1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức. Ngoài chức năng đảm bảo nguồn thu quan
trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN), thuế TNDN còn là công cụ thực hiện chức
năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội; khuyến khích, thúc đẩy
sản xuất (SX), kinh doanh (KD) phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược
và toàn diện của Nhà nước.
Ngoài vị trí địa lý là một thành phố (TP) trung tâm của miền Trung, Đà Nẵng
còn là một trung tâm kinh tế của đất nước. Số thu thuế TNDN trong các năm qua
đạt khoảng 37% 40% trong tổng thu thuế từ doanh nghiệp (DN). Đặc biệt khi
Việt Nam gia nhập vào WTO và thực hiện cắt giảm thuế quan (CFPT), khi đó thuế
nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (GTGT) hàng nhập khẩu cũng giảm theo, thì thuế
TNDN trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN. Tuy nhiên, số thu thuế TNDN
qua các năm 2002 2007 chiếm tỷ trọng giảm dần trong tổng thu ngân sách. Nguyên
nhân do tình trạng trốn thuế TNDN ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức tinh
vi, khó phát hiện, số thuế TNDN bị thất thoát ngày càng lớn; hơn nữa việc thanh tra,
kiểm tra đối tượng nộp thuế (ĐTNT) là công cụ chủ yếu để chống thất thu ngân
sách theo cơ chế tự khai, tự nộp chưa được xem trọng; mặt khác, các thủ tục thanh
tra, kiểm tra thuế TNDN còn nhiều bất cập dẫn đến việc thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN của cơ quan Thuế với ĐTNT chưa đạt được hiệu quả như dự kiến.
Xuất phát từ chức năng, vai trò của của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN
tại TP Đà Nẵng, Tác giả đã chọn đề tài: "Một số vấn đề về công tác thanh tra,
kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" làm đề tài
cho Tiểu luận môn học Nghiệp vụ Thanh tra của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra . Tiểu luận nghiên cứu thực trạng việc
thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng do Cục Thuế TP Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế TNDN
1.1.1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra
Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã
định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đặc điểm
của quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ
giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ bản: dự báo, hoạch định, tổ
chức, điều hành, kiểm tra và đánh giá. Trong đó kiểm tra là chức năng quan trọng,
được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Đó là việc xem xét để
đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với
mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu hay định hướng cho các hoạt
động.
Thanh tra tiếng Anh “ Inspect” xuất phát từ gốc Latinh “InSpectare” có
nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng
nhất định”.
Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền)
kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa
này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn
những gì trái với quy định” [12 , tr 9].
Thanh tra được hiểu là một chức năng thiết yếu cuả cơ quan quản lý nhà
nước ngoài. TNCT trong kỳ tính thuế được xác định theo công thức sau:
Doanh thu để
Chi phí hợp
tính thu nhập
thu = +
ế trong kỳ
lý trong kỳ
chịu thuế
trong kỳ tính
tính thuế
tính thuế
Thu nhập chịu
Thu nhập
chịu thuế
khác trong
kỳ tính thuế
Sau khi xác định TNCT theo công thức trên, CSKD được trừ số lỗ của các
năm trước chuyển sang trước khi xác định số thuế TNDN phải nộp theo quy định.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế: là toàn bộ tiền
bán hàng, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà CSKD
được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế: l à c ác
khoản chi phí hợp lý liên quan đến doanh thu và TNCT trong kỳ tính thuế.
Các khoản thu nhập chịu thuế khác:
Các khoản TNCT khác trong kỳ tính thuế bao gồm:
+ Chênh lệch về mua, bán chứng khoán. Lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay, lãi bán
khai và tự nộp vào NSNN. Do đó, việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN có đặc điểm
ngoại kiểm của hoạt động kiểm toán thuế TNDN, tức là kiểm soát việc tuân thủ
pháp luật thuế TNDN đối với ĐTNT.
Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là việc kiểm tra để xác định chính xác số thuế
TNDN mà ĐTNT phải nộp thông qua các căn cứ tính thuế TNDN như: xác định doanh
thu tính thuế TNDN phát sinh trong kỳ, các khoản chi phi hợp lý, hợp lệ được tính
giảm trừ khi xác định TNCT theo quy định của Luật thuế TNDN, các khoản TNCT
khác (nếu có), thuế suất thuế TNDN ... nhằm quản lý chặt chẽ được nguồn thu này.
Có thể tóm tắt việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN với ĐTNT bằng hình 1.1 như
sau:
Các chuẩn mực:
Luật thuế TNDN và các
văn bản hướng dẫn.
Quy trình quản lý thuế
TNDN, quy trình thanh
tra, kiểm tra thuế TNDN.
CƠ QUAN
THUẾ
Kiểm soát việc
tuân thủ luật
thuế TNDN với
các đối tượng
nộp thuế.
Hình 1.1: Sơ đồ thanh tra, kiểm tra thuế TNDN
6
năm.
Tổng cục, Cục Thuế.
Duyệt kế hoạch thanh tra
Tổ chức Chuẩn bị thanh tra, kiểm tra:
Đoàn kiểm tra, thanh tra
phân tích sâu + Tập hợp, phân tích thông tin;
các DN trong kiểm tra hồ sơ tại cơ quan
kế hoạch Thuế
thanh tra, + Xác định nội dung, phạm vi,
kiểm tra,
hình thức kiểm tra.
Cục Thuế, Chi cục
Thành lập đoàn thanh tra.
Thuế
Thanh tra, Ban hành QĐ thanh tra, kiểm tra: Đoàn thanh tra, kiểm tra
kiểm tra tại + Công bố QĐ kiểm tra.
DN
+ Lập nhật ký kiểm tra.
Thực hiện thanh tra, kiểm tra Đoàn thanh tra, kiểm tra
bằng việc xem xét số liệu và
xác lập hồ sơ chứng lý:
+ Kiểm tra, đối chiếu số liệu
tổng hợp; kiểm tra chi tiết, lập
hồ sơ chứng lý.
+ Lập biên bản thanh tra, kiểm
tra.
Đoàn thanh tra, kiểm tra
Xử lý kết quả thanh tra, kiểm Đoàn thanh tra, kiểm tra
tra.
Phòng, Tổ thanh tra.
hóa dần công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ
máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế.
Thứ năm, việc thanh tra thuế TNDN phải góp phần phát huy tốt nhất vai trò
của thuế TNDN trong nền kinh tế; bởi vì thông qua việc thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN mới cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin chính xác cho công tác quản
lý thuế, từ đó giúp cho Luật thuế TNDN thực sự phát huy được hiệu quả trong nền
kinh tế.
Để đạt được những mục tiêu cơ bản nêu trên, đòi hỏi phải có những yêu cầu
cụ thể đối với cơ quan Thuế và công chức thuế như sau:
Một là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý thuế, sắp xếp tổ chức bộ máy quản
lý thuế, phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận tại Cục Thuế, Chi cục
Thuế.
Hai là, tăng cường công tác phân tích thông tin, phát hiện các dấu hiệu nghi
ngờ vi phạm về thuế để kịp thời thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm pháp luật về thuế.
Ba là, phải phân định rõ ràng giữa nghĩa vụ kê khai thuế, nộp thuế của DN
với trách nhiệm phát hiện hành vi vi phạm về thuế để thực hiện kiểm tra, thanh tra
thuế của cơ quan Thuế.
Bốn là, cán bộ thuế phải nắm vững chính sách, chế độ thuế; có ý thức trách
nhiệm cao, tuân thủ đúng quy định nghiệp vụ và các bước công việc trong quy trình.
Năm là, tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị làm việc để đảm bảo
khai thác thông tin phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và chỉ đạo thu thuế TNDN.
8
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN
Từ mục tiêu, nội dung của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN nêu trên thì
các nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là:
Về công tác hạch toán kế toán của ĐTNT: ngày càng có nhiều DN mà tập
trung chủ yếu ở loại hình DN ngoài quốc doanh và hợp tác xã, thường có bộ máy kế
toán được tổ chức và hạch toán theo ý kiến chủ quan của chủ DN, luôn có ý thức
trốn thuế TNDN bằng cách bỏ ngoài sổ sách các khoản doanh thu và thu nhập tính
9
thuế TNDN, hạch toán các khoản chi phí không phục vụ SXKD, các khoản chi phí
bất hợp lý, hợp lệ, chi không có chứng từ hóa đơn theo quy định ... vào chi phí khi
xác định TNCT để làm giảm số thuế TNDN phải nộp nên đã gây khó khăn cho việc
kiểm tra, thanh tra, kiểm tra thuế TNDN của cơ quan Thuế;
Về việc sử dụng hóa đơn, chứng từ: do người tiêu dùng chưa có thói quen
lấy hóa đơn khi mua hàng hóa, dịch vụ dẫn đến nhiều ĐTNT cố tình không kê khai
hoặc kê khai doanh số thấp hơn thực tế làm giảm TNCT dẫn đến trốn thuế
TNDN; ...
Tóm lại, Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN là một yêu cầu tất yếu của quản lý
Nhà nước về thuế. Việc thực hiện phải tuân thủ chặt chẽ quy trình quản lý thu
thuế TNDN, quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT cũng như các quy chế làm việc của
từng bộ phận chức năng trong cơ quan Thuế. Thanh tra, kiểm tra thuế TNDN có đối
tượng riêng, mục đích, yêu cầu và phương pháp riêng, nhưng để thực hiện có hiệu
quả thì Nhà nước cần trang bị cơ sở vật chất cho ngành Thuế, tăng cường đào tạo
và bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ, chuyên môn cho công chức thuế. Mặt
khác hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chịu nhiều tác động của môi trường
bên trong cũng như môi trường bên ngoài có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Do vậy
hệ thống luật pháp của Nhà nước cần phải thực sự chặt chẽ và có hiệu lực.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
10
Cục Thuế
7 Chi cục
Tổng cộng
quản lý
Thuế quản lý
DN Nhà nước
450
5
455
Công ty TNHH 1 thành viên
17
0
17
DN Nhà nước cổ phần hoá
226
0
226
DN có vốn đầu tư nước
202
0
202
ngoài
Đơn vị sự nghiệp, vũ trang
156
32
188
Công ty trách nhiêm hữu hạn
508
hình thức thanh tra, kiểm tra cần áp dụng. Đây là bước quan trọng vì phải lựa chọn
chính xác số ĐTNT có vi phạm lớn để kiểm tra thu hồi ngay số tiền thuế có nguy cơ bị
thất thoát, xử lý nghiêm minh, làm gương cho các ĐTNT khác; tránh lãng phí nhân lực
và vật chất do việc lập kế hoạch không chính xác. Kế hoạch phải đảm bảo phù hợp,
tránh trùng lắp với kế hoạch của các cơ quan khác như: Kiểm toán, Thanh tra Chính
phủ ...
Tuy nhiên, các thông tin lịch sử của DN chưa được cập nhật kịp thời, số liệu
trên quyết toán thuế TNDN và báo cáo tài chính của phần lớn DN ngoài quốc doanh
được phản ánh không chính xác và trung thực, việc phân tích các thông tin về dấu
hiệu khai man, trốn thuế thường được làm rất sơ sài, dẫn đến công tác lập kế
hoạch thanh tra nhiều khi không chính xác, không tập trung vào các DN có hành vi vi
phạm về thuế. Do vậy, chất lượng của một số cuộc thanh tra còn hạn chế.
Việc phân tích các thông tin về dấu hiệu khai man, trốn thuế chưa được quan
tâm, dẫn đến công tác lập kế hoạch thanh tra đôi khi không chính xác, không tập
trung vào các DN có hành vi vi phạm về thuế. Do vậy, chất lượng của một số cuộc
thanh tra còn hạn chế. Có thể thấy mối liên hệ giữa việc phân tích thông tin, lập kế
hoạch thanh tra và kết quả thanh tra qua các năm gần đây tại Cục Thuế TP Đà Nẵng.
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra 2005 2007
11
STT
1
2
3
4
5
6
7
Số thuế tăng thêm qua kiểm tra
Triệu 22.990 34.485 45.980
Số thuế tăng bình quân/ cuộc = (6) : (2) Triệu
34
61
116
Số thuế bình quân vụ vi phạm = (6) : (4) Triệu
44
81
146
(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra năm 2005 2007)
Từ số liệu trên có thể thấy rằng: năm 2005 mặc dù thực hiện đạt 136% kế
hoạch thanh tra, kiểm tra nhưng số vụ phát hiện chỉ đạt 76%, tức là kiểm tra 165
DN tương ứng với tỷ lệ 24% không phát hiện ra sai phạm; tương tự năm 2006 có
137 DN không sai phạm đạt 24%; năm 2007 có 81 DN không sai phạm chiếm tỷ lệ
20%. Tổng số thuế gian lận phát hiện qua kiểm tra cũng thấp: năm 2005 bình quân
34 triệu đồng/vụ, năm 2006 bình quân 61 triệu đồng/vụ, năm 2007 bình quân 116
triệu đồng/vụ. Kết quả trên đã chứng minh việc phân tích thông tin, việc lập kế
hoạch thanh tra, kiểm tra không sát với thực tế, không đi sâu vào các hành vi vi
phạm dẫn đến chất lượng công tác thanh tra và kiểm soát thuế chưa đạt hiệu quả
và yêu cầu đặt ra.
Chưa có quy định cụ thể về quy mô và mức độ ĐTNT như thế nào do các
Phòng Quản lý DN kiểm tra, đối tượng nào do Phòng Thanh tra thực hiện kiểm tra.
Do vậy trong các năm qua, các ĐTNT có địa chỉ KD ở địa bàn xa xôi; hoặc làm ăn
thua lỗ kéo dài lâm vào giải thể, phá sản; các ĐTNT chây ỳ trong việc nộp NSNN;
các ĐTNT có bộ máy kế toán yếu ... đều được các Phòng Quản lý DN đùn đẩy trách
nhiệm cho Phòng Thanh tra giải quyết. Do đó có rất nhiều ĐTNT hàng năm đều
được kiểm tra nhưng không phát hiện ra sai phạm, một số ĐTNT khác chưa được
kiểm tra lần nào kể từ khi thực hiện Luật thuế TNDN đến nay; từ đó vai trò của
+ Kiểm tra tính hợp pháp của các biểu mẫu, trình tự lập và luân chuyển
chứng từ, phương pháp tính toán, phân bổ và hạch toán kế toán.
+ Kiểm tra tính hợp lý của các đối tượng kế toán, nội dung nghiệp vụ kinh
tế phát sinh và tính pháp lý trong việc thực hiện chế độ tài chính DN.
Xác lập các biên bản chi tiết, các bản sao chụp, các hồ sơ từng phần,… làm
căn cứ cho việc thiết lập các hồ sơ chứng lý để xử lý sau thanh tra.
2.2.2.3. Kết thúc cuộc thanh tra tại CSKD
Sau khi kết thúc cuộc thanh tra, Đoàn thanh tra phải thực hiện các nội dung:
Lập biên bản kết thúc thanh tra, kiểm tra; biên bản đảm bảo yêu cầu ngắn
gọn, rõ ràng, chính xác, phản ánh đầy đủ kết quả của cuộc thanh tra, kiểm tra và
những kiến nghị xử lý vi phạm.
Xây dựng báo cáo kết quả cuộc thanh tra.
Lập dự thảo kết luận thanh tra trình lãnh đạo Cục Thuế phụ trách công tác
thanh tra xem xét và cho ý kiến chỉ đạo xử lý.
Gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra.
Xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra: Trong thời hạn 10 kể từ sau ngày công bố
biên bản thanh tra, kiểm tra; cơ quan Thuế phải ban hành quyết định xử lý gửi DN.
Đây là văn bản thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc kiểm soát thuế nhằm xử lý
và thu hồi số thuế khai man, nợ đọng kịp thời vào NSNN; nâng cao ý thức chấp
hành luật thuế của các DN và cho người thi hành công vụ.
Việc xử lý kết quả thanh tra là bước rất quan trọng trong một cuộc thanh tra.
Khi xử lý phải hoàn toàn tuân thủ theo pháp luật thuế, chế độ sử dụng hóa đơn
13
chứng từ. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay hệ thống pháp luật chưa đồng bộ,
chưa thống nhất, một hành vi vi phạm có thể được quy định ở nhiều văn bản có
những chế tài khác nhau hoặc được vận dụng ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, dẫn đến
tùy tiện trong xử lý có thể dẫn đến thất thoát thuế TNDN và không công bằng.
B
1
2
3
C
1
2
3
DN đầu tư nước ngoài
Số đơn vị kiểm tra
Số đơn vị có vi phạm
Số thuế tăng qua kiểm tra
Trong đó thuế TNDN
DN ngoài quốc doanh
Số đơn vị kiểm tra
Số đơn vị có vi phạm
Số thuế tăng qua kiểm tra
2003
2004
2005
2006
2007
920
644
62
25
613
429
29
18
657
301
63
9
986
456
33
16
1.314
597
262
138
3.279
447
305
7.139
1.967
3.570
4.479
6.719
8.962
810
131
1.142
400
1.300
117
1.022
358
120
68
856
300
21
18
1.533
450
6
9.539
397
316
45.980
7.681
681
516
22.99
0
12.42
4
6.359
691
1.251
876
2.579
2.458
2.815
8.221
những năm qua đã đạt được nhưng kết quả khả quan, góp phần tăng thu cho NSNN
và tạo tiền đề để nâng cao ý thức, trách nhiệm của ĐTNT trong việc thực hiện
pháp luật thuế, phát huy được chức năng và quyền hạn của cơ quan Thuế trong
công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. Tuy nhiên do lực lượng cán bộ làm công tác
thanh tra còn thấp, chỉ chiếm khoảng 10% 14% trên tổng số công chức nên số
lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra chỉ mới đạt 15% trên tổng số ĐTNT, có nghĩa là
sau 7 năm cơ quan Thuế mới quay lại kiểm tra tiếp, điều này gây khó khăn cho việc
thanh tra, kiểm tra thuế TNDN vì Luật thuế TNDN chỉ cho phép truy thu và xử lý vi
15
phạm trong vòng 5 năm kể từ khi phát hiện sai phạm của ĐTNT. Thêm nữa, do
trình độ của cán bộ còn nhiều hạn chế, có không ít cán bộ thuế không biết đọc báo
cáo tài chính và phân tích số liệu trên báo cáo tài chính, không thực hiện đúng trình
tự và phương pháp kiểm tra dẫn đến chất lượng một số cuộc kiểm tra không cao và
không có hiệu quả.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng
Việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN theo cơ chế ĐTNT tự kê khai, tự nộp
thuế tại địa bàn TP Đà Nẵng trong các năm qua bước đầu đã phát huy được hiệu
quả, tỷ trọng số thuế TNDN trong tổng thu từ DN ngày càng tăng nhất là lĩnh vực
DN Nhà nước Trung ương và DN ngoài quốc doanh; số thuế TNDN phát hiện qua
thanh tra, kiểm tra ở 2 lĩnh vực này cũng tăng đáng kể và chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số thuế truy thu và tiền phạt. Tuy nhiên các hành vi gian lận thuế TNDN ngày
càng phổ biến, số thuế TNDN thất thu ngày càng lớn, điều đó thể hiện việc thanh
tra, kiểm tra thuế TNDN vẫn còn chưa chặt chẽ bởi vì các nguyên nhân:
2.3.1. Các nhân tố từ các cơ quan quản lý Nhà nước
Hệ thống chính sách thuế chưa bao quát hết ĐTNT, còn nhiều mức thuế ưu
đãi; còn có sự phân biệt về loại hình DN, điều kiện ưu đãi, mức và thời gian miễn,
việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chưa được đồng bộ và chuyên môn hóa, do vậy
hiệu quả của việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN không cao. Ta có thể thấy qua tình
hình nợ thuế TNDN từng năm tại Cục Thuế TP Đà Nẵng tại bảng 2.4:
Bảng 2.4: Tình hình nợ đọng thuế đến ngày 31/12 hàng năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT
Chỉ tiêu
1
DN Trung ương:
Trong đó thuế TNDN:
DN địa phương:
Trong đó thuế TNDN:
DN đầu tư nước ngoài:
Trong đó thuế TNDN:
DN ngoài quốc doanh:
Trong đó thuế TNDN:
Tổng thuế nợ đọng:
Trong đó thuế TNDN:
Tỷ lệ %:
2
3
4
2003
2004
60.881
8.241
46.459
9.332
30.015
1.040
28.935
7.820
166.290
26.433
16%
63.496
14.040
44.498
7.750
10.852
934
26.053
6.132
144.899
28.856
20%
61.739
13.119
38.432
7.243
13.193
sách kế toán đến tính toán thuế TNDN phải nộp, giúp lành mạnh quan hệ tài chính
của DN, vì vậy chưa nâng cao tính tuân thủ, tự nguyện và trách nhiệm pháp luật của
ĐTNT.
* Về quy trình thanh tra, kiểm tra ĐTNT
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN chưa có giải pháp cụ thể trong việc
phát hiện các hành vi vi phạm; phạm vi kiểm tra còn tràn lan, không trọng tâm nên
chất lượng kiểm tra còn hạn chế; việc xử lý vi phạm đôi khi còn theo cảm tính, xuê
xoa nên chưa có tác dụng răn đe, ngăn chặn kịp thời hành vi gian lận thuế TNDN.
Về lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra: việc xác định các hành vi vi phạm và
ĐTNT có nghi vấn thông qua phân tích Báo cáo tài chính DN để lập kế hoạch thanh
tra chưa được chú trọng dẫn đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ĐTNT còn
thấp, do vậy đã ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN của cơ quan
Thuế.
* Về công chức thuế thực hiện việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN
Hiện tại số lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra ở Cục Thuế TP
Đà Nẵng mới chỉ có 72 người, chiếm 14% trên tổng số cán bộ công chức, trong đó
cán bộ có trình độ đại học (thuộc tất cả các ngành và hình thức đào tạo) chiếm
khoảng 65%. Vì vậy, trong những năm gần đây Cục Thuế TP Đà Nẵng đã tổ chức
đào tạo lại cán bộ để có trình độ tương xứng với nhiệm vụ; tuy nhiên vẫn còn một
bộ phận công chức thuế có trình độ hạn chế về chuyên môn, chưa nắm bắt, hiểu rõ
Luật thuế TNDN cũng như chưa thực hiện đúng nội dung, yêu cầu của các quy
trình, chưa thực hiện đúng chức trách được giao gây hậu quả thất thu thuế TNDN,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN.
Việc đào tạo lại chủ yếu tập trung ở ngành Luật (mục đích là xử lý vi
phạm), chưa chú trọng đến việc đào tạo cán bộ ở các ngành Kinh tế, Tài chính, Kế
toán để có thể phát hiện ra những hành vi vi phạm; chưa có kế hoạch tuyển chọn,
sắp xếp, bổ nhiệm, bố trí sử dụng và đánh giá cán bộ một cách chuẩn xác và hợp
lý.
Về việc thực hiện điều động, luân phiên, luân chuyển công việc: Trên thực
tế, việc luân phiên, luân chuyển chủ yếu thực hiện ở cán bộ nghiệp vụ chuyên môn
• Về chi phí: hạch toán trực tiếp hoặc gián tiếp để kết chuyển các khoản chi
phí không được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ để xác định TNCT trong kỳ như:
+ Tiền lương, tiền công do CSKD không thực hiện đúng chế độ hợp đồng lao
động theo quy định của pháp luật về lao động; tiền lương, tiền công của chủ DN tư
nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, chủ hộ cá thể, cá nhân KD. Thù lao
trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng quản trị của các công ty TNHH,
công ty cổ phần không trực tiếp tham gia điều hành SXKD hàng hóa, dịch vụ.
+ Các khoản tiền phạt vi phạm luật giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng ký
kinh doanh, phạt vay nợ quá hạn, phạt vi phạm chế độ kế toán thống kê, phạt vi
phạm hành chính về thuế và các khoản phạt khác.
+ Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và TNCT như: chi về đầu tư
xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và ủng hộ địa phương;
chi từ thiện và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu, TNCT; các khoản
chi do nguồn kinh phí khác đài thọ và các khoản chi phí không hợp lý khác.
+ Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hết như: chi phí sửa
chữa tài sản cố định; phí bảo hành sản phẩm hàng hóa, công trình xây dựng và các
khoản trích trước khác. Các khoản chi không có hóa đơn, chứng từ theo chế độ quy
định hoặc chứng từ không hợp pháp.
19
Một số DN, hộ gia đình và cá nhân KD cố ý, tìm mọi thủ đoạn để trốn thuế
TNDN phải nộp như không kê khai đăng ký nộp thuế, vi phạm các chế độ về quản
lý và sử dụng hóa đơn, lập khống chứng từ để làm giảm TNCT...
Từ năm 2003 trở về đây, tại TP Đà Nẵng xuất hiện một số DN ngoài quốc
doanh như Công ty TNHH Đà Sơn, Công ty TNHH Tín Hữu, DN tư nhân Thành
Phước, ...thành lập với mục đích mua hóa đơn GTGT để bán lại cho các DN khác
nhằm hợp thức hóa chứng từ chi phí hoặc kê khống chi phí để làm giảm thuế
TNDN phải nộp hoặc bòn rút công quỹ của Nhà nước. Tình trạng mua hóa đơn của
3...
121
440
12.362
3.461
89
163
9.190
2.573
...
...
...
...
(Nguồn : Báo cáo tình hình vi phạm hóa đơn 6 tháng đầu năm 2007 tại Đà Nẵng)
Về ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT: Trong những năm gần đây,
ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn
có nhiều ĐTNT coi việc trốn thuế sự tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Khoa
còn bộc lộ những hạn chế như đã nêu ở trên cùng với yêu cầu của xu thế hội nhập
kinh tế thế giới, để đảm bảo thực thi tốt Luật thuế TNDN trong giai đoạn hiện
nay, góp phần tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước thì việc tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN là một yêu cầu tất yếu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị là hoàn thành
vượt mức kế hoạch thu NSNN do Tổng cục Thuế và Hội đồng nhân dân TP Đà
Nẵng giao cho.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng
Xuất phát từ thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn
TP Đà Nẵng, từ xu thế phát triển và hội nhập, từ yêu cầu cải cách và hiện đại hóa
công tác quản lý thu thuế đòi hỏi sự cần thiết phải hoàn thiện về cơ chế, quy trình
quản lý thuế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế TNDN.
Với kinh nghiệm thực tế, với trình độ nhận thức và nghiên cứu tuy còn hạn chế, tác
giả đưa ra một số ý kiến nhằm tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa
bàn TP Đà Nẵng.
3.2.1. Sử dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong việc lập kế hoạch thanh
tra thuế TNDN tại CSKD
Rủi ro về thuế được hiểu một cách chung nhất là những sự kiện không tuân
thủ cơ chế, chính sách và pháp luật thuế xảy ra như không kê khai thuế, không nộp
thuế, mua bán khống hóa đơn hoặc cán bộ thuế không làm đúng quy trình quản lý
thuế, quy trình thanh tra thuế, ...Từ đó rủi ro về thuế được tiếp cận trên diện rộng:
rủi ro từ môi trường thanh tra, kiểm tra thuế TNDN; từ hệ thống pháp luật chưa
21
đồng bộ; rủi ro từ thủ tục hành chính thuế rườm rà, sơ hở; rủi ro từ phương thức,
biện pháp quản lý thuế TNDN chưa phù hợp; rủi ro từ trình độ và nhận thức trách
nhiệm của cán bộ thuế...
Kê khai tạm nộp thuế TNDN đầu năm đúng thời gian, phù hợp
với tình hình hoạt động SXKD:
Kê khai quyết toán thuế TNDN đúng thời gian, chính xác về số
học:
Báo cáo tài chính năm đúng thời gian, biểu mẫu, chính xác:
Chấp hành nộp thuế đầy đủ, đúng thời gian, nợ thuế dưới 10%
số thuế kê khai phải nộp trong năm
Thực hiện đúng quy định về hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao
động:
Thực hiện doanh thu và hiệu quả hoạt động SXKD
Doanh thu năm báo cáo so năm trước tăng trên 30%:
Doanh thu năm báo cáo so năm trước tăng từ 1030%:
Có hiệu quả hoạt động SXKD:
Có lãi nhưng hiệu quả chưa cao
II
III
Điểm
tối đa
20
5
5
5
5
30
5
5
5
* Trường hợp vừa xuất khẩu vừa có doanh thu tiêu thụ nội địa:
Tỷ trọng doanh thu thanh toán qua ngân hàng trên 70%:
10
Tỷ trọng doanh thu thanh toán qua ngân hàng từ 4070%:
5
Tỷ trọng thanh toán qua ngân hàng dưới 40% :
0
* Thang điểm xếp loại:
DN loại tốt (dán Phiếu màu xanh):
Đạt từ 80100 điểm;
DN loại trung bình (dán Phiếu màu vàng):
Đạt từ 60 đến dưới 80 điểm;
DN loại chưa tốt (dán Phiếu màu đỏ):
Đạt dưới 60 điểm.
* Ghi chú:
Đối với tiêu thức 3: Áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân của
các ngân hàng thương mại hiện nay là 12%/ năm.
+ Chỉ tiêu: “Có hiệu quả”, nếu tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở
hữu đạt bằng mức lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trở lên;
+ Chỉ tiêu: “Có lãi nhưng hiệu quả chưa cao” nếu tỷ suất lợi nhuận trước
thuế trên vốn chủ sở hữu đạt từ 60% lãi suất ngân hàng đến dưới mức lãi suất cho
vay ngắn hạn bình quân của các ngân hàng thương mại.
+ Trường hợp DN lãi dưới 60% mức lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân
của các ngân hàng thương mại thì không chấm điểm tiêu thức này.
+ Đối với các DN không kê khai bổ sung kịp thời về việc thay đổi vốn chủ
sở hữu thì chỉ tính 10 điểm (dù tỷ suất lợi nhuận đạt cao).
DN không đáp ứng chỉ tiêu nào của 1 trong 4 tiêu thức trên thì không chấm.
Trường hợp trong năm DN bị xử phạt vi phạm hành chính một lần với số
tiền từ 03 triệu đồng trở lên thì bị trừ 05 điểm;
Chẳng hạn: qua phân tích Báo cáo kết quả KD của các năm từ 2001 2005:
chuyên viên phân tích nhận thấy chỉ tiêu giá vốn hàng bán năm 2004 đạt 943.769.000
đồng chiếm 85% trên doanh thu và tăng 148% so với năm 2003, trong khi chỉ tiêu
này ở năm 2002 và 2003 chỉ chiếm 82% dẫn đến lợi nhuận gộp chỉ đạt 155.210.000
đồng chiếm 14% trên doanh thu và thấp hơn chỉ tiêu này ở các năm trước. Hoặc tại
chỉ tiêu chi phí bán hàng năm 2004 đạt 77.966.000 đồng, tăng 163% so với năm 2003
nhưng doanh thu năm 2004 chỉ tăng 144% so với năm 2003... Điều đó cho thấy tỷ
trọng chi phí năm 2004 lớn hơn các năm trước dẫn đến lợi nhuận thực hiện giảm
đi... Từ những phân tích trên, chuyên viên phân tích sẽ xác định những yếu tố bất
thường, các rủi ro gian lận về thuế sẽ nằm ở chỉ tiêu nào, cần thiết phải xác minh
và kiểm tra những tài khoản nào, ở những chứng từ sổ sách nào nhằm xác định đúng
đắn TNCT để xác định thuế TNDN phải nộp của từng năm.
Phân tích tỷ suất: là phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều mục trong
báo cáo tài chính. Các tỷ suất tài chính thường được phản ánh bằng tỷ lệ % hoặc số
lần. Phân tích tỷ suất để so sánh một ĐTNT qua nhiều thời kỳ khác nhau hoặc so
sánh cùng thời kỳ với các ĐTNT khác cùng ngành nghề hoặc số liệu chuẩn theo quy
định của ngành. Mục đích nhằm phát hiện những điều bất hợp lý trong báo cáo tài
chính, báo cáo kết quả KD và tờ khai quyết toán thuế TNDN của ĐTNT.
Qua phân tích chiều ngang, chiều dọc và các tỷ suất; cán bộ thuế có thể có
kết luận rủi ro tiềm tàng về kê khai giấu doanh thu tính thuế TNDN, kết chuyển giá
vốn không hợp lý... để xác định số thuế TNDN có khả năng bị gian lận.
* Lựa chọn nghi vấn
24
+ Xác định năm có nghi vấn: là năm có nhiều chỉ tiêu biến động lớn, bất
thường tại kết quả phân tích theo chiều ngang, chiều dọc, theo tỷ suất .
+ Nhận xét tổng quan về kết quả KD so với số thuế TNDN đã kê khai trong
năm có nghi vấn, so sánh với các năm trước liền kề.
Trên 150 triêu đồng.
Rủi ro thấp
Rủi ro trung
bình
Rủi ro cao
Tạm thời chưa kiểm tra
Kiểm tra hoặc thanh tra
thuế
Thanh tra thuế
3
(Cơ sở phân loại: Khung hình phạt tội trốn thuế theo Luật Hình sự hiện nay)
• Bước bốn: kiểm tra rủi ro: các DN được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro
về thuế cao phải được tiến hành kiểm tra ở mức độ chi tiết, cụ thể hơn các rủi ro
đã phát hiện qua bước phân tích. Thanh tra phải tiến hành thu thập các thông tin, tài
liệu liên quan trực tiếp đến rủi ro như: các hợp đồng, các chứng từ giao dịch, về
xuất nhập khẩu, ... Từ đó kiểm tra xác định mức độ của từng rủi ro và định lượng
của từng rủi ro để có phương pháp xử lý trên cơ sở các nguồn lực hiện có.
• Bước năm: lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra tại DN: đối với các DN đã xác
định được các rủi ro và định lượng được mức độ rủi ro ở mức độ cao hoặc trung
bình đều phải đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra của cơ quan Thuế. Cụ thể:
Kiểm tra thuế TNDN đối với các DN đã xác định được các rủi ro và định
lượng được mức độ rủi ro trung bình đối với các DN loại trung bình, quy mô nhỏ
nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm về thuế. Thông qua đó nhắc nhở,
hướng dẫn để ĐTNT khắc phục các sai sót, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật
thuế.
ết toán thuế TNDN,
dấu hiệếu , tài chính
vi
ạm từ nhiậềy đ
u ngu
ồạ
n: Đi
u tra, thẩm định, gi
ải quy
ết khiếu nại,...đ
ể phân
củph
a DN. Do v
ể ho
t độềng thanh tra, ki
ểm tra thu
ế TNDN có hi
ệu qu
ả thông qua
i ro
việtích r
c lậủ
p k
ế hoạch thanh tra thì cơ quan Thuế phải trang bị kỹ năng phân tích rủi ro,
kiếXác
n thứđc chuyên sâu v
ề phân tích tài chính DN cho cán b
ộ làm công tác thanh tra đ
ể
ịnh nội dung
ế TNDN là quy trình xuyên su
ốt trong hoạt
thanh tra chi tiết ất hỗ trợ và bổ sung cho quy trình
động thanh tra, kiểm tra thuế TNDN, mang tính ch
quản lý thuế TNDN. Để thực hiện cơ chế quản lý thuế theo mô hình chức năng,
phù h
ợp với địa bàn TP Đà N
ẵế
ng, thì vi
ện quy trình thanh tra kiểm tra
Thanh tra t
ại cơ quan Thu
(là chủệ yc hoàn thi
ếu):
Chuyển hồ sơ trốn
thuPhân
ế TNDN là m
ột đi
ều ctích
ần thi
ết để ho
ạt đ
ộng thanh tra, ki
ểm tra thuế TNDN đạt
tích rủi ro;
phân
chuyên
sâu
các
chỉ
Lưu trữ
hồ sơ
Xác minh
số liệu, tài
liệu.
Kết luận thanh tra:
chấp hành pháp luật
thuế, chế độ kế toán, hóa
đơn, các hành vi vi phạm.
Theo dõi
Quyết định
xử lý
Báo cáo thực hiện kế
hoạch thanh tra, tổng
kết kinh nghiệm.