TIỂU LUẬN
Đề tài:
Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc
tế.
1
MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng, ở mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn
tại và phát triển đều rất cần đến con người. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”
luôn được cha ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố cốt lõi của nguồn lực con
người trong mọi thời đại. Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa
học thực sự đã trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn
khoảng cách về không gian và thời gian thì chính tiềm lực khoa học công nghệ và
trình độ dân trí mới là nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế
giới. Vì thế ưu tiên phát triển nhân tố con người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn
nhân lực có chuyên môn, khoa học kỹ thuật không những đáp ứng nhu cầu trong nước
mà còn làm chủ và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế trong tiến trình hội
nhập của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Thực tế hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn
nhân lực có chất lượng cao, lấy vấn đề đào tạo và xây dựng nó làm “ quốc sách hàng
đầu” trong chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay.
Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ trương chính sách phát triển đất
nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn
lực của mọi nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước. Đại hội lần thứ IX
của Đảng đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động
có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng
và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công
3
Ở nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao xuất hiện đó
là trong Văn kiện Đảng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định “Phát triển
nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành”. Nó đã thể hiện
rằng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam có những điểm mới, trong
đó tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đó là bước đột phá nhằm
sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời tạo sự phát triển
nhanh, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế.
Những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đi sâu vào để tìm hiểu,
nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một số quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tiêu biểu như:
Trong “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,
GS.VS.TS.Phạm Minh Hạc quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao là: Đội ngũ
nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao
công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là
hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng
theo kiểu “vết dầu loang”, bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực
thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh.
Ở trên tác giả nhấn mạnh đến “trình độ và năng lực” ,chú trọng đến chuyển
giao công nghệ.
Còn theo GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn trong “Nghiên cứu văn hóa con người,
nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để chỉ
“lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng
thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất”. Tác giả chỉ
chú trọng đến học vấn và chuyên môn.
Nguồn nhân lực chất lượng cao được TS.Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm
sản xuất trực tiếp, người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện
có, mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và
phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động “đầu tàu”của nguồn nhân lực chất lượng
cao là đội ngũ trí thức. Đội ngũ trí thức Đảng ta đã khẳng định: “Trong mọi thời đại,
5
tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo
và truyền bá tri thức”để mở rộng hợp tác quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt
với các tổ chức quốc tế, các tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Luôn mở
rộng hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ trong khu vực và trên thế giới,
chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, thu hút nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi cho
trí thức trong nước giao lưu khoa học với thế giới bằng các hình thức phù hợp…
1.1.1.2. Đào tạo, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kinh nghiệm
ở một số nước trên thế giới
Trong mấy chục năm gần đây, nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy sự phát triển
rất nhanh chóng của nhiều nước ở khu vực Đông á bao gồm Nhật Bản, Hàn quốc và
Đài Loan cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của nhiều nước công nghiệp
mới, các nước ASEAN , Trung Quốc và ngay cả những nước rất phát triển như
Mỹ.Tất cả đều phần lớn nhờ vào sự phát triển của nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn
nhân lực. chúng ta đã biết rằng Nhật – là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên vì vậy
để phát triển họ chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản và Chính phủ
nước này ngay từ rất lâu đã đặc biệt chú trọng tới tiềm năng của nguồn lực quý giá
này thông qua sự phát triển của giáo dục đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng
đầu. Cụ thể như chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt
buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học miễn phí. Kết quả là, tỷ
lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều. Nhật
Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới. Thực tế hiện nay là
một minh chứng cụ thể nhất. Nhật đã đứng trong top những cường quốc trên thế giới.
mà hiện nay họ đang là một trong những nước có nền giáo dục đứng trong tốp đầu.
Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng, sở thích
cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng
của mình. Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ mới vào
giảng dạy, chương trình đào tạo của Xingapo luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách,
truyền thống văn hóa dân tộc.
Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Xingapo miễn
xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí
học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng... Nhà
nước Xingapo chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có
chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài. Đối với khối ngoài công lập,
7
Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước
ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh...
Trên đây là những ví dụ điển hình cho việc coi trọng và phát triển nguồn lực con
người mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đã đem lại thành công và vị thế
trên trường quốc tế của các quốc gia.
1.1.2. Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng
cao
Với bài tham luận “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nhu cầu cấp
bách” Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Thế Tuyển dẫn chứng, cụm từ
“nguồn nhân lực” trên công cụ tìm kiếm Google, trong 0,1 giây cho ra 65.300.000 kết
quả; còn nếu gõ cụm từ “nguồn nhân lực chất lượng cao”, trong 0,1 giây cho ra
29.500.000 kết quả. Những con số đó đã phần nào nói lên tầm quan trọng của nguồn
nhân lực, mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại khoa học kỹ
thuật phát triển như vũ bão với một quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách
chóng mặt ở mọi ngõ ngách của thế giới như hiện nay.
Khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt
giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”. Sở dĩ người ta
nói đến tính vô tận, tính không bị cạn kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn
lực con người chính là nói tới yếu tố trí tuệ. Trí tuệ của con người ngày càng phát triển
và có tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ và phát triển xã hội. Nhà tương lai
học Mỹ Alvin Toffler khẳng định rằng, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai
thác cạn kiệt, chỉ có trí tuệ con người là không bao giờ cạn kiệt và “tri thức có tính
chất lấy không bao giờ hết”. Để khẳng định mình trong một thế giới cạnh tranh đầy
khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò sống còn đối với một nền kinh
tế đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam
Và tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao
chính là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng
nhất. Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó
trong tổng thể vấn đề nguồn nhân lực nói chung của một đất nước.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu
của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến
9
thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm
việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công
việc.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao cao phải là những con người phát
triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị xã
hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không
cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất, chất lượng.
1.2. Yêu cầu của ngu
ồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa với học hàm, học vị cao,
nghĩa là nếu một người nào đó cho dù có học hàm, học vị cao nhưng lại không có đóng
góp gì thực sự có giá trị về mặt khoa học hay thực tiễn trong suốt quá trình lao động
Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn:
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo
đức nghề nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách
nhiệm với công việc. Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn
đóng góp tài năng, công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc. Đây được
coi là tiêu chí mang lại tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các
định nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng
thích ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn. Tiêu chí này đòi
hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích
ứng tốt với những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay. Điều
này cũng có nghĩa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải có bản lĩnh nghề nghiệp để
không bị động trước những thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và cách thức tiến
hành công việc của thời đại toàn cầu hóa vá kinh tế tri thức.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng
sáng tạo trong công việc.
Sáng tạo bao giờ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Đặc
biệt trong thời đại ngày nay, những gì là mới và sôi động của ngày hôm qua nhanh
chóng trở thành cũ kỹ và tầm thường trong ngày hôm nay. Nếu không liên tục có những
ý tưởng sáng tạo thì hoạt động của các tổ chức và suy rộng ra là của một dân tộc sẽ bị
11
tê liệt. Vì vậy, tiêu chí này nhằm xác định nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung
nhưng đặc biệt nhấn mạnh tới một lực lượng tinh túy nhất, đó là những nhà lãnh đạo,
chủ doanh nghiệp và các nhà khoa học. Họ được gọi chung là nhân tài. Họ, “trước hết
phải là những người có nhân cách, trí tuệ phát triển, có một số phẩm chất nổi bật mà
rất ít người có, đồng thời phải là người giàu tính sáng tạo, có tư duy độc đáo, giải
quyết các công việc nhanh, chính xác, mang lại hiệu quả rất cao”
Và một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức
của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất
nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên
ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và
nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc.
Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động
tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị,
nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi
chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
1.3.2. Tác động của hội nhập quốc tế đến nguồn nhân lực chất lượng cao
1.3.2.1. Thách thức
Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một
bộ phận lại chịu sự tác động riêng của quá trình này. Là bộ phận không thể thiếu của
một quốc gia nguồn nhân lực chất lượng cao cũng sẽ có cơ hội phát triển cũng như
thách thức khó khăn trong quá trình hội nhập.
Quá trình hội nhập sẽ tiếp nhận những công nghệ mới đặc biệt là công nghệ
máy tính – làm thay đổi bản chất của công việc, đòi hỏi người lao động nói chung
phải được trang bị những kỹ năng tổng hợp thông tin và kỹ năng tư duy độc lập, họ
cần có khả năng học tập sâu hơn, phân tích dữ liệu tốt hơn và ứng phó giải quyết các
vấn đề mới nhanh hơn. Nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng có nhiều cơ hội để
nâng cao khả năng cũng như để hoàn thiện mình hơn.
Hội nhập và mở cửa làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu giá cả, khả năng
và cách thức tiêu dùng dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế và thu nhập của người
13
dân trong những khu vực chưa theo kịp với tiến trình toàn cầu hoá (việc làm năng suất
thấp, thu nhập thấp do kỹ năng thấp). Đặc biệt là về tiền lương và thưởng phải đảm
bảo thu hút nhân tài luôn là vấn đề nan giải. Lương phải đảm bảo sự khuyến khích và
thỏa mãn những nhu cầu cần thiết người lao động nói chung, phải đảm bảo cung cấp
điều kiện làm việc phù hợp với năng lực chuyên môn nghề nghiệp của nguồn nhân lực
huấn luyện đào tạo nâng cao tay nghề cho nhân viên.
Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì
các yêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách
thức mới trông quá trình hội nhập. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và
văn hoá ứng xử công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này
đòi hỏi lao động phải nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần
phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá
Việt.
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô
thị đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa
phương và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO
(năm 2007), thực trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức
độ lớn hơn. Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng
cách thu nhập của người lao động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền
lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu
nhập của lao động chất lượng cao và các bộ phận khác và vẫn đảm bảo “giữ chân
người tài”một thực tế khó khăn.
Trên thực tế, tiêu chuẩn lao động của quốc tế mang tính nhân quyền cao như: qui định
các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; chống phân biệt đối
xử tại nơi làm việc, tự do hiệp hội và thoả ước lao động tập thể… Điều này đang đặt
ra cho nguồn nhân lực các vấn đề mới cần giải quyết, như chi phí về nhân công tăng
lên, các điều kiện làm việc cần được đầu tư và cải thiện tốt hơn, thành lập các hiệp
hội tự do trong các ngành nghề… Và nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng được tiêu
chuẩn hóa cao hơn, khắt khe hơn nữa.
1.3.2.2. Cơ hội
15
Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhưng
giai đoạn 20062010, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng ổn định,
doanh cá thể… Điều này đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và
tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát
triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên
gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật, tăng khả
năng cơ giới hóa trong nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động cũng như
trình độ, nhận thức của nười nông dân. Hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát
triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để có thể làm chủ các công nghệ
và thiết bị tiên tiến trên thế giới. Như hiện nay qua tìm hiểu trên các các kênh thông tin
đại chúng đã có rất nhiều phát minh sáng kiến ra đời mà chủ nhân của nó không ai xa
lạ chính là từ các bác nông dân được biết đến xưa nay “bán mặt cho đất bán lưng cho
trời” cải tạo công cụ sản xuất của họ như: máy tuốt gặt liên hoàn, máy bóc ngô, v.v…
Họ cũng chính là một bộ phận không thể thiếu của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự
án hợp tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn
tài chính dồi dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao
động theo định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao. Trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt
giảm. Tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào
phân công và hợp tác lao động quốc tế. Đặt nền móng cho việc tạo việc làm và phát
triển nguồn nhân lực một cách ổn định và bền vững nhất.
1.3.3. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đến quá trình hội nhập
Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".
Còn nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông
"Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi
sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên".
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ
17
Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh hợp tác giao lưu học hỏi kinh nghiệm với
các nước.
Vậy nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Quá
trình hội nhập trình là quá trình lao vào vũ trụ bao la mà người cầm lái chính là nguồn
nhân lực chất lượng cao. Con tàu chỉ đi đúng hướng khi người cầm lái thực sự có đủ
khả năng năng lực để điều khiển nó. “Khả năng” này gắn liền với nghĩa vụ và trách
nhiệm.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
HIỆN NAY TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo số liệu mới nhất về dân số tính đến năm 2009, Việt Nam có trên 44 triệu
lao động trên tổng số 89 triệu dân và là một nước có nguồn lao động dồi dào so với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.Về quy mô dân số, Việt Nam là nước đứng
thứ 2 trong khu vực và đứng thứ 13 trên thế giới. Trong số 89 triệu dân thì chiếm tới
50% là số người nằm trong độ tuổi lao động và nhóm tuổi từ 15 tới 34 tuổi chiếm hơn
45% tổng số lực lượng lao động. Cũng theo số liệu này thì hàng năm có khoảng từ 1,5
đến 1,7 triệu người nhập vào lực lượng lao động. Nhìn chung, cung lao động tại Việt
19
Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao
động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao
động không đồng đều giữa các vùng, miền.
Tuy nhiên so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân
công ty kinh doanh chứng khoán cũng vậy. Hàng loạt các công ty ra đời và kèm theo đó
là việc tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, vì thế nguồn nhân lực chất lượng
cao ngành này ngày càng khan hiếm. Trong năm 2007, nguồn nhân lực cho ngành ngân
hàng chỉ có khoảng 2000 sinh viên ra trường nên chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu
cầu. Sự khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ cao đã khiến cho các doanh nghiệp
phải sử dụng tới các chuyên gia là người nước ngoài và đương nhiên là phải trả tiền
lương cho họ mức lương rất cao (đây là một điều thực sự đáng suy nghĩ đối với bất
cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng dân tộc). Một số dịch vụ ngân hàng, y tế có
tới 40% tổng số lao động có thu nhập cao từ 14.000 USD/năm trở lên đều thuộc về
người nước ngoài. Tại một nhà máy gia công giầy ở Đồng Nai, tiền lương mà doanh
nghiệp phải trả cho 70 chuyên gia là người nước ngoài tương đương với tổng số tiền
lương mà doanh nghiệp trả cho 20.000 lao động người Việt Nam.Tại một Nhà máy xi
măng ở tỉnh Thanh Hoá, 20 vị trí lao động chủ chốt, người Việt Nam lại giao cho
người nước ngoài là người Nhật Bản đảm nhiệm và họ đã được trả tiền lương ở
mức tương đương với tổng số lương của 2000 công nhân người Việt Nam (đây quả
thực là một điều rất thiệt thòi cho người dân Việt Nam). Có rất nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn tới tình trạng cung nhân lực có chất lượng cao không đáp ứng được nhu
cầu. Theo điều tra mới đây của Bộ kế hoạch và Đầu tư, gần 18% số các doanh
nghiệp Việt Nam, kể cả các tổ chức tín dung, ngân hàng được hỏi đều gặp khó khăn
trong việc đào tạo nguồn nhân lực lành nghề và có trình độ cao cho chính doanh
nghiệp của họ. Nguyên nhân chính của việc này là do các doanh nghiệp thiếu thông tin
và chưa tiếp cận một cách hiệu quả được với các dịch vụ đào tạo. Có nhiều sinh viên
đã không được định hướng tốt trong việc chọn trường, chọn ngành nghề theo học.
Cũng một phần do chất lượng đào tạo ở các cơ sở đào tạo không đáp ứng được nhu
cầu, điều này đã tạo ra sự lãng phí lớn đối với bản thân người được đào tạo và đối
21
với xã hội, đó chính là sự yếu kém trong công tác quản lý nguồn nhân lực có chất
lượng cao và suy cho cùng thì lực lượng lao động ở Việt Nam chưa phát triển.
2.3. Khó khăn, thách th ức
Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân
lực ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có
thể đáp ứng được 35 đến 40% nhu cầu nhân sự bậc cao của các doanh nghiệp. Thị
trường nhân sự cấp cao của Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ khủng hoảng
trầm trọng vì không đủ khả năng bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế.
Theo khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường
lao động TPHCM, chỉ có khoảng 40% sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp tìm được
việc làm đúng ngành, đúng trình độ; 60% còn lại phải làm trái ngành hoặc thấp hơn
trình độ đào tạo.
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm thì nguyên nhân tình trạng
trên là do sinh viên chạy đua theo phong trào, học ngành “hot” dẫn đến cảnh ngành cần
người làm lại ít người học, ngành nhiều người học lại ít chỗ làm. Khi ra trường, sự
mất cân đối này dẫn đến việc những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật này
phải làm những công việc trái ngành. Thậm chí một số doanh nghiệp phải cử đi đào
tạo lại ở nước ngoaì hoặc thuê nước gây sự lãng phí nguồn lực quá lớn.
Theo xu hướng chung hiện nay, lực lượng lao động tri thức học sinh sinh viên
đều thích đi du học và làm việc ở nước ngoài. Đến khi về già mới trở về nước để
đóng góp một phần sức lực cuối cùng cho đất nước quê hương.Và còn phần đa bộ
phận công nhân tài năng còn lại trong nước thì thích làm việc trong các doanh nghiệp
nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài.
Có thể nói, từ những thực trạng trên, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực cao đã
được đặt ra một cách cấp bách trong thời kì hội nhập. Trước hết, phải đi tìm nguyên
nhân của “sự khủng hoảng này.
Chúng ta sử dụng vốn nhiều chứ không chú trọng đến nguồn nhân lực chất
lượng cao thế thì mô hinh kinh tế này nó đúng trong một giai đoạn nào đấy nhưng nếu
để dài quá thì nó sẽ gây ra thảm họa về hiệu quả.Trong nhân lõi các mô hình đó chúng
ta thấy bóng dáng của công nghệ và chất lượng cao rất ít. Đó là ý kiến của ông Trần
nước.
Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ thì phải nâng cao chất lượng và
hiệu quả sử dụng thông qua việc trang bị đầy đủ những yếu tố thiết bị kĩ thuật hiện
đại và đảm bảo một môi trường làm việc hợp lí . Đây là một trong những nhiệm vụ
vừa mang tính cấp bách, vừa có tầm chiến lược nhằm tạo ra lực lượng đầu đàn trong
đội ngũ những người lao động, góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao của
nước ta.
Đối với công nhân kỹ thuật thì cần phải có kế hoạch đào tạo và nâng cao tay
nghề cụ thể rõ ràng vì đây là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất.
Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho
mọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và
trên thế giới. Mở những đợt tuyên truyền rộng rãi, thấm sâu vào lòng người về nguồn
25