luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện kim bảng tỉnh hà nam - Pdf 59

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn

MỤC LỤC


ii
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
3.3.1. Đối với Nhà nước:.......................................................................................................85
3.3.2. Đối với tỉnh Hà Nam:...................................................................................................86


iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Kim Bảng trong 3 năm (2014 2016)....................................................................................................................... 32
Biểu đồ 2.1 Tổng giá trị sản xuất của huyện Kim Bảng giai đoạn từ năm 2014 đến
năm 2016 (tính cả địa bàn).....................................................................................33
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng năm 2016..........................................33
Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Kim Bảng................................34
Bảng 2.3. Thu ngân sách huyện giai đoạn 2014-2016............................................35
Bảng 2.4. Cơ cấu vốn đầu tư XDCB........................................................................36
Bảng 2.5. Các dự án XDCB trên địa bàn huyện......................................................37
Bảng 2.6. Vốn đầu tư XDCB phân theo lĩnh vực, ngành kinh tế.............................39
Bảng 2.7. Tỷ lệ dự án được phê duyệt từ 2014-2016...............................................43
Bảng 2.8. Công trình, dự án đầu tư XDCB trong giai đoạn 2014 – 2016 phải điều
chỉnh, bổ sung dự toán............................................................................................44
Bảng 2.9. Các công trình, dự án trong giai đoạn 2014-2016 chậm tiến độ.............45

Xây dựng cơ bản
Ngân sách Nhà nước
Quản lý Nhà nước
Trung ương
Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân
Kinh tế xã hội
Doanh nghiệp


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở mỗi Quốc gia, để đánh giá được mức độ phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước nói chung, một trong những lĩnh vực được thể hiện và có vai trò quyết định
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho toàn xã hội đồng thời cũng là yếu tố cơ bản để
thúc đẩy sự hợp tác, liên kết và khai thác thế mạnh của từng địa phương đó là hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản (viết tắt là XDCB).
Đầu tư xây dựng cơ bản là lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đóng
vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, có đầu tư thì mới có phát
triển. Tuy nhiên đầu tư xây dựng cơ bản là lĩnh vực tương đối phức tạp, liên quan
đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan, đơn vị tham gia quản lý và thực
hiện. Quá trình thực hiện đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, phải sử dụng
một lượng vốn lớn, trong một thời gian tương đối dài, do đó đòi hỏi phải có sự quản
lý chặt chẽ về các mặt như môi trường, kỹ thuật, công nghệ, con người thực hiện....
Có thể khẳng định rằng đầu tư XDCB là hoạt động quan trọng tạo ra hệ thống
cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề cơ bản để thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là
một hoạt động đặc thù, phức tạp và luôn luôn biến động nhất là trong điều kiện môi

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay có nhiều tác giả đã nghiên cứu về đề tài quản lý nhà nước về
đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN:
* Luận án Tiến sĩ: ‘‘Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ
bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt Nam" của Nguyễn Thị
Bình, năm 2012. Luận án đưa ra cách tiếp cận mới về quản lý nhà nước đối với đầu
tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN theo năm khâu của quá trình đầu tư xây dựng cơ
bản, bao gồm quản lý nhà nước trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch; lập, thẩm
định, phê duyệt dự án; triển khai các dự án; nghiệm thu, thẩm định chất lượng, bàn
giao công trình; và thanh quyết toán. Tuy nhiên Luận án mới bàn đến vấn đề quản
lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN trong ngành giao thông vận tải nên còn một số vấn
đề còn bỏ ngỏ chưa đề cập đến đó là QLNN về đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN.
* Luận án Tiến sĩ: “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu
hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội” của tác giả Hồ Thị Hương Mai, năm 2015. Luận


3

án đưa ra cách tiếp cận mới về quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết
cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội, bao gồm QLNN trong lập kế hoạch vốn đầu
tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; tổ chức huy động vốn đầu tư;
phân bổ, thanh quyết toán vốn đầu tư; kiểm tra giám sát trong phát triển kết cấu hạ
tầng giao thông đô thị. Tuy nhiên Luận án mới bàn đến vấn đề QLNN về đầu tư
trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội nên còn một số vấn đề còn
chưa đề cập đến đó là QLNN về đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN như công tác tổ
chức bộ máy của nhà nước khi quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN, sự phối
hợp giữa các ban ngành chức năng để ra chiến lược và thực hiện chiến lược sử dụng
vốn một cách hiệu quả nhất.
* Luận án Tiến sĩ: “Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ
bản trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Trịnh Thị Thúy Hồng, năm 2012”

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác
quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách để đề xuất những giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn cần tập trung thực hiện các
nhiệm vụ chính sau đây:
* Hệ thống hóa lý thuyết nghiên cứu về QLNN đối với vốn đầu tư XDCB
từ NSNN.
* Phân tích, đánh giá thực trạng về QLNN về vốn đầu tư XDCB từ nguồn
NSNN nước tìm ra hạn chế, bất cập và phân tích nguyên nhân của những hạn chế ở
huyện Kim Bảng, Hà Nam.
* Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về vốn đầu tư
XDCB từ nguồn NSNN trên địa bàn huyện Kim Bảng, Hà Nam


5

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLNN về đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
tại huyện Kim Bảng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung toàn diện của QLNN về
đầu từ XDCB từ nguồn vốn NSNN của huyện Kim Bảng. Chủ thể nghiên cứu: cơ quan
QLNN cấp huyện; Đối tượng nghiên cứu: đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách nhà nước.
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đề tài

vốn ngân sách tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách tại huyện Kim Bảng,
tỉnh Hà Nam.


7

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1. Bản chất, vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
1.1.1. Khái niệm, phân loại đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất
các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây
dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định (TSCĐ).
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, nằm
trong giai đoạn thực hiện đầu tư. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây
dựng cơ bản (Từ khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt
thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng cá tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư
phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ
bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong
nền kinh tế. Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh
doanh nói riêng. Là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau

thuật) của vốn đầu tư
Theo cách phân loại này đầu tư XDCB bao gồm: đầu tư cho xây lắp, cho mua
sắm máy móc thiết bị và cho công tác XDCB khác.
Đầu tư cho xây lắp là các khoản chi để xây dựng, lắp ghép các kết cấu kiến trúc
và lắp đặt máy móc, thiết bị vào đúng vị trí, theo đúng thiết kế kỹ thuật đã được duyệt.
Đầu tư cho mua sắm máy móc thiết bị là những khoản chi hợp thành giá trị
của máy móc thiết bị đầu tư mua sắm nó, bao gồm: chi phí giao dịch hợp lý, giá trị
máy móc ghi trên hóa đơn, chi phí về vận chuyển, bốc xếp, chi phí về bảo quản, chi
phí về gia công tinh chế thiết bị kể từ khi mua sắm đến khi thiết bị được lắp đặt
hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng


9

Đầu tư về XDCB khác là những khoản chi nhằm đảm bảo điều kiện cho quá
trình xây dựng, lắp đặt và đưa vào sản xuất, sử dụng, bao gồm: chi phí chuẩn bị đầu
tư (chi phí xác định sự cần thiết phải xây dựng công trình, thăm dò thị trường, điều
tra khảo sát, lập nghiên cứu khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi), chi phí khảo sát,
lập thiết kế, dự toán công trình, chi phí cho ban quản lý công trình, chi phí chuyên
gia hướng dẫn thi công, chi phí dùng đất xây dựng, chi phí đền bù, hao mòn, đất
đai, di chuyển nhà cửa, chi phí khánh thành, nghiệm thu bàn giao công trình,...
* Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản theo cách bổ sung vốn lưu động cho các
doanh nghiệp nhà nước
Theo cách phân loại này đầu tư XDCB bao gồm: chi mua mới, cải tiến nâng
cấp tài sản cố định phục vụ cho công tác chuyên môn (ô tô, mô tô, xe chuyên dùng,
máy tính, fax, đường điện, cấp thoát nước,...), chi mua tài sản vô hình (quyền khai
thác khoáng sản tự nhiên, quyền đánh bắt hải sản, bằng phát minh sáng chế, bản
quyền thương hiệu thương mại, phần mềm máy tính, ứng dụng đề tài khoa học,...) và
chi để mua cổ phiếu. Cuối cùng là để chi mua vật tư hàng hóa dự trữ của nhà nước
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách

nơi thi công. Nhiều yếu tố tự nhiên có thể ảnh hưởng mà không lường trước được
như tình hình địa chất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất.
Mặt khác giá thành chi phí vật liệu nhân công thường xuyên thay đổi biến động theo
từng giai đoạn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội từng giai đoạn phát triển.
- Tạo ra tài sản cố định có giá trị sử dụng lâu dài: Thời gian xây dựng cơ bản
và thời gian tồn tại sản phẩm xây dựng cơ bản tồn tại lâu dài, Thời gian vận hành
kết quả đầu tư xây dựng tính từ khi đưa công trình vào khai thác sử dụng cho đến
khi hết thời hạn sử dụng. Có những tài sản cố định mang tính chất trường tồn theo
thời gian như: Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành
ở Trung Quốc... Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài như: Hệ thống
giao thông, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà ga...
- Liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: Do sản phẩm xây dựng thường
có quy mô lớn, cấu tạo phức tạp nên hoạt động đầu tư trong xây dựng cơ bản là quá
trình phối hợp của nhiều ngành, nhiều bộ phận do nhiều đơn vị cùng tham gia thực
hiện. Để thực hiện một dự án đầu tư xây dựng cơ bản thường có nhiều hạng mục,
nhiều giai đoạn. Trên một công trường xây dựng có thể có nhiều đơn vị tham gia,


11

các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian, thời gian, trong tổ chức thi
công cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Do đó
quy trình sản xuất quản lý, điều phối đòi hỏi tính cân đối, nhịp nhàng, liên tục giữa
các ngành, giữa các bộ phận.
1.1.2.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
* Đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách có những đặc điểm riêng. Những đặc
điểm có tính đặc thù cơ bản của đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách gồm:
- Vốn đầu tư XDCB thường rất lớn: Do các công trình được đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn này đa số là các công trình lớn, có tầm quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế xã hội nên cần một lượng vốn ban đầu tương đối lớn, thậm chí là rất

- Về mục tiêu đầu tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách thường ít nhắm
tới mục tiêu lợi nhuận trực tiếp. Nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế, trong khi đầu
tư XDCB của doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài thường đề cao lợi nhuận.
- Về môi trường đầu tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách thường diễn ra
trong môi trường thiếu vắng sự cạnh tranh. Và nếu có sự cạnh tranh thì cũng ít khốc
liệt hơn khu vực đầu tư khác.
- Việc định đoạt phạm vi đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách khác biệt với
việc xác định phạm vi đầu tư của doanh nghiệp ở chỗ nhà nước phải giữ vai trò điều
tiết, khắc phục thất bại thị trường, giải quyết vấn đề kinh tế xã hội cùng với việc
tính toán lợi ích chung. Trong lúc đó khu vực đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư
nước ngoài nhìn chung chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế.
Những đặc điểm trên đây cho thấy: để quản lý có hiệu quả công tác đầu tư
XDCB từ nguồn vốn ngân sách cần phải có một quy trình quản lý giám sát chặt chẽ
từ khâu đầu đến khâu cuối để chống lãng phí, thất thoát, tiêu cực.
1.1.3. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
Nhìn một cách tổng quát: đầu tư XDCB trước hết là hoạt động đầu tư nên
cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và
tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế , tăng cường
khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Ngoài ra, với tính chất đặc thù của mình, đầu tư XDCB là điều kiện trước tiên
và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền
kinh tế và với từng cơ sở sản xuất . Đó là :
Đầu tư XDCB đảm bảo tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương
thức sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm, yếu tố nhân lực,


13

vốn và điều kiện về địa điểm,… lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc thiết bị; nhà
xưởng. Đầu tư XDCB đã giải quyết vấn đề này.


hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền
kinh tế. Ví dụ: khi đầu tư tăng làm cho các yếu tố liên quan tăng, tăng sản xuất của
các ngành sẽ thu hút thêm lao động nâng cao đời sống. Mặt khác, đầu tư tăng, cầu
của các yếu tố đầu vào tăng, khi tăng đến một chừng mực nhất định sẽ gây ra tình
trạng lạm phát, nếu lạm phát mà lớn sẽ gây ra tình trạng sản xuất trì trệ, thu nhập
của người lao động thấp đi, thâm hụt ngân sách tăng, kinh tế phát triển chậm lại. Do
vậy khi điều hành nền kinh tế nhà nước phải đưa ra những chính sách để khắc phục
những nhược điểm trên.
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc làm, nâng cao
trình độ đội ngũ lao động. Trong khâu thực hiện đầu tư, số lao động phục vụ cần rất
nhiều đối với những dự án sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận
hành phải cần không ít công nhân, cán bộ cho vận hành khi đó tay nghề của người
lao động nâng cao, đồng thời những cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trong
quản lý, đặc biệt khi có các dự án đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, tác động đến sự phát triển các doanh nghiệp: Đầu tư XDCB nhằm xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài
nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư xây dựng cơ bản giúp
các doanh nghiệp có cơ hội sản xuất kinh doanh tìm kiếm và tạo ra lợi nhuận.
1.2. Lý luận cơ bản về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
1.2.1. Khái niệm, sự cần thiết khách quan của quản lý đầu tư xây dựng cơ
bản từ nguồn vốn ngân sách
1.2.1.1 Khái niệm
- Khái niệm quản lý: Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ
tính chất xã hội của lao động. Thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau
tùy theo góc độ tiếp cận. Theo nghĩa chung, quản lý là sự tác động có mục đích của
chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra. Về
cơ bản, quản lý được mọi người cho là hoạt động do một hoặc nhiều người điều
phối hành động của những người khác nhằm thu được hiệu qủa mong muốn. Tuy

đúng chức năng vốn có của nó.
- Ba là, do yêu cầu phải chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB vì vậy
rất cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước nếu không tình trạng tham nhũng sẽ


16

xảy ra. Đã có nhiều công trình khi thực hiện quá trình đầu tư kéo dài nhiều năm gây
tổn thất về kinh tế bằng kéo dài thời gian đầu tư và đội giá thầu trong khi vốn ngân
sách nhà nước có hạn. Hơn nữa vốn ngân sách nhà nước bản thân là “của chung”
nên nó đã mang trong mình tính chất dễ lãng phí và thất thoát.
- Bốn là, do yêu cầu cần phải nâng cao chất lượng công trình đầu tư XDCB từ
NSNN, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển nhanh kinh tế thị trường tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Chất lượng công trình đầu tư được đánh giá
theo quy chuẩn và tiêu chuẩn của nhà nước tuy nhiên nếu không có sự quản lý của
nhà nước thì việc quản lý chỉ diễn ra trên giấy và rất dễ xảy ra hiện tượng không kiểm
soát được chất lượng công trình, nhà thầu thi công ẩu, dẫn đến thời gian sử dụng của
công trình ngắn có khi còn ảnh hưởng đến tính mạng của người dân khi sử dụng.
Tóm lại, việc quản lý nhà nước về đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách là
một tất yếu khách quan. Việc quản lý này góp phần khắc phục tình trạng thất thoát,
lãng phí vốn, nâng cao chất lượng công trình, nhằm tạo ra công trình cơ sở hạ tầng
tốt, thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới phát triển đồng thời là động lực để kinh
tế - xã hội phát triển nhanh chóng đưa nước ta từ một nước có nền nông nghiệp lạc
hậu thành một nước có nền nông nghiệp tiên tiến, phát triển,... từ đó nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo an sinh và an toàn xã hội.
1.2.2. Mục tiêu, nguyên tắc của quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách
1.2.2.1 Mục tiêu của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
- Đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương:
Quản lý nhà nước các dự án đầu tư xây dựng công trình hợp lý có tác động

đẩy việc sử dụng các nguồn lực vốn đầu tư xây dựng của một cách hiệu quả.
Ngay ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các cơ quan chức năng của Nhà nước đã
phải tiến hành thẩm định tính khả thi của việc bố trí các nguồn lực cho vốn đầu tư
xây dựng, đặc biệt là việc bố trí vốn ngân sách nhà nước, xác định địa điểm xây
dựng, nhu cầu sử dụng đất. Giai đoạn thực hiện đầu tư, nhà nước bảo đảm vốn ngân
sách nhà nước và các nguồn lực khác cho thực hiện đầu tư, phối hợp giữa các cơ
quan chức năng để thúc đẩy sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. Bên cạnh đó,
Nhà nước tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình vốn đầu tư phát triển để uốn nắn,
chấn chỉnh, nhằm mục tiêu sử dụng đúng đắn và tiết kiệm các nguồn lực. Vốn ngân


18

sách nhà nước được quản lý sử dụng tốt cho đầu tư phát triển có vai trò định hướng
các hoạt động đầu tư phát triển từ các nguồn vốn khác vào những vùng, những lĩnh
vực cần ưu tiên phát triển, mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư tư nhân trong nước
và nước ngoài, lợi ích của địa phương và của cả quốc gia. Theo đó, thúc đẩy việc sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực khác cho phát triển kinh tế của địa phương.
- Góp phần bảo đảm kỷ cương, kỷ luật chính sách.
Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách được thực hiện trên
cơ sở tuân thủ pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy định của Nhà nước trung ương.
Điều này bảo đảm trật tự kỷ cương trong thực thi pháp luật và chính sách của Nhà
nước, bảo đảm tính tập trung thống nhất trong quản lý đầu tư xây dựng từ ngân
sách nhà nước của cả nước, hạn chế sự rối loạn trong hoạt động đầu tư phát triển,
trong sử dụng ngân sách cho đầu tư xây dựng, bảo đảm tối đa hóa lợi ích của tỉnh và
của cả nước khi thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, an
sinh xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
- Đảm bảo tính kinh tế, chống thất thoát lãng phí:
Đảm bảo tính kinh tế đó là những chi phí tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được
về ngân sách, thời gian, lực lượng tham gia và những chi phí khác có liên quan đến

về tổng mức đầu tư, tổng dự toán được duyệt, kết quả lựa chọn nhà thầu, số liệu
quyết toán,...
- Tập trung thống nhất. Đầu tư XDCB từ NSNN cần có sự tập trung ưu tiên
cho các công trình trọng tâm, trọng điểm Quốc gia. Theo nguyên tắc này, Nhà nước
cần có thứ tự ưu tiên cho các dự án. Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên phụ thuộc vào điều
kiện cũng như mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.
- Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng sản xuất kinh
doanh, phân cấp quản lý về đầu tư xây dựng phù hợp với từng loại nguồn vốn đầu
tư và chủ đầu tư. Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà
nước, của chủ đầu tư, của tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án
đầu tư.
- Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản luôn đi đôi với công tác kiểm tra, giám
sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt phải áp dụng nghiêm các chế tài
của pháp luật.
1.2.3. Nội dung của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
QLNN đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN có những nội
dung cơ bản giống như quản lý nhà nước về một vấn đề nào đó, đều có các nội dung
chính: công tác lập quy hoạch kế hoạch; triển khai và thực thi chính sách có liên


20

quan đến QLNN; kiểm tra, giám sát việc thực hiện và công tác tổ chức bộ máy liên
quan đến vấn đề đó. Tuy nhiên quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản
ngoài những nội dung trên còn có đặc thù riêng do liên quan đến quá trình đầu tư
xây dựng cơ bản. Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản gồm 3 giai đoạn sau: chuẩn bị
đầu tư, thực hiện đầu tư, và giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử
dụng. Từ 3 giai đoạn liên quan đến đặc thù của quản lý XDCB từ nguồn vốn NSNN
ta có thể đề cập đến QLNN đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN theo từng giai đoạn
của quản lý đầu tư XDCB:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status