Tiểu luận: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế - Pdf 59

TIỂU LUẬN
Đề tài:
Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất  
lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc  
tế.

1


MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng,  ở  mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn  
tại và phát triển đều rất cần đến con người. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” 
luôn được cha ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố  cốt lõi của nguồn lực con  
người trong mọi thời đại. Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa 
học thực sự đã trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn 
khoảng cách về  không gian và thời gian thì chính tiềm lực khoa học ­ công nghệ  và  
trình độ dân trí mới là nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế 
giới. Vì thế   ưu tiên phát triển nhân tố  con người, đặc biệt là đầu tư  đào tạo nguồn 
nhân lực có chuyên môn, khoa học kỹ thuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước 
mà còn làm chủ và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế trong tiến trình hội 
nhập của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Thực tế  hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn  
nhân lực có chất lượng cao, lấy vấn đề  đào tạo và xây dựng nó làm “ quốc sách hàng  
đầu” trong chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay.
Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ  trương chính sách phát triển đất  
nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ  quá độ  và chiến lược phát triển  
kinh tế – xã hội của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn  
lực của mọi nguồn lực, quyết định sự  hưng thịnh của đất nước. Đại hội lần thứ  IX  
của Đảng đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động  
có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng  
và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công  

3


Ở nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ  nguồn nhân lực chất lượng cao xuất hiện đó 
là trong Văn kiện Đảng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ  X khẳng định “Phát triển 
nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành”. Nó đã thể  hiện  
rằng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam có những điểm mới, trong  
đó tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đó là bước đột phá nhằm 
sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời tạo sự  phát triển  
nhanh, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. 
Những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đi sâu vào để tìm hiểu,  
nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một số quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao. 
Tiêu biểu như: 
Trong “Vấn  đề  con người trong sự  nghiệp công nghiệp hóa, hiện  đại hóa”, 
GS.VS.TS.Phạm Minh Hạc quan niệm  nguồn nhân lực chất lượng cao  là: Đội ngũ 
nhân lực có trình độ  và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao 
công nghệ  tiên tiến, thực hiện có hiệu quả  việc  ứng dụng vào điều kiện nước ta, là 
hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở  rộng  
theo kiểu “vết dầu loang”, bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ  và năng lực 
thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh. 
Ở  trên tác giả  nhấn mạnh đến “trình độ  và năng lực” ,chú trọng đến chuyển  
giao công nghệ.
Còn theo GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn trong “Nghiên cứu văn hóa con người,  
nguồn nhân lực đầu thế  kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để  chỉ 
“lực lượng lao động có học vấn, có trình độ  chuyên môn cao và nhất là có khả  năng 
thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất”.  Tác giả chỉ 
chú trọng đến học vấn và chuyên môn.
Nguồn nhân lực chất lượng cao  được TS.Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong 
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại 
hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm  

sản xuất trực tiếp, người công nhân không những sử  dụng các công cụ  lao động hiện 
có, mà còn có thể  sáng chế  ra những tư  liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ  thuật và 
phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động “đầu tàu”của nguồn nhân lực chất lượng 
cao là đội ngũ trí thức.  Đội ngũ trí thức Đảng ta đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, 
5


tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo  
và truyền bá tri thức”để mở rộng hợp tác quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt 
với các tổ  chức quốc tế, các tổ  chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Luôn mở 
rộng hợp tác với các tổ  chức khoa học và công nghệ  trong khu vực và trên thế  giới, 
chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, thu hút nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho  
trí thức trong nước giao lưu khoa học với thế giới bằng các hình thức phù hợp…
1.1.1.2. Đào tạo, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ­ kinh nghiệm  
ở một số nước trên thế giới
Trong mấy chục năm gần đây, nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy sự  phát triển  
rất nhanh chóng của nhiều nước  ở khu vực Đông á bao gồm Nhật Bản, Hàn quốc và 
Đài Loan cũng như  tốc độ  tăng trưởng kinh tế  nhanh của nhiều nước công nghiệp 
mới,   các   nước   ASEAN  ,  Trung   Quốc  và   ngay   cả   những  nước   rất   phát   triển   như 
Mỹ.Tất cả đều phần lớn nhờ vào sự phát triển của nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Ở  châu Á,  Nhật Bản  là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn  
nhân lực. chúng ta đã biết rằng Nhật – là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên vì vậy  
để phát triển họ chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản và Chính phủ 
nước này ngay từ  rất lâu đã đặc biệt chú trọng tới tiềm năng của nguồn lực quý giá 
này thông qua sự  phát triển của giáo dục đào tạo, thực sự  coi đây là quốc sách hàng 
đầu. Cụ thể như  chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt  
buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí. Kết quả là, tỷ 
lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều. Nhật 
Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới. Thực tế hiện nay là 
một minh chứng cụ thể nhất. Nhật đã đứng trong top những cường quốc trên thế giới. 

mà hiện nay họ đang là một trong những nước có nền giáo dục đứng  trong tốp đầu. 
Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả  năng, sở  thích 
cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng  
của mình. Bên cạnh việc  ứng dụng các tiến bộ  của khoa học ­ công nghệ  mới vào 
giảng dạy, chương trình đào tạo của Xin­ga­po luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, 
truyền thống văn hóa dân tộc. 
Chủ  trương thu hút sinh viên quốc tế  đến học tập, Chính phủ  Xin­ga­po miễn  
xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí 
học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng... Nhà 
nước Xin­ga­po chỉ đầu tư  vào rất ít trường công lập để  có chất lượng mẫu mực, có  
chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài. Đối với khối ngoài công lập,  
7


Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước  
ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh...
Trên đây là những ví dụ điển hình cho việc coi trọng và phát triển nguồn lực con 
người mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đã đem lại thành công và vị  thế 
trên trường quốc tế của các quốc gia.
1.1.2. Mối quan hệ    giữa   nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng  
cao
Với bài tham luận “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ­ Nhu cầu cấp  
bách” Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Thế  Tuyển dẫn chứng, cụm từ 
“nguồn nhân lực” trên công cụ  tìm kiếm Google, trong 0,1 giây cho ra 65.300.000 kết  
quả;  còn  nếu   gõ  cụm  từ   “nguồn   nhân  lực   chất  lượng   cao”,   trong   0,1  giây   cho   ra  
29.500.000 kết quả. Những con số đó đã phần nào nói lên tầm quan trọng của nguồn  
nhân lực, mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại khoa học ­ kỹ 
thuật phát triển như vũ bão với một quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách  
chóng mặt ở mọi ngõ ngách của thế giới như hiện nay.
Khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt  

giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”. Sở  dĩ người ta 
nói đến tính vô tận, tính không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn  
lực con người chính là nói tới yếu tố trí tuệ. Trí tuệ của con người ngày càng phát triển 
và có tác động mạnh mẽ  nhất đối với sự  tiến bộ  và phát triển xã hội. Nhà tương lai 
học Mỹ­ Alvin Toffler khẳng định rằng, mọi nguồn lực tự  nhiên đều có thể  bị  khai  
thác cạn kiệt, chỉ  có trí tuệ  con người là không bao giờ  cạn kiệt và “tri thức có tính  
chất lấy không bao giờ  hết”. Để  khẳng định mình trong một thế giới cạnh tranh đầy 
khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò sống còn đối với một nền kinh 
tế đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam
Và tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia,  nguồn nhân lực chất lượng cao 
chính là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng 
nhất. Bởi vậy, khi bàn về  nguồn nhân lực chất lượng cao  không thể  không đặt nó 
trong tổng thể vấn đề nguồn nhân lực nói chung của một đất nước. 
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu  
của thị  trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến  
9


thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ  năng: kỹ  thuật, tìm và tự  tạo việc làm, làm  
việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công 
việc.
Như  vậy,  nguồn nhân lực chất lượng cao  cao phải là những con người phát 
triển cả  về trí lực và thể lực, cả  về khả năng lao động, về  tính tích cực chính trị  ­ xã 
hội, về  đạo đức, tình cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể  không 
cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất, chất lượng.
 1.2. Yêu cầu của  ngu
  ồn nhân lực chất lượng cao 
Nguồn nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị  cao,  
nghĩa là nếu một người nào đó cho dù có học hàm, học vị cao nhưng lại không có đóng 
góp gì thực sự có giá trị  về  mặt khoa học  hay thực tiễn trong suốt quá trình lao động 

Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn:
Thứ  nhất,  nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có   đạo  
đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách 
nhiệm với công việc. Cao hơn cả, đạo đức nghề  nghiệp còn thể  hiện  ở  mong muốn  
đóng góp tài năng, công sức của mình vào sự  phát triển chung của dân tộc. Đây được 
coi là tiêu chí mang lại tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các 
định nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có  khả năng  
thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn. Tiêu chí này đòi 
hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ  chuyên môn, kỹ  thuật cao, để  có khả  năng thích  
ứng tốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay. Điều  
này cũng có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để 
không bị  động trước những thay đổi nhanh chóng cả  về  nội dung và cách thức tiến 
hành công việc của thời đại toàn cầu hóa vá kinh tế tri thức.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có  khả năng  
sáng tạo trong công việc.
Sáng tạo bao giờ  cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự  phát triển. Đặc 
biệt trong thời đại ngày nay, những gì là mới và sôi động của ngày hôm qua nhanh  
chóng trở thành cũ kỹ và tầm thường trong ngày hôm nay. Nếu không liên tục có những  
ý tưởng sáng tạo thì hoạt động của các tổ chức và suy rộng ra là của một dân tộc sẽ bị 
11


tê liệt. Vì vậy, tiêu chí này nhằm xác định nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung 
nhưng đặc biệt nhấn mạnh tới một lực lượng tinh túy nhất, đó là những nhà lãnh đạo, 
chủ doanh nghiệp và các nhà khoa học. Họ được gọi chung là nhân tài. Họ, “trước hết 
phải là những người có nhân cách, trí tuệ phát triển, có một số phẩm chất nổi bật mà 
rất ít người có, đồng thời phải là người giàu tính sáng tạo, có tư  duy độc đáo, giải 
quyết các công việc nhanh, chính xác, mang lại hiệu quả rất cao”
Và  một yếu tố không thể  thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là  sức  

của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để  tăng cường sức mạnh của đất  
nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên 
ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và 
nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc.
Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động 
tăng cường sự  gắn kết họ  với nhau dựa trên sự  chia sẻ  về  lợi ích, mục tiêu, giá trị, 
nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ  các luật chơi 
chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
1.3.2. Tác động của hội nhập quốc tế đến nguồn nhân lực chất lượng cao
1.3.2.1. Thách thức
Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một 
bộ phận lại chịu sự tác động riêng của quá trình này. Là bộ phận không thể thiếu của 
một quốc gia nguồn nhân lực chất lượng cao cũng sẽ  có cơ  hội phát triển cũng như 
thách thức khó khăn trong quá trình hội nhập.
Quá trình hội nhập sẽ tiếp nhận những công nghệ  mới ­ đặc biệt là công nghệ 
máy tính –   làm thay đổi bản chất của công việc, đòi hỏi người lao động nói chung 
phải được trang bị  những kỹ  năng tổng hợp thông tin và kỹ  năng tư  duy độc lập, họ 
cần có khả năng học tập sâu hơn, phân tích dữ liệu tốt hơn và ứng phó giải quyết các  
vấn đề mới nhanh hơn. Nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng có nhiều cơ hội để 
nâng cao khả năng cũng như để hoàn thiện mình hơn.
Hội nhập và mở cửa làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu giá cả, khả năng 
và cách thức tiêu dùng dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế và thu nhập của người 
13


dân trong những khu vực chưa theo kịp với tiến trình toàn cầu hoá (việc làm năng suất  
thấp, thu nhập thấp do kỹ năng thấp). Đặc biệt là về tiền lương và thưởng phải đảm 
bảo thu hút nhân tài luôn là vấn đề nan giải. Lương phải đảm bảo sự khuyến khích và  
thỏa mãn những nhu cầu cần thiết  người lao động nói chung, phải đảm bảo cung cấp  
điều kiện làm việc phù hợp với năng lực chuyên môn nghề nghiệp của nguồn nhân lực 

huấn luyện đào tạo nâng cao tay nghề cho nhân viên.
Ngoài việc phải nâng cao trình độ  chuyên môn kỹ  thuật, mức độ  lành nghề  thì  
các yêu cầu khác về  chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như  những thách  
thức mới trông quá trình hội nhập. Đó là yêu cầu về  ngoại ngữ, tin học, tác phong và  
văn hoá  ứng xử  công nghiệp, hiểu biết về  luật pháp và thông lệ  quốc tế… Điều này 
đòi hỏi lao động phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần  
phải loại bỏ  những yếu tố  không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá  
Việt.
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô 
thị  đang là vấn đề  thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa 
phương và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO 
(năm 2007), thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức  
độ  lớn hơn. Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể  dẫn tới nguy cơ  tăng khoảng  
cách thu nhập của người lao động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền 
lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu 
nhập của lao động chất lượng cao và các bộ  phận khác  và vẫn đảm bảo “giữ   chân  
người tài”­một thực tế khó khăn.
Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định 
các vấn đề  liên quan đến lao động trẻ  em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối  
xử tại nơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt  
ra cho nguồn nhân lực các vấn đề  mới cần giải quyết, như chi phí về  nhân công tăng  
lên, các điều kiện làm việc cần được đầu tư  và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp  
hội tự do trong các ngành nghề… Và nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng được tiêu 
chuẩn hóa cao hơn, khắt khe hơn nữa.
1.3.2.2. Cơ hội 
15


Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng  
giai đoạn 2006­2010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế  quốc tế  theo hướng  ổn định,  

doanh cá thể… Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và  
tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát 
triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên 
gia giữa các nước với Việt Nam sẽ  làm cho trình độ  chuyên môn kỹ  thuật, tăng khả 
năng cơ  giới hóa trong nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động cũng như 
trình độ, nhận thức của nười nông dân. Hợp tác quốc tế  về  lao động có cơ  hội phát  
triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để  có thể làm chủ các công nghệ 
và thiết bị tiên tiến trên thế giới. Như hiện nay qua tìm hiểu trên các các kênh thông tin  
đại chúng đã có rất nhiều phát minh sáng kiến ra đời mà chủ  nhân của nó không ai xa 
lạ chính là từ các bác nông dân được biết đến xưa nay “bán mặt cho đất bán lưng cho 
trời”  cải tạo công cụ sản xuất của họ như: máy tuốt gặt liên hoàn, máy bóc ngô, v.v… 
Họ cũng chính là một bộ phận không thể thiếu của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự 
án hợp tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn 
tài chính dồi dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao  
động theo định hướng thị  trường. Đó là những lao động có trình độ  chuyên môn kỹ 
thuật cao. Trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ  thuật phải được cắt 
giảm. Tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào 
phân công và hợp tác lao động quốc tế. Đặt nền móng cho việc tạo việc làm và phát 
triển nguồn nhân lực một cách ổn định và bền vững nhất.
1.3.3. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đến quá trình hội nhập
Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". 
Còn nhà tương lai Mỹ  Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông  
"Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi 
sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên".
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng 
trưởng và phát triển kinh tế ­ xã hội nói chung. Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ 
17




Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để  rút ngắn khoảng cách tụt hậu, 
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh hợp tác giao lưu học hỏi kinh nghiệm với  
các nước.
Vậy nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Quá 
trình hội nhập trình là quá trình lao vào vũ trụ bao la mà người cầm lái chính là  nguồn 
nhân lực chất lượng cao. Con tàu chỉ đi đúng hướng khi người cầm lái thực sự  có đủ 
khả  năng năng lực để  điều khiển nó. “Khả  năng” này gắn liền với nghĩa vụ  và trách 
nhiệm.

CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 
HIỆN NAY TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo số liệu mới nhất về dân số tính đến năm 2009, Việt Nam có trên 44 triệu 
lao động trên tổng số 89 triệu dân và là một nước có nguồn lao động dồi dào so với  
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.Về quy mô dân số, Việt Nam là nước đứng 
thứ  2 trong khu vực và đứng thứ  13 trên thế  giới. Trong số 89 triệu dân thì chiếm tới  
50% là số người nằm trong độ tuổi lao động và nhóm tuổi từ 15 tới 34 tuổi chiếm hơn  
45% tổng số lực lượng lao động. Cũng theo số liệu này thì hàng năm có khoảng từ 1,5 
đến 1,7 triệu người nhập vào lực lượng lao động. Nhìn chung, cung lao động tại Việt  
19


Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về  lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao  
động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao  
động không đồng đều giữa các vùng, miền.
Tuy nhiên so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế 
nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân 

công ty kinh doanh chứng khoán cũng vậy. Hàng loạt các công ty ra đời và kèm theo đó  
là việc tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, vì thế  nguồn nhân lực chất lượng  
cao ngành này ngày càng khan hiếm. Trong năm 2007, nguồn nhân lực cho ngành ngân 
hàng chỉ  có khoảng 2000 sinh viên ra trường nên chỉ  đáp  ứng được khoảng 40% nhu 
cầu. Sự  khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ  cao đã khiến cho các doanh nghiệp  
phải sử dụng tới các chuyên gia là người nước ngoài và đương nhiên là phải trả  tiền 
lương cho họ  mức lương rất cao (đây là một điều thực sự  đáng suy nghĩ đối với bất  
cứ người Việt Nam nào có lòng tự  trọng dân tộc). Một số dịch vụ ngân hàng, y tế  có 
tới 40% tổng số  lao động có thu nhập cao từ  14.000 USD/năm trở  lên đều thuộc về 
người nước ngoài. Tại một nhà máy gia công giầy ở  Đồng Nai, tiền lương mà doanh  
nghiệp phải trả cho 70 chuyên gia là người nước ngoài tương đương với tổng số tiền  
lương mà doanh nghiệp trả cho 20.000 lao động người Việt Nam.Tại một Nhà máy xi  
măng  ở  tỉnh Thanh Hoá, 20 vị  trí lao động chủ  chốt, người Việt Nam lại giao cho  
người nước ngoài là người Nhật Bản    đảm nhiệm và họ  đã được trả  tiền lương  ở 
mức tương đương với tổng số  lương của 2000 công nhân người Việt Nam (đây quả 
thực là một điều rất thiệt thòi cho người dân Việt Nam).  Có rất nhiều nguyên nhân 
khác nhau dẫn tới tình trạng cung nhân lực có chất lượng cao không đáp ứng được nhu 
cầu. Theo  điều tra mới  đây của Bộ  kế  hoạch và Đầu tư, gần 18% số  các doanh 
nghiệp Việt Nam, kể cả các tổ chức tín dung, ngân hàng được hỏi đều gặp khó khăn  
trong việc   đào tạo nguồn nhân lực  lành nghề  và  có trình độ  cao cho chính doanh 
nghiệp của họ. Nguyên nhân chính của việc này là do các doanh nghiệp thiếu thông tin  
và chưa tiếp cận một cách hiệu quả được với các dịch vụ đào tạo. Có nhiều sinh viên 
đã không được định hướng tốt trong việc chọn trường, chọn ngành nghề  theo học. 
Cũng một phần do chất lượng đào tạo  ở  các cơ  sở  đào tạo không đáp ứng được nhu 
cầu, điều này đã tạo ra sự  lãng phí lớn đối với bản thân người được đào tạo và đối  
21


với xã hội, đó chính là sự  yếu kém trong công tác quản lý nguồn nhân lực có chất 
lượng cao và suy cho cùng thì lực lượng lao động ở Việt Nam chưa phát triển.



 2.3. Khó khăn, thách th  ức 
Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền kinh tế  tri thức thì chất lượng nguồn nhân  
lực ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có  
thể  đáp  ứng được 35 đến 40% nhu cầu nhân sự  bậc cao của các doanh nghiệp. Thị 
trường nhân sự  cấp cao của Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ  khủng hoảng  
trầm trọng vì không đủ khả năng bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế. 
Theo khảo sát của Trung tâm Dự  báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị  trường 
lao động TPHCM, chỉ  có khoảng 40% sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp tìm được 
việc làm đúng ngành, đúng trình độ; 60% còn lại phải làm trái ngành hoặc thấp hơn  
trình độ đào tạo.
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm thì nguyên nhân tình trạng 
trên là do sinh viên chạy đua theo phong trào, học ngành “hot” dẫn đến cảnh ngành cần 
người làm lại ít người học, ngành nhiều người học lại ít chỗ  làm. Khi ra trường, sự 
mất cân đối này dẫn đến việc những lao động có trình độ  chuyên môn kỹ  thuật này  
phải làm những công việc trái ngành. Thậm chí một số  doanh nghiệp phải cử  đi đào 
tạo lại ở nước ngoaì hoặc thuê nước gây sự lãng phí nguồn lực quá lớn.
Theo xu hướng chung hiện nay, lực lượng lao động tri thức học sinh sinh viên  
đều thích đi du học và làm việc  ở  nước ngoài. Đến khi về  già mới trở  về  nước để 
đóng góp một phần sức lực cuối cùng cho đất nước quê hương.Và còn phần đa bộ 
phận công nhân tài năng còn lại trong nước thì thích làm việc trong các doanh nghiệp  
nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài.
Có thể nói, từ những thực trạng trên, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực cao đã 
được đặt ra một cách cấp bách trong thời kì hội nhập. Trước hết, phải đi tìm nguyên  
nhân của “sự khủng hoảng này.
Chúng ta sử dụng vốn nhiều chứ không chú trọng đến nguồn nhân lực chất 
lượng cao thế thì mô hinh kinh tế này nó đúng trong một giai đoạn nào đấy nhưng  nếu 
để dài quá thì nó sẽ gây ra thảm họa về hiệu quả.Trong nhân lõi các mô hình đó chúng 
ta thấy bóng dáng của công nghệ và chất lượng cao rất ít. Đó là ý kiến của ông Trần 

nước.
­ Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ  thì phải nâng cao chất lượng và  
hiệu quả  sử  dụng thông qua việc trang bị đầy đủ  những yếu tố  thiết bị  kĩ thuật hiện  
đại và đảm bảo một môi trường làm việc hợp lí . Đây là một trong những nhiệm vụ 
vừa mang tính cấp bách, vừa có tầm chiến lược nhằm tạo ra lực lượng đầu đàn trong  
đội ngũ những người lao động, góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao của  
nước ta.
­ Đối với công nhân kỹ thuật thì cần phải có kế hoạch đào tạo và nâng cao tay  
nghề cụ thể rõ ràng vì đây là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình sản 
xuất.
Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho 
mọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và  
trên thế giới. Mở những đợt tuyên truyền rộng rãi, thấm sâu vào lòng người về nguồn  
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status