Luận văn Thạc sĩ Chính trị học: Vai trò của hệ thống chính trị trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người M’Nông ở xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay - Pdf 59

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN DƢƠNG

VAI TRÕ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
TRONG VIỆC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
CỦA NGƢỜI M’NÔNG Ở XÃ QUẢNG SƠN,
HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN DƢƠNG

VAI TRÕ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
TRONG VIỆC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
CỦA NGƢỜI M’NÔNG Ở XÃ QUẢNG SƠN,
HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG HIỆN NAY

Ngành: Chính trị học
Mã số: 8 31 02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHÚ VĂN HẲN


Chƣơng 2: VĂN HOÁ VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA NGƢỜI M’NÔNG TẠI
ĐỊA PHƢƠNG HIỆN NAY .................................................................................... 24
2.1. Vài nét về xã Quảng Sơn ............................................................................... 24
2.2. Con người và văn hóa của người M’Nông .................................................... 26
2.3. Văn hóa dân tộc của người M’Nông tại địa phương ..................................... 30
2.4. Bản sắc văn hóa của người M’Nông tại xã Quảng Sơn ................................. 41
2.5. Một số hoạt động và kết quả nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa của người
M’Nông ................................................................................................................. 47
2.6. Thuận lợi và khó khăn trong công tác giữ gìn bản sắc văn hóa của người
M’Nông ................................................................................................................. 50
Chƣơng 3: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA NGƢỜI M'NÔNG HIỆN NAY ........... 54
3.1. Vai trò của hệ thống chính trị xã Quảng Sơn trong công tác giữ gìn bản sắc
văn hóa của người M’Nông .................................................................................. 54
3.2. Một số giải pháp đối với hệ thống chính trị địa phương trong việc giữ gìn
bản sắc văn hóa của người M’Nông tại xã Quảng Sơn ........................................ 57
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND:

Ủy ban Nhân dân

HĐND:

Hội đồng Nhân dân



của hệ miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi
khuẩn và nấm gây bệnh. Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và
nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân tộc Việt Nam có một truyền thống lâu đời về văn hóa và văn hiến, kết
tinh thành hệ giá trị chân - thiện - mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa, của
mọi dân tộc trong quốc gia - dân tộc mình và trong cộng đồng nhân loại. Song mỗi
dân tộc, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử riêng của mình, từ những trải
nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu tranh, trong môi trường tự nhiên và
xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những quan niệm và cách thức biểu hiện riêng
của mình về chân - thiện - mỹ. Nó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập
quán và lối sống, tạo thành tính cách của con người và cộng đồng dân tộc. Các giá
trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo
đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả
một dân tộc, có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa.
Quảng Sơn là xã thuộc vùng núi đặc biệt khó khăn, bao gồm nhiều dân tộc
thiểu số sinh sống được thành lập theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP vào ngày 27
tháng 6 năm 2005 của Chính phủ và có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
chung của huyện Đắk Glong về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Mỗi dân tộc
sinh sống trên địa bàn xã đều có những đặc điểm riêng, sớm hình thành những nét
văn hóa vốn có, độc đáo của mình. Cũng như mọi dân tộc khác, người M’Nông tại
xã Quảng Sơn đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức
đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa, sắc thái văn hóa ấy đã có những ảnh hưởng tới
các dân tộc tại địa phương nói chung và người M’Nông nói riêng, góp phần làm
phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Nguyên. Trong
thời kỳ đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xu

M’Nông. Làm thế nào để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người M’Nông tại địa
phương, đang là câu hỏi lớn đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền và toàn thể nhân dân
trong toàn xã.
Đề tài:“Vai trò của hệ thống chính trị trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc của người M’Nông ở xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện
nay" là đề tài cho luận văn tốt nghiệp chuyên ngành chính trị học, nhằm đánh giá
đúng hiện trạng và tìm ra các giải pháp để giữ gìn bản sắc văn hóa của người
M’Nông tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay.

2


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những nghiên cứu đề cập tới những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa,
bản sắc văn hóa, vai trò của hệ thống chính trị trong thời gian gần đây được chú
trọng nhiều hơn, do vậy công trình nghiên cứu về đề tài này hết sức phong phú và
có ý nghĩa cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện tại. Trong các công trình nghiên cứu
liên quan đến đề tài vai trò của hệ thống chính trị trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa
các dân tộc nói chung và người M’Nông nói riêng vẫn còn khá ít. Đối với Đắk
Nông thì các đề tài và các công trình nghiên cứu có liên quan khá khiêm tốn. Tuy
nhiên để thực hiện đề tài, tác giả chỉ có thể nêu lên một số công trình có liên quan
trong quá trình thực hiện đề tài mà tác giả nghiên cứu và tìm hiểu như sau:
Trong nghiên cứu “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Tây Nguyên trong quá
trình xây dựng văn hóa tinh thần ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số” của tác giả
Trương Minh Dục [19] đã nhấn mạnh những giá trị văn hóa truyền thống của các
dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên cần được giữ gìn và phát huy. Đồng thời thông qua
đó tác giả đưa ra và phân tích những thế mạnh của cộng đồng các dân tộc thiểu số,
những chủ trương, chính sách liên quan để làm tốt công tác giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa.
Bài viết “Văn hóa các tộc người Tây Nguyên – Thành tựu và thực trạng” thì

đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; thực hiện
chính sách văn hóa đối với tôn giáo đến củng cố, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn
hóa và mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã nêu lên bốn giải pháp cơ bản để xây
dựng và phát triển văn hóa:
- Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
- Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.
- Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa.
- Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.
Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ làm cho văn hóa
thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, mọi quan hệ xã hội, thành sức mạnh
4


nội sinh quan trọng của phát triển bền vững. Xây dựng môi trường văn hóa lành
mạnh, tạo điều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức,
tâm hồn; cao về trí tuệ, năng lực, kỹ năng sáng tạo; khỏe về thể chất; nâng cao trách
nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật, phát huy tốt
vai trò chủ thể sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các đề tài, nghiên cứu, văn bản, nội dung liên quan đã đề cập đến giá trị văn
hóa, sắc thái văn hóa, thực trạng và những ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến vấn đề
văn hóa; trong đó đã đưa ra những giải pháp nhấn mạnh vai trò của hệ thống chính
trị trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đó.
Sự thiết thực và cấp bách đó đã đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới hết sức
cấp thiết về lý luận, thực tiễn phải nghiên cứu, luận giải, đề ra những giải pháp
mang tính khả thi, bảo đảm phát huy được vai trò của hệ thống chính trị trong việc
giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Với mong muốn làm rõ những giá trị của bản
sắc văn hóa, vai trò của hệ thống chính trị và đề xuất các giải pháp để phát huy tốt
hơn nữa vai trò của hệ thống chính trị trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cụ

sách, giải pháp, nội dung có liên quan của hệ thống chính trị đối với việc giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc của người M’Nông và những đáp ứng của hệ thống chính
trị tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay.
- Về không gian: Trong khuôn khổ luận văn, đề tài nghiên cứu chủ yếu địa bàn
người M’Nông tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng về văn hóa dân tộc của người M’Nông tại
xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông giai đoạn hiện nay. Các giải pháp
đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả về việc giữ gìn bản sắc văn hóa của người M’Nông
tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về việc giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, về vai trò của hệ thống
chính trị trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
6


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu các văn bản về chính sách,
đường lối của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của Nhà nước
về công tác giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số).
- Phương pháp liệt kê, phân tích số liệu, tổng hợp số liệu, giải thích các thuật
ngữ liên quan được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát (tiếp cận đối tượng nghiên cứu, không gian nghiên
cứu để làm rõ các vẫn đề nghiên cứu từ thực tiễn).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các lý thuyết và các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và

nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng”[30]; còn hiểu theo nghĩa
hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng
xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”.
Theo Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa”[14, tr. 431].
Trong quan niệm của Đảng ta, văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống
xã hội, nó cũng có những quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính dân tộc
được coi là thuộc tính cơ bản của văn hóa, phản ánh mối quan hệ giữa dân tộc và
văn hóa trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Nội lực của dân tộc, một mặt, chính
là nguồn nhân lực to lớn, mặt khác, là truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được
kết tinh và hiện đại hóa. Có thể nói tính dân tộc là nội dung quan trọng, luôn được
Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu, vì đó là tính chất cốt lõi của một nền văn hóa. Nó là
cơ sở của nền văn hóa tiên tiến, kết tinh thành nguồn nội lực để xây dựng một quốc
gia giàu mạnh và phát triển bền vững. Chính do tác động của quy luật tính dân tộc
mà văn hóa mang bản sắc dân tộc. Lịch sử đã chứng kiến biết bao cuộc đấu tranh
oanh liệt, bao người sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc mình
8


trước kẻ thù xâm lược. Những ngày hôm nay biết bao người dân Việt Nam ở hải
ngoại vẫn khát khao muốn hành hương tìm về cội nguồn, tìm về bản sắc văn hóa
dân tộc [22].
Thông qua các định nghĩa nêu trên có thể thấy rằng văn hóa dân tộc của người
M’Nông bao gồm nhiều yếu tố văn hóa phi vật thể, vật thể như trang phục, ẩm thực,
phong tục tập quán, các nét văn hóa dân gian của chính họ.
1.1.2. Khái niệm về bản sắc văn hóa

người M’Nông.
1.1.3. Khái niệm về dân tộc thiểu số
Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa nào về “dân tộc thiểu số”
(minorities) được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên
Hợp Quốc. Mỗi quốc gia đều có nét đặc thù riêng, mang bản sắc và hình ảnh đặc
trưng, do vậy cách hiểu và quan điểm về vấn đề DTTS đều khác nhau.
Ở Việt Nam, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc thì khái niệm “dân tộc thiểu số”
không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà chỉ
mang ý nghĩa đơn thuần về mặt số lượng. Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có
nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người”. Nghị
định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản
2- Điều 4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm
vi lãnh thổ nước CHXHCNVN"; khoản 3 - Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số
dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"[12].
Dân tộc thiểu số được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về
công tác dân tộc như sau:
“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên
phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [10].
Như vậy, có thể hiểu, dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ
trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
1.1.4. Khái niệm về hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị bao gồm toàn bộ các tổ chức chính trị, được lập ra để thực
hiện quyền lực chung của xã hội - quyền lực chính trị.
10


Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã
hội, bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp
pháp theo quy định và có mối quan hệ với nhau trong một hệ thống có tổ chức nhằm

dân tộc
1.2.1. Chủ trương và chính sách của Đảng
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã đi vào cuộc sống 15 năm, được toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân đồng tình ủng hộ, được cả hệ thống chính trị quan tâm, tổ
chức thực hiện. Có thể nói, nó không chỉ là một văn kiện mang tính đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, mà còn thể hiện tư duy lý luận
văn hóa một cách toàn diện và sâu sắc trong giai đoạn cách mạng mới. Thực tiễn
xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong 15 năm qua đã gợi mở thêm
nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu để bổ sung và phát triển tại Hội nghị Trung
ương 9 khóa XI tới đây.
Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được xác định tại Đề
cương văn hóa Việt Nam (1943): “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính
trị, kinh tế, văn hóa)”; “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm
cách mạng văn hóa…”; “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh
hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” và “Phải hoàn
thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội…”; “Cách mạng
văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”. Mục tiêu
trước mắt mà Đề cương văn hóa Việt Nam đề ra là xây dựng nền văn hóa mới dân
tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài là xây dựng “văn hóa xã hội chủ
nghĩa”. Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng phải nắm vững
ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Đường lối ấy được bổ
sung, phát triển qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương từ khóa I đến khóa VIII.
Nhưng có thể nói đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) mới là văn
kiện đánh dấu sự phát triển toàn diện đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Sự phát triển toàn diện ấy được thể hiện
ở các điểm chủ yếu sau đây:

12





Hội nghị Trung ương 2 khóa IX, phát triển đầy đủ thành 10 nhiệm vụ cụ thể
trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, từ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người
Việt Nam trong giai đoạn mới, xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng tư tưởng,
đạo đức, lối sống; phát triển văn học, nghệ thuật; bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa; phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ; phát triển đi
đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn
hóa các dân tộc thiểu số; thực hiện chính sách văn hóa đối với tôn giáo đến củng cố,
xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa và mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa (Nghị
quyết Trung ương 5 khóa VIII).
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã nêu lên bốn giải pháp cơ bản để xây
dựng và phát triển văn hóa [2]:
Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.
Chú trọng và huy động nguồn lực, vật chất phục vụ cho hoạt động văn hóa.
Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.
Thông qua đó có thể thấy, các nội dung của Nghị quyết đã kịp thời định
hướng, thể hiện được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng,
khôi phục, phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, phù hợp với
yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại, đáp ứng với nhu cầu và nguyện vọng của đại đa số
nhân dân Việt Nam.
Nhận thức được điều này, ngay từ Đại hội VIII, Đảng và Nhà nước đã thông
qua nghị quyết số 03/NQ-TW tại hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung
ương Đảng vào ngày 16/07/1998 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong phần xác định phương hướng, nhiệm vụ,
ban chấp hành trung ương Đảng đã nhận ra “Nền văn hoá Việt Nam là nên văn hoá
thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, từ đó đặt ra một
trong các nhiệm vụ cụ thể là “bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc

công dân trước pháp luật, ghi nhận quyền được sử dụng tiếng nói và chữ viết của
đồng bào DTTS trong tố tụng hình sự.

15


+ Luật di sản văn hóa 2001, khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều
kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản,
truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam; Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ
viết của các dân tộc ở Việt Nam.
+ Các văn bản dưới luật gồm có Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của các Bộ, ban, ngành…Kể từ 1992 trở lại
đây, năm Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua mở ra một thời kỳ mới trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập. Đã có
hàng trăm văn bản dưới luật được ban hành nhằm phát triển vùng DTTS ở tất cả các
lĩnh khác nhau, đảm bảo quyền của đồng bào DTTS. Tại Quyết định số 2356/QĐTTg, ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình
hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Thủ tướng Chính
phủ đã giao cho Ủy Ban dân tộc chủ trì, phối hợp Hội đồng dân tộc, các ủy ban của
Quốc hội và các Bộ, ngành thực hiện đề án xây dựng Luật Dân tộc, dự kiến thời
gian xây dựng và trình 2017- 2020, thời gian triển khai 2021.
+ Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại” (khoản 1 Điều 60) và “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa
tốt đẹp của mình (khoản 3 Điều 5).
+ Chương trình hành động của Chính phủ số 1109/CP-VX ngày 15/9/1998 về
việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII về việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản

khó khăn, nhất là các xã nằm trong khu vực ba.
Qua đó thực hiện tốt các mục tiêu, quan điểm về việc xây dựng, giữ gìn bản
sắc văn hóa đặc trưng các dân tộc thiểu số có hiệu quả và hệ thống. Song song phải
tạo được sự gắn kết, làm tốt công tác quản lý, khai thác, sưu tầm những nét độc đáo
của văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể.

17


Tổ chức nghiên cứu, cải tiến, giúp đỡ để phát triển các mặt hàng thủ công mỹ
nghệ truyền thống của các dân tộc thiểu số theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn văn
hóa với du lịch. Tuyên truyền và quảng bá những nét đẹp của văn hóa thông qua
trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số, để bảo tồn giá trị văn hóa các dân
tộc.
Cải thiện và nâng cao một bước mức hưởng thụ văn hóa, thông tin ở miền núi
và vùng các dân tộc thiểu số. Các ngành, các cấp phải có kế hoạch cụ thể nhằm tăng
cường nguồn lực cho văn hóa - thông tin ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đẩy
mạnh các hình thức xã hội hóa hoạt động văn hóa - thông tin, mở rộng sự hợp tác
quốc tế để tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài.
Tổ chức, xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội văn nghệ
quần chúng ở cơ sở. Ở cấp huyện, những nơi có điều kiện, có thể tổ chức đội văn
nghệ bán chuyên làm hạt nhân thúc đẩy các hoạt động văn hóa lành mạnh, đáp ứng
nhu cầu của sinh hoạt văn hóa cộng đồng, từ đó hình thành những điểm sáng văn
hóa.
Tổ chức tốt các cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài
miền núi, dân tộc thiểu số và có kế hoạch xuất bản, giới thiệu những tác phẩm này
nhằm phản ánh kịp thời những tiến bộ, những tâm tư nguyện vọng của nhân dân các
dân tộc trong quá trình đổi mới. Có kế hoạch giúp đỡ văn nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn
phục vụ miền núi, vùng các dân tộc thiểu số về tinh thần và vật chất.
Trước mắt và những năm tới phải làm tốt hơn việc tổ chức giao lưu văn hóa

Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam.
Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân
tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết
của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.
Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch
sử, văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng.

19


Đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng,
khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số.
Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc,
định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng
dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
+ Quyết định số 936/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn
2016 - 2020.
1.2.3. Quan điểm và một số chủ trương, định hướng của địa phương về giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa của người dân tộc thiểu số
- Cấp tỉnh
+ Tỉnh ủy Đắk Nông ban hành Chương trình hành động số 09-CTr/TU, ngày
13-9-2004; Chương trình hành động số 31- CTr/TU, ngày 13-11-2014. Triển khai
các đề án, chính sách phát triển văn hóa, giáo dục như:
Đề án “Phát triển văn hóa thông tin tỉnh Đắk Nông đến năm 2010”.
Đề án “Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lễ hội - hoa văn - cồng chiêng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status