i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Phân tích tài chính là một công cụ quản lý quan trọng nhằm giúp các nhà quản
trị nhận thức, đánh giá được thực trạng, chất lượng hoạt động tài chính của doanh
nghiệp mình. Trên cơ sở những đánh giá đó nhà quản trị sẽ có được những căn cứ
khoa học và thực tiễn cho các quyết định tài chính hiện tại và trong tương lai. Vì
vậy công tác phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu
trên cơ sở khoa học về mặt lý luận và thực tiễn.
Đối với công ty cổ phần Nhựa Bình Minh, công tác phân tích tài chính vẫn
còn có những vướng mắc về nội dung, hệ thống các chỉ tiêu và phương pháp phân
tích làm hạn chế tác động tích cực của công cụ này. Vì vậy, đòi hỏi đặt ra là phải có
sự thay đổi về chất trong nội dung cũng như phương pháp phân tích nhằm mang lại
hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ thực trạng và những đòi hỏi trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện
nội dung và phương pháp phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần nhựa
Bình Minh” làm luận văn thạc sỹ.
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được
chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nội dung và phương pháp phân tích tình hình tài
chính trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích tình hình tài chính
tại công ty Cổ phần nhựa Bình Minh
Chương 3: Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính tại Công
ty cổ phần nhựa Bình Minh
Trong chương 1, tác giả trình bày cơ sở lý luận của phân tích tình hình tài
chínhtrong doanh nghiệp. Tác giả đã thực hiện khái quát hóa nội dung phân tích
tình hình tài chính, vai trò, nội dung, phương pháp phân tích và tổ chức phân tích tài
chính trong cách doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của phân tích kinh doanh, là
quá trình thu thập, xử lý các thông tin kế toán, nhằm xem xét, kiểm tra, đối chiếu, so
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động: tác giả đưa ra phương trình
cân bằng tài chính, mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản và
một số trường hợp cân bằng tài chính trong doanh nghiệp.
-
Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán: xem xét tình hình các
khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp để đánh giá được chất lượng hoạt động
tài chính cũng như việc chấp hành các kỷ luật thanh toán. Các chỉ tiêu sử dụng như
là: tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả, số vòng quay các khoản phải
thu, thời gian 1 vòng quay khoản phải thu, số vòng quay các khoản phải trả, thời
gian 1 vòng quay khoản phải trả….
-
Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: các chỉ tiêu thường được
sử dụng như: hiệu quả sử dụng của TSCĐ, hiệu quả sử dụng của tài sản ngắn hạn,
iii
hiệu quả sử dụng của tài sản dài hạn, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu, sức sinh lời
của doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu….
-
Phân tích tính rủi ro tài chính của doanh nghiệp: ngoài việc phân tích khả
năng thanh toán, khi phân tích rủi ro tài chính, tác giả còn đề cập đến ảnh hưởng của
cơ cấu nợ đến khả năng sinh lời tính trên vốn CSH hay mức lợi nhuận trên mỗi cổ
khoản tương đương tiền tăng 76,2 tỷ đồng, gấp 4 lần so với thời điểm đầu năm,
trong đó mức tăng của các khoản tương đương tiền lên tới 55,9 tỷ đồng so với thời
điểm đầu năm. Ngoài ra, các khoản phải thu ngắn hạn tăng 44 tỷ đồng – là do công
ty thực hiện cho các công ty khác mượn Nguyên vật liệu 5,6 tỷ đồng. Hàng tồn kho
tăng 80 tỷ đồng chủ yếu tập trung ở Hàng hóa sản xuất với mức tăng so với đầu
năm là (12 tỷ đồng), chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tăng thêm 9 tỷ đồng. Các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn tăng 4 tỷ là do công ty đầu tư vào Quỹ đầu tư
Chứng khoán Bản Việt (180 chứng chỉ quỹ) và Công ty cổ phần nhựa Tân Tiến
(20.000 cổ phiếu mệnh giá 100.000 đồng). Với kết quả như vậy, tổng tài sản ngắn
hạn của công ty tăng cao so với đầu năm trước.
Tài sản dài hạn đạt 274 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 33.24% trong tổng tài sản
của công ty, tăng 22,98% tương ứng mức tăng là 49,9 tỷ đồng so với cuối năm
trước. Trong đó, tài sản cố định tăng thêm 48 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 22% so
với đầu năm. Trong năm công ty đã thực hiện mua sắm thêm các máy móc thiết bị,
phương tiền vận tải và dụng cụ quản lý mới với tổng mức tăng thêm là 91 tỷ đồng.
Ngoài ra, tài sản dài hạn tăng thêm còn do công ty tăng cường các khoản đầu tư tài
chính từ 6,5 tỷ đầu năm lên 8,2 tỷ vào thời điểm cuối năm do không phải trích phần
dự phòng đầu tư tài chính dài hạn.
Về cơ cấu nguồn vốn:
Tổng nguồn vốn của Công ty tăng 258 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 45,62%
so với cuối năm trước. Nguyên nhân là do Vốn chủ sở hữu có sự tăng lên đáng kể
189 tỷ đồng và nợ phải trả cũng tăng thêm 69 tỷ đồng.Trong đó, Vốn CSH chiếm tỷ
trọng lớn hơn nhiều so với nợ phải trả: đầu năm chiếm 86,28%, đến cuối năm thì
giảm xuống 82,19% nhưng về số tuyệt đối thì vốn chủ sở hữu tăng thêm 189 tỷ
đồng. Nguyên nhân vốn chủ sở hữu tăng là do trả cổ tức bằng cổ phiếu và bổ sung
cổ phiếu ESOP cho cán bộ công nhân viên năm 2009 là 107.180 cổ phiếu. Trong
khi vốn CSH tăng mạnh thì Nợ phải trả có sự tăng thêm không đáng kể: 69 tỷ đồng,
tập trung chủ yếu ở nợ ngắn hạn tăng 68,8 tỷ đồng. Nợ phải trả chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn: tăng từ 13,72% vào thời điểm đầu năm lên 17,81% cuối năm
do khoản phải trả người bán tăng 98 tỷ. Đây là khoản mà công ty mua bổ sung thêm
các tài sản, nguyên vật liệu mới phục vụ cho mở rộng hoạt động sản xuất trong năm
2009.
Như vậy, với cơ cấu nợ phải trả như trên, chủ yếu tập trung vào các khoản nợ
ngắn hạn thì hoạt động của công ty sẽ gặp những áp lực lớn khi khách hàng yêu cầu
thanh toán các khoản nợ trong thời gian ngắn.
+ Phân tích khả năng thanh toán:
vi
Bảng phân tích khả năng thanh toán của công ty năm 2009
Chỉ tiêu
Đầu năm
Cuối năm
Chênh lệch
1. Hệ số thanh toán tổng quát
7,29
5,61
-1,68
2. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
toán trong trường hợp cần thiết.
Như vậy, các hệ số phản ánh khả năng thanh toán của công ty là cao và đáp
ứng được các yêu cầu đặt ra nên tình hình tài chính của công ty được đánh giá là ổn
định và không có nhiều nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán.
-
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Cùng với việc đánh giá khái quát tình hình tài chính, công ty còn thực hiện
đánh giá,phân tích kết quả hoạt động kinh doanh đểthấy được những chuyển biến
tích cực trong hoạt động của công ty và cung cấp những thông tin cần thiết cho các
nhà quản trị, các nhà quản lý cũng như cổ đông thấy được những biến chuyển tích
vii
cực hay tiêu cực trong hoạt động.Việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty chủ yếu thông qua các số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và
bảng cân đối kế toán và so sánh kết quả thực hiện qua 2 năm 2008, 2009 một số chỉ
tiêu: Suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu (ROE), suất sinh lời của tài sản (ROA), suất
sinh lời của doanh thu hoạt động (ROS). Ngoài ra, cán bộ phân tích còn thực hiện
so sánh kết quả thực hiện của các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh để có được các thông tin về mức độ tăng trưởng hay giảm sút so với thực
hiện năm trước.
Phân tích các số liệu thực hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
năm 2009:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng 324,6 tỷ đồng,
tương ứng mức tăng trưởng 39% so với năm trước. Có được kết quả như vậy là do
công ty đã thực hiện mở rộng quy mô và sản lượng sản xuất cung ứng ra thị trường,
giá vốn hàng bán tăng 27,2% tương ứng tăng thêm 172,6 tỷ đồng. Đồng thời, chi
Kế hoạch Thực hiện
Số tiền
Tỷ lệ %
1. Doanh thu thuần về bán
820
1143
323
39,39%
hàng và cung cấp dịch vụ
105
285
180
171,43%
2.Lợi nhuận trước thuế
20%
15%
-5%
-25,00%
3.Cổ tức
Như vậy, các chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận đều đạt vượt mức kế hoạch
đặt ra với tỷ lệ rất cao chứng tỏ Hội đồng quản trị và Ban lãnh đạo công ty đã có
những định hướng đúng đắn và kịp thời nắm bắt những chuyển biến trong nền kinh
tế đất nước, nhận thấy được khả năng phục hồi trong năm 2009 để tiếp tục nâng cao
hiệu suất và quy mô sản xuất của công ty đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Đồng thời, cùng với việc phân tích sự biến động của các chỉ tiêu trên báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Công ty còn thực hiện phân tích các chỉ tiêu
phản ánh suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu, doanh thu, tài sản và so sánh kết quả
thực hiện qua các năm.
Một số chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động và suất sinh lời năm 2009
Chỉ tiêu
-0,32
3,50
-0,49
-0,36
0,10
0,18
0,22
ix
Qua các chỉ tiêu tính toán trên bảng thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt
động của công ty đều tăng hơn so với năm trước:
Suất sinh lời của tài sản tăng gấp 2 lần so với năm trước và đạt 36%. Suất
sinh lời của Doanh thu cũng đạt cao (22%), tăng 10% so với năm trước. Suất
sinh lời của Vốn chủ sở hữu đạt 43%, tăng 22% so với năm 2008. Như vậy, hiệu
quả hoạt động của công ty là cao và đạt mức tốt so với thời điểm năm trước.
Chứng tỏ đường lối và những chính sách đúng đắn của ban lãnh đạo công ty
trong năm vừa qua.
Số vòng quay các khoản phải thu tăng mạnh, tăng 3,5 vòn, chứng tỏ thời gian
để thu từ khách hàng ngày càng ngắn, càng chứng tỏ hiệu quả hoạt động của công
ty. Vòng quay của Tổng tài sản, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải
trả, vòng quay vốn lưu động mặc dù giảm so với năm trước nhưng mức giảm không
đánh kể nên hiệu quả hoạt động của công ty được đánh giá cao.
Sau khi nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính tại công ty,
tác giải đưa ra các nhận xét, đánh giá về tình hình tài chính tại công ty còn một
số hạn chế và bất cập như: phương pháp phân tích chưa thực sự phong phú, chủ
yếu tập trung vào phương pháp so sánh nên đôi khi không đánh giá được mối
quan hệ giữa các chỉ tiêu phân tích; hệ thống chỉ tiêu phân tích còn chưa đầy
đủ, quá trình phân tích còn ít sử dụng các thông tin phi tài chính, việc tổ chức
Tài sản định
- Đầu tư tài
dài
chính dài hạn
hạn:
273.994 - Tài sản dài
hạn khác
- Tiền và
tương đương
Tổng
tiền
tài sản:
824.250
- Đầu tư tài
Tài sản chính ngắn hạn
ngắn
- Phải thu ngắn
hạn:
550.256 hạn
- Hàng tồn kho
- Tài sản ngắn
hạn khác
- Nguồn vốn
265.581
CSH
8.155
- Nợ dài hạn
trợ tạm thời:
145.788
Tổng
nguồn
vốn tài
trợ:
824.250
23.274
34.315
Bên cạnh việc phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh thì công ty cần phải phân tích thêm các chỉ tiêu phản ánh mức độ
cân bằng về mặt tài chính để có được những nhận xét chính xác và toàn diện hơn về
tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của công ty.
xi
Số liệu phân tích các chỉ tiêu cân bằng tài chính của Công ty năm 2009
Chỉ tiêu
Đầu năm
Cuối năm
Chênh lệch
2,476
0,293
5. Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với
nợ ngắn hạn
4,446
3,774
-0,672
Qua số liệu tại bảng, hệ số tài trợ thường xuyên mặc dù tăng về số tuyệt đối
nhưng trong tương quan so sánh với tổng nguồn vốn thì lại giảm 4,1% so với năm
trước. Tuy nhiên, nguồn tài trợ thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nguồn vốn (>80%) nên vẫn thể hiện được tính cân bằng và ổn định về mặt tài chính
của Công ty.Tương ứng với việc giảm đi của hệ số tài trợ thường xuyên thì hệ số
tài trợ tạm thời tăng tương ứng 4,1% so với thời điểm đầu năm.
Tỷ trọng nguồn vốn CSH trong nguồn tài trợ thường xuyên không thay đổi
qua 2 năm và đều chiếm tỷ trọng 99,8%. Chứng tỏ hầu hết tài sản dài hạn của công
ty đều được đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu, qua đó thể hiện tính độc lập cao về
mặt tài chính trong hoạt động của Công ty.Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với
tài sản dài hạn tăng 29, 3% so với thời điểm đầu năm và đều lớn hơn rất nhiều so
với 1. Chứng tỏ mức độ ổn định về mặt tài chính của công ty cao và ngày càng ổn
định hơn.Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn mặc dù giảm so với đầu
năm nhưng vẫn ở mức cao.
Như vậy, nhìn chung hoạt động tài chính của Công ty được đảm bảo cân
bằng và bền vững. Từ đó tạo điều kiện cho quá trình hoạt động của công ty một
cách ổn định, tránh gặp phải những khó khăn trong thanh toán.
1. Giá trị còn lại TSCĐ
2. Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
3. Lợi nhuận sau thuế
4. Sức sản xuất của TSCĐ
5. Sức sinh lời của TSCĐ
6. Sức hao phí của TSCĐ
Triệu đồng
338.094
Triệu đồng
820.964
1.143.154
322.190
39,25%
Triệu đồng
(4) = (2)/(1)
(5) = (3)/(1)
(6) = (1)/(2)
95.923
2,43
của Công ty trong năm 2009. Hiệu quả từ hoạt động sản xuất và lợi nhuận đều tăng
lên, mức hao phí giảm đi thể hiện các nhà quản lý của Công ty đã có những quyết
xiii
sách hợp lý trong việc đẩy mạnh hoạt động, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh,
đầu tư thêm máy móc thiết bị để nâng cao được hiệu quả hoạt động. Đây là chính
sách hợp lý của Ban lãnh đạo công ty thể hiện được vai trò to lớn trong việc đẩy
mạnh hoạt động, đưa Công ty lớn mạnh không ngừng.
Phân tích hiệu quả của tài sản ngắn hạn:
Để phân tích hiệu quả của tài sản ngắn hạn, cần phải thực hiện tính toán các
chỉ tiêu: số vòng quay của tài sản ngắn hạn, thời gian 1 vòng quay, hệ số đảm nhiệm
của tài sản ngắn hạn để có được các thông tin cần thiết đưa ra những nhận định hợp
lý trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Số liệu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công tynăm 2009
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Đơn vị
1. Tài sản ngắn hạn bình quân
2. Tổng số luân chuyển thuần
3. Số vòng quay của TS NH
4. Thời gian kỳ phân tích
5. Thời gian 1 vòng quay TS
ngắn hạn
6. Hệ số đảm nhiệm TS ngắn hạn
Triệu đồng
139,79
-10,99
(6) = (1)/(2)
0,42
0,39
-0,03
-7,29%
-7,29%
Qua số liệu đánh giá của công ty nhận thấy:
+ Tài sản ngắn hạn bình quân của Công ty năm 2009 tăng mạnh 29,13% so
với năm 2008, tương ứng mức tăng 100.629 triệu đồng.
+ Tổng số luân chuyển thuần trong năm tăng 324.020 triệu đồng, tương ứng
với mức tăng 39,28% so với năm trước.
+ Cùng với việc tăng thêm của TS ngắn hạn bình quân và Tổng số luân
chuyển thuần thì số vòng quay của Tài sản ngắn hạn tăng nhỏ so với năm trước, từ
2,39 vòng lên 2,58 vòng. Số vòng quay tài sản ngắn hạn tăng lên dẫn đến thời gian
1 vòng quay của TS ngắn hạn giảm đi 11 ngày.
+ Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn cho biết để tạo ra một đồng luân chuyển
tiền thuần thì mất bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân. Chỉ tiêu này năm
2009 giảm 0,03 so với năm 2008.
-0,984
-3,667
tài chính
Tổng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ tăng 66 tỷ đồng, tương ứng mức tăng
trưởng 657,7% so với thực hiện năm 2008 và đạt 76,2 tỷ đồng. Mức lưu chuyển tiền
thuần tăng lên là do các nguyên nhân:
+ Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh tăng lên 153,2% tương ứng
tăng thêm 145,8 tỷ đồng. Tỷ trọng từ hoạt động kinh doanh năm 2009 chiếm tỷ
trọng 316% trong tổng lưu chuyển tiền thuần. Các hoạt động đầu tư và tài chính đều
bị âm nên làm cho tổng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ của Công ty bị giảm.
+ Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư mặc dù tăng 22,3 tỷ so với
năm 2008 nhưng tổng chi tiền vẫn nhỏ hơn tổng thu do các khoản đầu tư của
Công ty thường là các khoản đầu tư vào cổ phiếu của công ty khác và chưa
chuyển đối thành tiền.
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính cũng bị âm 75 tỷ đồng là do mức
thu từ phát hành cổ phiếu chưa đủ đáp ứng các khoản chi trả nợ vay và trái phiếu.
xv
Như vậy, tiền lưu chuyển trong kỳ của công ty chủ yếu tập trung từ hoạt
động sản xuất kinh doanh. Các hoạt động đầu tư và tài chính chưa mang lại hiệu quả
cho Công ty.
+ Hoàn thiện phân tích rủi ro tài chính trong hoạt động của công ty:
Trong phân tích hoạt động tài chính của công ty thì việc phân tích rủi ro tài
chính là một vấn đề vô cùng quan trọng giúp cho Công ty biết được mức độ rủi ro
trong hoạt động của mình như thế nào và tầm ảnh hưởng đến đâu trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty.
Bên cạnh việc thực hiện đánh giá các chỉ tiêu về tình hình khả năng thanh
toán, phân tích tình hình thực hiện các khoản nợ phải thu, phải trả thì công ty cần
0,917
-0,247
Qua bảng số liệu thì Hệ số thanh toán nợ đến hạn và quá hạn của công ty
bằng tiền và các khoản tương đương tiền cuối năm 2009 là 0,65 (>0,5%), tăng 0,41
so với cuối năm 2008 chứng tỏ khả năng thanh toán của Công ty là tốt và đảm bảo
được khả năng chi trả khi đến hạn.
Hệ số chi trả lãi vay của Công ty cao hơn rất nhiều lần so với 1 và năm 2009
có sự tăng trưởng mạnh so với 2008 chứng tỏ công ty tự chủ được về mặt tài chính,
các khoản vay của công ty không nhiều. Và thực tế cho thấy, các khoản vay của
công ty đều được thế chấp bằng các tài khoản tại ngân hàng nên tính chủ động cao
và không bị phụ thuộc về mặt tài chính.
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả năm 2009 giảm
0,247 so với năm 2008 và các khoản phải thu của công ty chỉ đáp ứng được 91,7%
xvi
tổng các khoản nợ phải trả. Như vậy, tình hình tài chính của công ty nhìn chung
được đánh giá là ổn định và phù hợp.
Như vậy, qua đánh giá nhận thấy các dấu hiệu dẫn đến rủi ro về mặt
tài chính của công ty là chưa cao, tình hình hoạt động tài chính của công ty
khá ổn định.
-
Hoàn thiện phương pháp phân tích tình hình tài chính
Tại công ty, phương pháp chủ yếu để thực hiện phân tích tài chính là phương
Chỉ tiêu
Đơn vị
1. Tổng tài sản bình quân
2. Vốn chủ sở hữu BQ
3. Doanh thu thuần
4. Lợi nhuận sau thuế
5.Hệ số tài sản trên VCSH
6. Số vòng quay của TS
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
(5) =(1)/ (2)
(6) = (3)/(1)
531.874
454.971
820.964
95.923
1,17
1,54
695.130
582.890
1.143.154
249.919
CSH (ROE)
(9)=(4)/(2)
0,21
0,43
0,22
103,36%
xvii
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, ROE của công ty năm 2009 tăng 0,22 so với
năm 2008, tương ứng tăng trưởng 103,4%. Như vậy, cuối năm 2009, 1 đồng vốn
chủ sở hữu tạo ra 0,03 đồng lợi nhuận, cao hơn 0,22 đồng so với thực hiện cuối năm
2008. Nguyên nhân của sự biện động này là so tác động của suất sinh lời của doanh
thu (tăng 0,1) so với năm 2008 và hệ số tài sản trên vốn CSH (tăng 0,02) và số vòng
quay của tài sản (tăng 0,1). Suất sinh lời của tài sản (ROA) tăng lên 0,18 và đạt 0,36
tại thời điểm cuối năm 2009 là do hệ số tài sản trên vốn CSH tăng và suất sinh lời
của doanh thu tăng lên (0,1). Suất sinh lời của doanh thu tăng bên cạnh sự tăng lên
của hệ số tài sản trên vốn CSH thì còn do suất sinh lời của tài sản (ROA) cũng tăng
lên 0,18 so với thực hiện cuối năm trước.
+ Hoàn thiện phương pháp phân tích xu hướng: khi thực hiện phân tích xu
hướng, công ty cần lựa chọn một số chỉ tiêu có mối quan hệ với nhau để có được
kết quả phân tích có ý nghĩa thiết thực.Khi thực hiện phân tích biến động của doanh
thu thuần trong quan hệ với xu hướng biến động của giá vốn hàng bán, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận thì sẽ đưa ra được một cách nhìn
phương pháp phân tích xu hướng, công ty nên áp dụng phương pháp vẽ đồ thị để có
xviii
được cái nhìn trực quan và phân tích sâu hơn đối với xu hướng phát triển cũng như
đánh giá kỳ vọng trong tương lai của doanh thu trong năm tới.Cụ thể, tác giả thực
hiện đánh giá chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế phụ thuộc vào Giá vốn hàng bán và
Doanh thu bán hàng qua các năm từ 2005-2009.
Sơ đồ biến động của LNTT, Doanh thu bán hàng và Giá vốn hàng bán qua các
năm 2005-2009
1,400,000
1,200,000
Doanh thu
1,000,000
800,000
GVHB
600,000
LNTT
400,000
GVHB
200,000
0
xix
-
Về phía Hiệp hội các doanh nghiệp ngành Nhựa: cần có những biện pháp
hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nắm bắt các thông tin cần thiết về mức hoạt
động trung bình ngành hay các thông số về mặt kỹ thuật cũng như thị trường hoạt
động và xu thế phát triển của ngành trong thời gian tới.
-
Về phía công ty: Tổ chức công tác phân tích tài chính của công ty một
cách khoa học, đầy đủ và hợp lý:Thành lập ban phân tích gồm các chuyên gia phân
tích và các cán bộ có kinh nghiệm về tài chính; Cần quy định cụ thể chức năng,
quyền và trách nhiệm của ban phân tích và từng thành viên; Đào tạo đội ngũ cán bộ
phân tích tài chính về các mảng chuyên môn nghiệp vụ trong công ty, đặc biệt là về
tài chính kế toán và những quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này…
Qua thời gian nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phân tích tình hình tài
chính tại Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh, được sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Ngọc Quang, tác giả đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện công tác
phân tích tình hình tài chính tại công ty. Tác giả rất mong nhận được các ý kiến
đóng góp để bài luận văn được hoàn thiện hơn.