quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục và đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm
hoàn thiện cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
+ Việc nghiên cứu đề tài cũng giúp tác giả nâng cao được kiến thức về quản lý
nhà nước về kinh tế nói chung và về quản lý chi NSNN nói riêng, từ đó nâng cao
kiến thức chuyên môn, thực hiện tốt hơn công việc quản lý tài chính khối các cơ
quan nhà nước mà mình đang thực hiện.
xuất bản năm 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc
của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối.
Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những
nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những
quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực
hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Các cơ quan nhà nước có mối
quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà
nước. Để duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, đòi hỏi phải có các nguồn lực
tài chính đảm bảo để duy trì hoạt động bình thường của các cơ quan trong bộ máy
nhà nước. Các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công, được nhà nước
thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động.
Nói cách khác, cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước,
mang quyền lực Nhà nước, được thành lập, đảm bảo kinh phí hoạt động và có
9
thẩm quyền theo quy định của Pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng
của Nhà nước.
Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống tổng thể các phương pháp, các hình thức
và công cụ được vận hành để quản lý các hoạt động tài chính ở một chủ thể nhất
định nhằm đạt được những mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý tài chính là sản phẩm
chủ quan của con người trên cơ sở nhận thức sự vận động khách quan của phạm trù
tài chính trong từng giai đoạn lịch sử.
Cơ chế tự chủ trong các đơn vị hành chính thực chất là cơ chế quản lý mà ở đó
quyền định đoạt các vấn đề tài chính và biên chế của đơn vị gắn trách nhiệm thực
thi quyền định đoạt đó được đề cao. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên
chế và kinh phí quản lý hành chính là việc chuyển đổi phương thức quản lý cấp phát
và thanh, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các đơn vị hành
Từ các phân tích trên có thể hiểu: Cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước
là cơ chế mà theo đó các cơ quan nhà nước được trao quyền chủ động trong việc
kiệm kinh phí.
Thứ hai, phát huy quyền làm chủ của người lao động theo quy định trong mỗi
cơ quan đơn vị. Tại đây, người lao động trong cơ quan được tự do thảo luận, đóng
góp ý kiến về việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan; được công khai về dự toán
chi ngân sách nhà nước trong năm và quyết toán ngân sách nhà nước năm trước liền
kề của đơn vị mình; được bàn bạc và thông qua các tiêu chuẩn, định mức trong cơ
quan, các chế độ chi tiêu sẽ được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị,
làm căn cứ để thực hiện các nhiệm vụ chi sau này.
Ba là, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng hơn, giảm bớt thủ tục hành chính
rườm rà. Kết thúc năm ngân sách, đối với các khoản chi chưa sử dụng hết, đơn vị
lập tờ trình đề nghị chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng. Việc làm này sẽ
giúp làm giảm bớt thủ tục hành chính (thay vì nộp lại vào ngân sách nhà nước, năm
sau lại cấp phát lại, đơn vị được tiếp tục để lại kinh phí tại tài khoản của đơn vị
mình, chuyển nguồn ngân sách năm sau). Từ đó, giúp cho công tác lập dự toán ngân
sách nhà nước năm sau, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm trước được
đơn giản gọn nhẹ hơn, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng, nhanh gọn hơn.
Bốn là, quản lý tài chính trong cơ quan đều được công khai minh bạch thông
qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ trong cơ quan. Theo quy định, các cơ
quan nhà nước đều phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình trên cơ
sở các tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn trong cơ quan và phải
được công khai trong toàn cơ quan để mọi lao động trong đơn vị được biết. Trên cơ
sở các định mức chi, chế độ chi đã được quy định cụ thể, rõ ràng trong Quy chế,
11
việc chi tiêu kinh phí trong cơ quan nói riêng và việc quản lý tài chính tại đơn vị nói
chung sẽ đảm bảo được tính công khai, minh bạch.
Năm là, kinh phí trong năm sử đụng không hết được phép chuyển năm sau để
chi tiêu tiếp. Trước khi cơ chế tự chủ ra đời, kết thúc năm ngân sách, mọi khoản
quản lý hành chính được giao tự chủ. Đơn vị được quyền chủ động sắp xếp bộ máy,
điều động, phân công người lao động theo vị trí công việc nhưng vẫn phải đảm bảo
hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời, với quyền quyết định các mức chi bằng
hoặc thấp hơn so với tiêu chuẩn, định mức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành, chủ động sắp xếp thực hiện các nhiệm vụ, chủ động sử dụng kinh phí
được giao tự chủ với mục tiêu tiết kiệm kinh phí ngày càng nhiều nhưng vẫn phải
đảm bảo được tính hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ. Có như vậy mới phát huy
được vai trò của việc thực hiện cơ chế tự chủ trong các cơ quan nhà nước.
Thứ hai, không tăng biên chế và kinh phí quản lý hành chính được giao. Mục
tiêu của cơ chế tự chủ là phát huy quyền làm chủ của các cơ quan nhà nước, trao
quyền cho đơn vị trong sử dụng người lao động và kinh phí được giao, hướng đến
mục tiêu tiết kiệm kinh phí, giảm gánh nặng cho NSNN. Đi đôi với quyền làm chủ
của đơn vị là việc đơn vị không được tăng số lượng người làm việc và mức kinh phí
được giao, chỉ trừ một số trường hợp cần thiết điều chỉnh theo quy định của pháp
luật. Bởi lẽ, nếu không tuân thủ theo nguyên tắc này, đơn vị sẽ được khuyến khích
xin tăng biên chế, tăng số lượng người làm việc để làm tăng kinh phí được cấp cho
đơn vị mình. Điều này là đi ngược với mục tiêu tinh gọn bộ máy, nâng cao chất
lượng người lao động, giảm sự phụ thuộc cho NSNN. Chỉ tiêu biên chế chỉ được
xem xét điều chỉnh trong trường hợp sáp nhập, chia tách hoặc điều chỉnh nhiệm vụ
của cơ quan thực hiện chế độ tự chủ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
quản lý biên chế. Kinh phí quản lý hành chính được giao chỉ được xem xét điều
chỉnh trong trường hợp sau: Do điều chỉnh biên chế hành chính theo quyết định của
cấp có thẩm quyền; do điều chỉnh nhiệm vụ theo quyết định của cấp có thẩm quyền,
do nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, thay đổi các định mức phân bổ dự toán
NSNN, điều chỉnh tỷ lệ phân bổ NSNN cho lĩnh vực quản lý hành chính.
13
Thứ ba, thực hiện công khai, dân chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của
người lao động. Thông qua việc công khai dự toán ngân sách và quyết toán ngân
14
Thứ tư, căn cứ vào yêu cầu công việc và trong phạm vi nguồn kinh phí quản lý
hành chính được giao, Thủ trưởng đơn vị được hợp đồng thuê khoán công việc hoặc
hợp đồng lao động đối với các chức danh: bảo vệ, lái xe, tạp vụ, vệ sinh. Khi ký kết
hợp đồng lao động, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ phải đảm bảo chế độ cho người
lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Bên cạnh việc được chủ động sử dụng biên chế, chỉ tiêu biên chế của cơ quan
thực hiện chế độ tự chủ được xem xét, điều chỉnh trong trường hợp sáp nhập, chia
tách hoặc điều chỉnh nhiệm vụ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Cơ quan nhà nước cấp nào có thẩm quyền điều chỉnh nhiệm vụ hoặc quyết
định sáp nhập, chia tách tổ chức thì cơ quan ấy có trách nhiệm xem xét, điều chỉnh
biên chế. Căn cứ biên chế được điều chỉnh, cơ quan có thẩm quyền giao biên chế
theo quy định của nhà nước có trách nhiệm giao biên chế được điều chỉnh cho các
đơn vị thực hiện chế độ tự chủ trực thuộc.
1.2.1.2.
Tự chủ về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Kinh phí quản lý hành chính là khoản kinh phí nhằm đảm bảo cho hoạt động
cho các cơ quan nhà nước. Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đòi hỏi có các
nguồn lực tài chính đảm bảo để duy trì sự hoạt động bình thường của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công,
được Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động. Tại cấp tỉnh, kinh phí hoạt động của
các cơ quan nhà nước thuộc tỉnh do ngân sách tỉnh đảm bảo. Ở Việt Nam, trong mỗi
cơ quan nhà nước, kinh phí ngân sách nhà nước bao gồm kinh phí thực hiện tự chủ
và kinh phí được giao nhưng không thực hiện chế độ tự chủ. Trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn, tác giả chỉ tiếp cận phần kinh phí được giao thực hiện chế độ tự
chủ trong các cơ quan nhà nước do địa phương quản lý.
Hằng năm, khi xác định kinh phí giao đảm bảo hoạt động cho các cơ quan nhà
nhà nước đối với cơ quan thuộc địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương quyết định.
Việc xác định quỹ tiền lương và số kinh phí khoán chi hoạt động thường
xuyên của mỗi cơ quan nhà nước đều dựa trên số biên chế được cấp có thẩm quyền
phê duyệt. Số biên chế được giao làm căn cứ thực hiện khoán quỹ tiền lương và chi
thường xuyên theo định mức là số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở
vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Bên cạnh đó, số lao động hợp đồng làm
căn cứ xác định quỹ tiền lương là số lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền
giao trên cơ sở vị trí việc làm. Trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị trí
việc làm thì thực hiện khoán quỹ tiền lương trên cơ sở số lao động hợp đồng
16
không xác định thời hạn đối với một số chức danh theo quy định của pháp luật
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
*) Các khoản chi mua sắm tài sản, trang thiết bị phương tiện làm việc, sửa
chữa thường xuyên tài sản cố định. Hằng năm, khi thực hiện xây dựng dự toán và
thực hiện giao dự toán NSNN năm tiếp theo, phần kinh phí được cấp cho các nhiệm
vụ mua sắm tài sản, trang thiết bị phương tiện làm việc, sửa chữa thường xuyên tài
sản cố định (không bao gồm các nhiệm vụ chi mua sắm các tài sản cố định có giá trị
lớn, kinh phí sửa chữa lớn tài sản cố định, kinh phí thực hiện các đề án trang cấp
trang thiết bị và phương tiện làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt) được xác
định là kinh phí được giao thực hiện chế độ tự chủ. Đơn vị được quyền chủ động bố
trí kinh phí để sửa chữa, mua sắm cho phù hợp.
*) Các khoản chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường xuyên: Chỉ giao kinh
phí thực hiện chế độ tự chủ đối với những hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường
xuyên mà tại thời điểm phân bổ, giao dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo
quy định đã có dự toán chi tiết tính theo khối lượng công việc và tiêu chuẩn, chế độ
định mức quy định, được cơ quan chủ quản thẩm tra tổng hợp trong phương án
phân bổ giao dự toán.