Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018
Nghiên cứu Y học
TỈ LỆ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM
TẠI PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH
Đặng Thị Hiền*, Lê Thanh Toàn*
Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu là nguyên nhân đứng thứ hai về gánh nặng bệnh tật trong nhóm bệnh không lây
nhiễm. Tỉ lệ rối loạn lo âu ở những bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm là rất cao, đặc biệt ở những bệnh nhân
mắc bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính và bệnh đái tháo đường. Rối loạn lo âu đã và đang ảnh hưởng đến hiệu
quả điều trị, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, cụ thể là bệnh nhân khám bệnh, theo dõi bệnh tại các phòng
khám ngoại trú.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc
bệnh không lây nhiễm tại phòng khám bác sĩ gia đình, nơi bệnh nhân đến khám và tái khám bệnh ngoại trú
thường xuyên theo lịch.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiêng cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên những bệnh nhân
mắc bệnh không lây nhiễm đến khám tại phòng khám bác sĩ gia đình Bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
từ tháng 03 / năm 2017 đến tháng 07 /năm 2017. Những người tham gia được phỏng vấn trực tiếp thông qua
bảng câu hỏi về sức khoẻ bệnh nhân, thang đo rối loạn lo âu Zung. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng
Stata/IC phiên bản 13.0.
Kết quả: Trong số 238 người tham gia nghiên cứu, rối loạn lo âu (n = 110, 46,2%). Phân tích hai chiều cho
thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê (P
Result: Of the 238 who participated in the study, anxiety disorders (n = 110, 46.2%). Bivariate analysis
showed significant negative association (P < 0.05) between anxiety disorders and factors such as conflicting (PR =
1.78; KTC 95% 1.27-2.25; P = 0.047), the number of diseases (PR = 1.24; P = 0.027; KTC 95% 1.03-1.51), worry
about the disease (PR = 2.16; KTC 95% 1.67-2.80; P 0.001), become more serious /fear of death (PR = 1.89; P
0.001
2,25; P=0,047), số bệnh mắc (PR=1,24; P=0,027;
nghĩa thống kê (p=0,001) nhóm chứng là những
KTC 95% 1,03–1,51), có lo lắng về bệnh
người khỏe mạnh (12,7%)(11).
(PR=2,16; KTC 95% 1,67–2,80; P
4,2
52,1
42,9
46,6
10,1
0,4
Bảng 2. Mối liên quan rối loạn lo âu và các yếu tố sức khỏe
Đặc tính mẫu
Rối loạn lo âu
Có
Không
Thời gian mắc bệnh
0,664
1,07 (0,79 – 1,44)
1 (100)
109 (46,0)
0 (0,0)
128 (54,0)
0,462*
2,17 (1,89 – 2,50)
4 (40,0)
106 (46,9)
6 (60,0)
122 (53,5)
0,756*
0,86 (0,40 – 1,86)
40 (39,2)
54 (48,6)
16 (66,7)
0 (0,0)
57 (72,2)
BÀN LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu, ước tính có 46,2%
đối tượng có rối loạn lo âu theo thang đo
Zung. Còn theo nghiên cứu của Vaman
Kulkarni và cộng sự tại Ấn Độ năm 2014(5), tỉ
Chuyên Đề Nội Khoa
PR (KTC 95%)
75 (44,9)
35 (49,3)
Bảng 3. Tỉ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân mắc bệnh
không lây nhiễm
Đặc tính mẫu
Rối loạn lo âu
Mức độ lo âu(n=238)
Nhẹ
Vừa
Nặng
Giá trị P
lệ này là 19,1% theo thang đo GAD – 7, với cỡ
mẫu 282 người. Nguyên nhân của sự khác
nhau này có thể giải thích là do địa điểm, đối
tượng và phương pháp chọn mẫu khác nhau.
Trong nghiên cứu trước, đối tượng nghiên cứu
tương tự kết quả của Vaman Kulkarni và cộng
sự tại Ấn Độ (53,3%)(5). Đa số những người tham
gia nghiên cứu được chẩn đoán bệnh tim mạch,
bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh phổi mạn
tính, và một số bệnh lý thường gặp khác.
Trình độ học vấn của đối tượng tham gia
nghiên cứu rất đa dạng. Có đến 71 (chiếm 29,8%)
đối tượng không được đi học, hoặc chỉ có thể
biết đọc, biết viết hay thậm chí có thể mù chữ,
thấp hơn 12% so với nghiên cứu của Vaman
Kulkarni và cộng sự(5), sự khác biệt này có thể do
đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu
khác nhau. Trong nghiên cứu của Vaman
Kulkarni và cộng sự(5), đối tượng được chọn ≥30
tuổi và được tiến hành tại một bệnh viện huyện
Mangalore, trong khi nghiên cứu chúng tôi đối
tượng được chọn vào ≥18 tuổi và nghiên cứu ở
bệnh viện quận của thành phố thuộc đô thị đặc
biệt. Trình độ học vấn có thể có liên quan đến rất
nhiều yếu tố, kể cả kinh tế. Nghề nghiệp trong
quá khứ của họ: người có trình độ học vấn thấp
thường có xu hướng làm những việc không có
thu nhập ổn định, hay không có thu nhập từ hưu
trí, họ cũng thường có sự hạn chế trong tiếp cận
các dịch vụ y tế.
Đôi tượng nghiên cứu hầu hết có tình trạng
hôn nhân đã kết hôn. Đối tượng mất đi người
bạn đời chủ yếu là nữ giới. Điều này có thể giải
thích bởi tỉ suất chết thấp hơn ở nữ giới(14). Người
giải thích do tác động của chương trình bảo hiểm
y tế quốc gia khiến cho sự e ngại về chi phí khi
khám bệnh chiếm tỉ lệ không cao. Một bộ phận
nhỏ cho thấy có sự lo lắng không có người chăm
sóc, điều này trở thành một gánh nặng tâm lý
cho người bệnh.
Mất ngủ là hiện tượng phổ biến ở BN, cũng
không quá ngạc nhiên khi tỉ lệ mất ngủ trong
nghiên cứu khá cao >60% và trong số đó tỉ lệ cao
nhất là mất ngủ thường xuyên. Mất ngủ làm ảnh
hưởng sức khỏe, gây ra hàng loạt các nguy cơ
tim mạch, đái tháo đường, tâm sinh lý của đối
tượng. Điều này tương ứng với các kết quả của
nghiên cứu trước(8,12,18,19). Tần suất mất ngủ
thường xuyên chiếm tỉ lệ cao, điều này có thể
giải thích đối tượng mắc bệnh không lây nhiễm –
Chuyên Đề Nội Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018
một bệnh có liên quan chặt chẽ đến tuổi
tác(3,7,12,15), sự hoạt động của não và các tuyến yên
yếu đi, sự duy trì giấc ngủ khó kiểm soát.
Các mối liên quan giữa rối loạn lo âu và các
bệnh lý trong nghiên cứu chưa có ý nghĩa thống
kê. Tuy nhiên số nhóm bệnh mắc và rối loạn lo
âu có mối liên quan có ý nghĩa thống kê và có
tính khuynh hướng, cứ tăng thêm 1 nhóm bệnh
thì tỉ lệ rối loạn lo âu tăng lên 1,24 lần. Điều này
5.
Bộ Y tế Việt Nam (2015), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế
năm 2014 Tăng cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây
nhiễm, tr.140.
Grenier S, Potvin O, Hudon C, Boyer R, Preville M, Desjardins
L, et al. (2012), Twelve-month prevalence and correlates of
subthreshold and threshold anxiety in community-dwelling
older adults with cardiovascular diseases. J Affect Disord, 136
(3), pp. 724 - 732.
Hội Y học dự phòng Việt Nam (2016), Bệnh không lây nhiễm:
Gánh nặng, yếu tố nguy cơ và chiến lược phòng chống,
/> />engthening_prevention_and_control_of_ncds_vietnam_recom
mendations_who.pdf
Kulkarni V, Chinnakali P, Kanchan T, Rao A, Shenoy
M, Papanna MK (2014), Psychiatric Co-morbidities among
Patients with Select Non-communicable Diseases in a Coastal
Chuyên Đề Nội Khoa
6.
7.
8.
9.
10.
burden of generalized anxiety disorder in Canada. Health
Promot Chronic Dis Prev Can, 37 (2), pp. 54 - 62.
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (2011), Già hóa dân
số và người cao tuổi ở Việt Nam- Thực trạng, dự báo và một
số khuyến nghị chính sách, tr. 6.
Rajput R, Gehlawat P, Gehlan D, Gupta R, Rajput M (2016),
Prevalence and predictors of depression and anxiety in
patients of diabetes mellitus in a tertiary care center. Indian J
Endocrinol Metab, 20 (6), pp. 746 - 751.
Smith K J, Beland M, Clyde M, Gariepy G, Page V, Badawi G,
et al. (2013), Association of diabetes with anxiety: a systematic
review and meta-analysis. J Psychosom Res, 74 (2), pp. 89 - 99.
Sun N, Lou P, Shang Y, Zhang P, Wang J, Chang G, et al.
(2016), Prevalence and determinants of depressive and anxiety
symptoms in adults with type 2 diabetes in China: a crosssectional study. BMJ Open, 6 (8), e012540.
Tổ chức Y tế Thế giới Tây Thái Bình Dương (2013) Bệnh
không
lây
nhiễm,
/>diseases/fs20130311/vi/, 2/7/2017.
Tổng cục dân số (2009) Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm
2009, tr. 65 - 73.
Tu HP, Lin CH, Hsieh HM, Jiang HJ, Wang PW, Huang CJ
(2017), Prevalence of anxiety disorder in patients with type 2
diabetes: a nationwide population-based study in Taiwan
2000-2010. Psychiatr Q, 88 (1), pp. 75 - 91.
Viện sức khỏe tâm thần (2011), Thang đánh giá lo âu Zung,
/>World Health Organization (2011), Recommendations for
strengthening Non Communication disease prevention and
control in Viet Nam, p2.