1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên ngành,
nghiên cứu tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.
Nguyễn Thị Mùi.
Mọi thông tin và số liệu trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Cao Luân
2
MỤC LỤC
3
TỪ NGỮ VIẾT TẮT
EXIM BANK
EXIM BANK – Ba Đình
ĐCTC
HĐV
KH
NHNN
NHTƯ
NHTM
TCKT
TCTD
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Eximbank Ba đình.......................................................50
Bảng
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Eximbank Ba Đình giai đoạn 2013-2015...53
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ tín dụng tại Eximbank Ba Đình.........................................55
Bảng 2.3: Chất lượng tín dụng của EXIMBANK Ba Đình......................................56
Bảng 2.4: Thu dịch vụ thuần tại Eximbank Ba Đình...............................................57
Bảng 2.5: Kết quả kinh doanh qua tại Eximbank Ba Đình (2013-2015)..................58
Bảng 2.6 Tình hình hiệu quả huy động vốn của Eximbank Ba Đình giai đoạn........59
2013-2015................................................................................................................ 59
Bảng 2.7: Cơ cấu vốn huy động của Eximbank Ba Đình phân theo đối tượng huy
động......................................................................................................................... 60
Bảng 2.8: Cơ cấu vốn huy động của Eximbank – Ba Đình phân theo loại tiền.......62
Bảng 2.9: Cơ cấu vốn huy động của Eximbank Ba Đình phân theo kì hạn.............63
Bảng 2.10. Chi phí huy động vốn của Eximbank....................................................65
Bảng 2.11: Thu nhập từ hoạt động huy động vốn của..............................................66
EXIMBANK – Ba Đình..........................................................................................66
Bảng 2.12 Huy động và sử dụng vốn cho vay theo kỳ hạn......................................68
Bảng 2.13 Huy động và sử dụng vốn cho vay theo loại tiền....................................70
Bảng 2.14. Đánh giá của người hỏi về mức độ tin cậy của ngân hàng....................73
Bảng 2.15. Đánh giá của người hỏi về mức độ đáp ứng của ngân hàng..................75
Bảng 2.16. Đánh giá của người hỏi về năng lực phục vụ của ngân hàng.................76
Bảng 2.17. Đánh giá về mức độ đồng cảm của nhân viên NH.................................77
Bảng 2.18. Đánh giá của người hỏi về cơ sở vật chất của ngân hàng......................78
5
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng tín dụng các năm 2013-2015...........................................54
Nhận thức được điều này, trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại đã
chú trọng quan tâm hơn đến nhóm doanh nghiệp này, nhất là khi môi trường cạnh
tranh giữa các ngân hàng đang ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Với số lượng lớn và
nhu cầu về vốn cao để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và
vừa trở thành nhóm khách hàng mục tiêu của hầu hết các ngân hàng thương mại tại
nước ta hiện nay. Rõ ràng, một ngân hàng có thế mạnh trong việc huy động vốn thì
sẽ có nhiều thuận lợi trong việc phát triển dịch vụ, đẩy mạnh kinh doanh, mở rộng
thị trường vì vậy mỗi ngân hàng cần quan tâm thường xuyên đến công tác huy động
vốn, đáp ứng yêu cầu kinh doanh của bản thân ngân hàng và nhu cầu về vốn cho
nền kinh tế.
2
Với việc sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập thông qua
một số tài liệu như các số liệu do Phòng quản lý khách hàng (cá nhân và doanh
nghiệp), Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng quản lý rủi ro và các báo cáo tổng kết
năm của Ngân hàng thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Ba
Đình cung cấp cùng mong muốn đóng góp một phần kiến thức nhỏ bé của mình vào
lĩnh vực huy động vốn trong kinh doanh ngân hàng, do đó tôi lựa chọn đề tài “Giải
pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam, chi nhánh Ba Đình”
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Luận án: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại
trên địa bàn Hà Nội trong tiến trình hội nhập quốc tế” – Tác giả: Đàm Hồng
Phương –Đại học kinh tế quốc dân (2010). Ở luận án này, tác giả nghiên cứu một
khía cạnh khác của “vốn” đó là “hiệu quả sử dụng vốn”, nghĩa là làm thế nào để
đồng vốn huy động được sử dụng một cách có hiệu quả nhất, đem lại tối đa hóa lợi
ích nhất.
Tác giả nghiên cứu chung nhất về “nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” cho các
Ngoại thương Việt Nam một cách khá toàn diện, chỉ rõ tiêu chí đánh giá và đưa
ra kinh nghiệm nâng cao hiệu quả huy động vốn trong lĩnh vực ngân hàng tài
chính nói chung và của TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng. Tác giả đã
đánh giá thực trạng huy động vốn dựa trên phân tích các tiêu chí cụ thể, từ đó
đưa ra nhiều nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Tuy nhiên cũng giống như các đề tài
nghiên cứu ở trên, đề tài này vẫn chưa có sự đi sâu phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến huy động vốn của NHTM nói chung và của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam nói riêng.
Luận văn “Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội” – Tác giả: Trương Nam Hải - ĐH kinh tế quốc dân
(2011). Cũng giống như những luận văn trên, ở luận văn này, tác giả cũng chỉ đề
cập đến số lượng vốn huy động, làm thế nào để huy động được vốn với số lượng lớn
nhất, không đề cập đến hiệu quả của việc huy động đó.
Phạm vi tại BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội – chi nhánh nằm trên địa bàn đang
được chú trọng phát triển và mở rộng về dân cư, kinh tế và xá hội, có thể nói là địa
bàn khá mới mẻ và có nhiều tiềm năng phát triển.
4
Báo cáo tốt nghiệp “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
Công Thương chi nhánh Hoàng Mai ” – Tác giả: Lương Nguyễn Ngọc Hải – Học
viện Tài chính (2013)
Đề tài này đã đề cập đến “hiệu quả huy động vốn” phạm vi tại Ngân hàng
Công Thương chi nhánh Hoàng Mai một cách khái quát, chỉ rõ tiêu chí đánh giá và
đưa ra kinh nghiệm nâng cao hiệu quả huy động vốn trong lĩnh vực ngân hàng tài
chính nói chung và Ngân hàng Công Thương nói riêng. Tác giả đã đánh giá thực
trạng huy động vốn dựa trên phân tích các tiêu chí cụ thể tuy nhiên số liệu cách khá
xa so với thực tế nằm 2007- 2009, từ đó đưa ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả huy động vốn tại Ngân hàng Công Thương.
+ Về nội dung: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hiệu quả huy động vốn tại
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình
5.Phương pháp nghiên cứu đề tài
Dựa trên trên lý thuyết từ các giáo trình, sách, báo,….kết hợp với việc tham
khảo các nguồn dữ liệu từ khảo sát thực tế trực tiếp tại đơn vị:
+Thực hiện khảo sát trên phiếu điều tra trực tiếp gửi cho khách hàng đến gửi,
rút tiền cũng như các thủ tục thanh toán liên quan.
+Phát ra 150 phiếu điều tra, thu lại 124 phiếu hợp lệ xoay quanh các vấn đề
như: mức độ tin tưởng của khách hàng, mức độ phục vụ và cơ sở vật chất của
Ngân hàng
Quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương
pháp thống kê; Phương pháp phân tích, so sánh; Phương pháp tổng hợp, đánh giá
định lượng trên cơ sở thông tin sơ cấp thu thập được từ phiếu khảo sát điều tra thu
thập được để đạt được mục đích nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
Từ những vấn đề về lý luận hiệu quả huy động vốn nói chung và thực tế áp
dụng tại Ngân hàng cụ thể.
Đánh giá, phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
EXIMBANK chi nhánh Ba Đình.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình
6
thương mại tạo lập ra hoặc huy động được, dùng để đầu tư, cho vay, hoặc thực hiện
các hoạt động kinh doanh khác của mình.
Theo định nghĩa trên, vốn mà NHTM tạo lập được là một phần lợi nhuận hoặc
vốn góp của các cổ đông hàng năm, vốn huy động là một phần thu nhập quốc dân
tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, được chủ sở hữu
của khoản vốn đó gửi vào ngân hàng để thực hiện nhiều mục đích khác nhau. Nói
cách khác, họ chuyển quyền sử dụng khoản vốn cho Ngân hàng để rồi nhận một
khoản thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đó. Như vậy, NHTM đã thực hiện vai
trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dưới hình thức tiền tệ, kết quả là
làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh phát triển. Nguồn vốn mà Ngân hàng tạo lập và huy động được đã
góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của từng
8
doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đồng thời cũng chính
những hoạt động đó lại là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát
triển hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng.
1.1.1.2 Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, vì vậy vai trò của nguồn vốn đối với các
ngân hàng thương mại đầu tiên cũng sẽ quyết định đến quy mô, thế lực và khả năng
mở rộng quy mô của các ngân hàng. Từ góc độ kinh tế, có thể khái quát hóa các vai
trò của nguồn vốn này đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại dưới các
khía cạnh sau:
-Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng thương mại:
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được
thì phải có ba yếu tố: Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố
quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Riêng đối với ngân hàng thương mại với đặc trưng là kinh doanh tiền tệ, vốn lại
tín ngày càng cao.
-Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác
của Ngân hàng:
Vốn của Ngân hàng quyết định vấn đề mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
dụng. Thông thường, các Ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản mục
đầu tư, khối lượng cho vay nhỏ và kém đa dạng hơn. Do đó, khả năng thu hút vốn
của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư bị ảnh hưởng, thậm chí không đáp ứng
được nhu cầu vốn vay của doanh nhiệp. Điều đó khiến cho các Ngân hàng nhỏ sẽ
mất một số khách hàng và không tận dụng được toàn bộ các cơ hội kinh doanh.
Nếu là Ngân hàng lớn, nguồn vốn dồi dào chắc chắn họ sẽ đáp ứng được nhu cầu
về vốn, có điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanh nghiệp và thị
trường tín dụng.
-Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của
ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là
điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các
thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian,
thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều
10
đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ
tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây
cũng là điều kiện để bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng tổng hòa
các nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để
kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng
các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua, mua bán nợ, kinh
Vốn tự có của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng
lâu dài để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ lệ
nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi
thành lập một ngân hàng.
Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích khác
nhau như trang bị cơ sở vật chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu tư hay góp vốn
liên doanh… vốn tự có là căn cứ quyết định khả năng thanh toán khi Ngân hàng gặp
rủi ro. Sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định năng lực và sự phát triển của
ngân hàng thương mại. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình
thức tổ chức của ngân hàng thương mại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân
hàng thương mại cổ phần hay ngân hàng thương mại liên doanh…
Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm:
+ Vốn hình thành ban đầu:
Trước khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngânhàng phải
có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ).Tuỳ theo hình
thức sở hữu, do nhà nước cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, docổ đông đóng góp
nếu là ngân hàng cổ phần, do các bên đóng góp nếu là ngân hàng liên doanh và của
cá nhân nếu là ngân hàng tư nhân.
Vốn hình thành ban đầu là vốn điều lệ của NHTM. Theo quyết định số
327/QĐ- NH5 ban hành ngày 04/10/1997 của Thống đốc NHTM Việt Nam thì:
“ Vốn pháp định của NHTM là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân
hàng ”, còn “Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ đông đóng góp và được ghi
vào điều lệ hoạt đông của Ngân hàng”. Vốn điều lệ của Ngân hàng phải luôn lớn
12
hơn hoặc bằng vốn pháp định và có thể đươc hình thành từ nhiều nguồn vốn khác
nhau tùy thuộc vào hình thức sở hữu.
chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ
huy động vốn và được dùng làm vốn kinh doanh.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân hàng
chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng
thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.Vốn huy động đóng
vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành phần
kinh tế trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở rộng tín
dụng. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải dự
trữ một tỷ lệ hợp lí để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động gồm có: Vốn
tiền gửi và phát hành những giấy tờ có giá.
Ngân hàng có thể sử dụng nhiều công cụ huy động vốn khác nhau nhưng chủ
yếu là công cụ:
- Tiền gửi tiết kiệm:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu này (gửi
tiền để sử dụng séc, sử dụng thẻ rút tiền hoặc để thực hiện dịch vụ chuyển tiền, dịch
vụ LC hay dịch vụ nhờ thu).
Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi, gồm tiền gửi
thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý.
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá
nhân để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Ngân hàng thực hiện các nhu cầu chi
trả của doanh nghiệp và cá nhân trong phạm vi số dư cho phép. Các khoản thu bằng
tiền của doanh nghiệp và cá nhân có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu
cầu, với loại tiền gửi này lãi suất là rất nhỏ (huặc bằng 0)
Tiền gửi không kỳ hạn chỉ không ổn định với cá nhân còn đối với doanh
hàng và Ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi của các ngân hàng khác là nguồn tiền của các ngân hàng thường mài
gửi vào nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ hay một số mục đích khác.
15
Đây là nguồn vốn chính để ngân hàng kinh doanh tiền tệ, nó là một trong
những nguồn vốn ổn định nhất của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên tiền gửi có kỳ
hạn của doanh nghiệp chủ yếu là ngắn hạn vì doanh nghiệp hoạt động có chu kỳ,
khi nào tạm thời thừa vốn thì mới gửi ngân hàng. Mặt khác: Lãi suất huy động nhỏ
hơn lãi suất vay nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Nếu lãi suất
cho vay lớn hơn lãi suất huy động: Ngân hàng có lãi:
Nếu tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế
dài hạn nhằm bổ xung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư
trung dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo. Ngân hàng nào
có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường
khó vay mượn trực tiếp họ phải thông qua các ngân hàng đại lý hoặc đựoc bảo lãnh
của các ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn còn được phụ thuộc vào trình độ
phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài
hạn của ngân hàng.
Khi NHTM vay vốn của NHTW gọi là hình thức chiết khấu, tái chiết khấu để
bù đắp thiếu hụt trong thanh toán, bổ sung vốn dự trữ… Ngân hàng Nhà nước điều
17
hành việc vay mượn này một cách chặt chẽ, NHTM phải thực hiện các điều kiện
đảm bảo và kiểm soát nhất định .
d. Vốn khác.
Vốn khác là toàn bộ giá tị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua việc
cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư. Bao
gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác
Nguồn ủy thác là nguồn vốn mà ngân hàng có được nhờ thực hiện tốt các dịch
vụ của khách hàng đặc biẹt là dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán.
-Nguồn vốn này thường có chi phí rất thấp
-Tỷ trọng nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ và uy
tín của khách hàng.
Nguồn trong thanh toán: Nguồn này được hình thành từ các hoạt động thanh
toán không dùng tiền mặt như: Séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C
Những ngân hàng này là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ
tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
Nguồn khác: Là các khoản nợ như thuế chưa nộp, lương chưa trả vv.
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại tạo được một
các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Có các cách phân loại tiền gửi sau:
Thư nhất, căn cứ vào mục đích gửi tiền:
- Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi
vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho
phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều được ngân hàng
thực hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều có thể
được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Lãi suất của khoản tiền này rất
thấp, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ của ngân hàng
với mức phí thấp.
- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân
được gửi vào ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo quy định. Tiền gửi tiết kiệm là
bộ phận thu nhập bằng tiền của các cá nhân chưa sử dụng được gửi vào các tổ chức
tín dụng. Nó là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ, trong tiêu dùng cá nhân. Khi
gửi tiền người gửi được giao một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận tiền gửi vào
ngân hàng. Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một khoản tiền lãi trên
19
tổng số tiền lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm. Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Các tổ chức xã
hội hay các doanh nghiệp có nhiều khoản thu không phải thanh toán ngay nên ngân
hàng đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Loại tiền gửi này khách hàng không được
hưởng các dịch vụ như tiền gửi thanh toán nhưng lại được hưởng lãi suất cao hơn
tùy độ dài kỳ hạn. Nếu khách hàng cần tiền, họ có thể đến rút ra khi chưa đến hạn
và hưởng lãi suất không kỳ hạn.
- Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích thanh toán hộ và một số
mục đích khác, NHTM thường gửi tiền tại các NHTM khác. Quy mô loại tiền gửi
này thường không lớn.
trò quan trọng để duy trì các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Tiền gửi bằng ngoại tệ: bao gồm tiền gửi huy động bằng các loại ngoại tệ
như USD, EUR, …Các ngân hàng thu hút nguồn tiền gửi ngoại tệ nhằm phục vụ
cho hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ xuất khẩu, kinh doanh ngoại tệ trong nước.
Thứ tư , căn cứ theo đối tượng : Tiền gửi được chia thành tiền gửi của dân cư
và tiền gửi của các cá nhân, tổ chức xã hội
- Tiền gửi của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm
thời chưa sử dụng đến. Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều
có thể gửi tiết kiệm với mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết
kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm,
các ngân hàng đều khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại
nhà bằng cách ở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng
và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn ...
- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Các doanh nghiệp do
yêu cầu của hoạt đông sản xuất kinh doanh nên các đơn vị này thường gửi một khối
lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng tiện ích trong thanh toán. NHTM là một
trung gian tài chính, nó quan hệ với các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản,
nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có
sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải thanh toán nên ngân hàng
luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định, điều này lí giải vì sao ngân hàng huy động
được nhiều nguồn vốn nhất trong lĩnh vực này, có chi phí thấp và được sử dụng cho