Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 1 * 2016
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG
VẾT MỔ THÀNH BỤNG TRÊN SẢN PHỤ MỔ LẤY THAI
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ
Nguyễn Quỳnh Chi*, Võ Minh Tuấn**, Vũ Xuân Thọ*,
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mối liên quan giữa tình trạng lành vết mổ thành bụng sau mổ lấy thai ở
ngày 4 hậu phẫu với các yếu tố như: (1) chuyển dạ kéo dài,(2) ối vỡ sớm,(3) số lần thăm khám âm đạo trước mổ và
(4) thời gian mổ tại bệnh viện Từ Dũ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng (1:2). Các sản phụ được mổ lấy thai tại
bệnh viện Từ Dũ từ 01/02/2015 đến 10/06/2015 chia thành 2 nhóm: 1) nhóm bệnh: sản phụ có vết thương lành
kém, 2) nhóm chứng: sản phụ có vết thương lành tốt.
Kết quả: Khảo sát 384 trường hợp, có 128 trường hợp có vết thương lành kém và 256 trường hợp có vết
thương lành tốt. Không ghi nhận liên quan giữa thời gian mổ và tình trạng ối vỡ đến quá trình lành vết thương
thành bụng (p > 0,05). Tuy nhiên, số liệu chỉ ra liên quan có ý nghĩa thống kê của chuyển dạ kéo dài, khám âm đạo
≥ 5 lần, tuổi thai lúc mổ, tiền sản giật, bạch cầu cao trước mổ, rạch da đường dọc với tình trạng lành vết mổ
(p
khoảng 18,5 triệu trường hợp mổ lấy thai(3). Do
đó, dù được xếp vào loại phẫu thuật sạch nhiễm,
có tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp hơn những loại phẫu
thuật khác nhưng số lượng các trường hợp
nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai thật ra
không hề thấp(1).
Bệnh viện Từ Dũ là một trong những bệnh
viện hàng đầu khu vực phía Nam về chuyên
ngành sản phụ khoa. Bệnh viện là tuyến sau
cùng của khu vực, tiếp nhận cả bệnh nhân
chuyển tuyến. Điều này dẫn đến tình trạng tỷ lệ
sản phụ được mổ lấy thai khá cao. Theo số liệu
do phòng kế hoạch tổng hợp cung cấp, trong
năm 2013 số ca mổ lấy thai tại bệnh viện là
27.840, tỷ lệ mổ lấy thai là 48,6%. Trong năm
2014, số ca mổ lấy thai là 30.820, tỷ lệ mổ lấy thai
là 48%. Tình trạng vết mổ sau mổ lấy thai là một
vấn đề rất cần được lưu tâm và chú trọng.
Chúng tôi chọn 4 yếu tố: chuyển dạ kéo dài,
tình trạng ối vỡ sớm, thời gian mổ và số lần
khám âm đạo để khảo sát. Vì theo những nghiên
cứu của Túlio Ferrat, Filbert Mpogoro và
Magaret Olsen thì những yếu tố trên có liên
quan đến quá trình lành thương vết mổ sau mổ
lấy thai(2,4,5).
Chúng tôi thực hiện công trình nghiên cứu
này nhằm xác định các yếu tố này có thực sự
liên quan đến tình trạng vết mổ mà từ đó có
thể dẫn đến nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy
thai tại bệnh viện Từ Dũ. Việc phát hiện các
nhóm sản phụ có điểm Asepsis > 10 và
nhóm sản phụ có điểm Asepsis ≤ 10.
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh chứng tỷ lệ 1:2
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu:
Các sản phụ được mổ lấy thai.
Dân số nghiên cứu:
Các sản phụ được mổ lấy thai tại bệnh viện
Từ Dũ trong thời gian nghiên cứu.
Dân số chọn mẫu:
Các sản phụ có thai được mổ lấy thai tại
bệnh viện Từ Dũ từ ngày 01/02/2015 đến
10/06/2015 và đồng thuận tham gia nghiên cứu
được chia thành 2 nhóm: nhóm bệnh và nhóm
chứng.
Nhóm bệnh:
Sản phụ có vết thương lành kém ở ngày hậu
phẫu 4 (Asepsis > 10 điểm).
Nhóm chứng:
Sản phụ có vết thương lành tốt ở ngày hậu
phẫu 4 (Asepsis ≤ 10 điểm).
Tiêu chuẩn loại trừ
-
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu trong nghiên cứu
bệnh chứng (1:2)
Chọn α= 0,05, 1-β=0,8
Nhóm chứng là nhóm có vết thương lành tốt
-
Chúng tôi hồi cứu hồ sơ 50 sản phụ mổ lấy
thai có vết thương lành tốt vào tháng 1/2015
thuộc đặc điểm của nghiên cứu, P2 của chúng tôi
là:
+ Các thai phụ có vết mổ lấy thai ngày thứ
4 sau khi được sàng lọc sẽ được tư vấn,
giải thích về nghiên cứu và mời tham
gia nghiên cứu tại giường nằm ở khoa
Hậu Phẫu, trong ngày nhận vào nghiên
cứu.
Bảng 1: Bảng tính cỡ mẫu
Biến số nghiên cứu
Chuyển dạ kéo dài
Ối vỡ sớm ≥ 12giờ
Khám âm đạo ≥ 5lần
Thời gian mổ ≥ 60phút
P2(%)
trực tiếp thực hiện.
Bước 1: Sàng lọc đối tượng
+ Thực hiện vào buổi sáng, khi nữ hộ sinh
thay băng bắt đầu công việc. Các sản
phụ có thai được mổ lấy thai tại bệnh
viện Từ Dũ vào ngày thứ 4 hậu phẫu và
đang nằm tại khoa Hậu Phẫu sẽ được
khám và đánh giá vết mổ theo bảng
điểm Asepsis.
+ Nhóm bệnh: Chọn tất cả các trường hợp
thỏa điều kiện nhận vào có điểm
Asepsis > 10 điểm vào ngày thứ 4 hậu
phẫu sau mổ lấy thai đang nằm tại
330
Bước 3: Khám, thu thập số liệu và phỏng
vấn
+ Thực hiện thăm khám tại giường bệnh
của bệnh nhân. Khám tổng quát nhằm
phát hiện bệnh toàn thân. Khám vết mổ
sản phụ, đánh giá theo thang điểm
Asepsis vào ngày thứ 4 hậu phẫu. Quan
sát sản phụ có được đặt dẫn lưu ổ
bụng, sonde tiểu.
Theo bảng tính cỡ mẫu trên chúng tôi chọn
được cỡ mẫu lớn nhất là 366 trường hợp với 122
trường hợp cho nhóm bệnh và 244 trường hợp
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
-
Số liệu thu thập sẽ nhập vào máy tính và xử
lý bằng phần mềm Stata 12.0.
-
Phân tích gồm 2 bước: bước 1 mô tả và phân
tích đơn biến, bước 2 dùng mô hình hồi quy
đa biến nhằm kiểm soát các yếu tố gây
nhiễu để tính OR hiệu chỉnh (OR*) cho mục
tiêu chính.
-
Các phép kiểm đều thực hiện với độ tin cậy
95%.
Đặc điểm đối tượng
Trong thời gian nghiên cứu từ 01/02/2015
đến 10/06/2015 tại bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi
thu thập được 386 trường hợp sản phụ nằm tại
khoa Hậu Phẫu sau mổ lấy thai. Trong đó có 130
ca bệnh có vết thương lành kém, chúng tôi mời
tham gia nghiên cứu tất cả các ca nhưng có 2 ca
từ chối tham gia. Nhóm chứng bao gồm 256
trường hợp có vết thương lành tốt được chọn
ngẫu nhiên, không ai từ chối tham gia. Số trường
4 (3,13)
14 (5,47)
Ref
21-30 tuổi
31-40 tuổi
Trên 40 tuổi
53 (41,41)
62 (48,44)
9 (7,03)
107 (41,80)
125 (48,83)
10 (3,91)
2,15
2,43
4,18
Khó khăn
23 (17,97)
40 (15,63)
Ref
2,12
0,71
Con so
66 (51,56)
111 (43,36)
Ref
Con rạ
62 (48,44)
145 (56,64)
0,55
Không
94 (73,44)
165 (64,45)
Ref
1 lần
≥ 2 lần
Ref
Có
49 (38,28)
32 (12,50)
4,02
Chưa CD
33 (25,78)
117 (45,70)
Ref
CD tự nhiên
Khởi phát CD
68 (53,13)
27 (21,09)
102 (39,84)
37 (14,45)
1,36
1,33
2,41
56 (43,75)
143 (55,85)
Ref
38 (29,69)
34 (26,56)
62 (24,22)
51 (19,92)
0,65
0,95
109 (85,16)
242 (94,53)
Ref
Thời gian ối vỡ Chưa vỡ
Dưới 12 giờ
Trên 12 giờ
Chuyển dạ kéo dài
Sản Phụ Khoa
0,36-1,80
0,48-5,99
0,592
0,405
0,30-2,20
0,690
2,01-8,02
0,000
0,27-6,67
0,29-5,99
0,702
0,709
0,14-0,87
0,024
1,02-5,66
0,044
0,29-1,46
P**
2,99
1,17-7,62
0,022
0,32-81,40
0,251
1,49-5,78
0,002
0,58-14,30
0,51-16,50
0,196
0,232
0,39-2,24
0,869
1,31-6,32
0,008
1 (0,39)
5,08
92 (71,88)
226 (88,28)
Ref
36 (28,13)
30 (11,20)
2,93
Thời điểm mổ
38 (29,69)
124 (48,44)
Ref
66 (51,56)
24 (18,75)
88 (34,38)
44 (17,19)
Truyền máu
102 (79,69)
Dọc
32 (25,00)
26 (8,98)
2,88
Cấp cứu
18 (14,06)
75 (29,30)
Ref
Chủ động
110 (85,94)
181 (70,70)
0,72
Dưới 60 phút
20 (7,81)
0,94
0,72
Không
123 (96,09)
254 (99,22)
Ref
Có
5 (3,91)
2 (0,78)
1,07
gấp 2,41 lần so với sản phụ có số lần khám
âm đạo từ 4 lần trở xuống, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
*OR hiệu chỉnh ** Logistic regression đa biến
Nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu cho
khảo sát các yếu tố liên quan đến lành thương
kém, chúng tôi đưa 21 biến số có giá trị P
Những sản phụ chuyển dạ kéo dài có nguy
cơ lành thương kém cao gấp 2,99 lần so với
sản phụ không có chuyển dạ kéo dài, sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
-
Những sản phụ có bạch cầu trong máu tăng
có nguy cơ lành thương kém cao gấp 2,93
lần so với sản phụ không có bạch cầu trong
máu tăng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với P < 0,05.
-
Những sản phụ có đường vào bụng lúc mổ
là đường dọc có nguy cơ lành thương kém
cao gấp 2,88 lần so với sản phụ có đường
vào bụng lúc mổ là đường ngang, sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Không ghi nhận mối liên quan giữa các đặc
điểm ối vỡ sớm, thời gian mổ trên 60 phút với
tình trạng vết thương lành kém (P > 0,05)
Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Bà Mẹ Trẻ Em
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 1 * 2016
case–control study. The Brazilian Journal of infectious
diseases. 19(2):113–117.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ngày nhận bài báo:
12/11/2015
1.
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
20/11/2015
Ngày bài báo được đăng:
20/01/2016
2.
Al Jama FE (2012). Risk factors for wound infection after lower
segment cesarean section. Qatar Medical Journal, (2), 26–31.
Filbert M, Stephen M, Mariam M, Benson K, Balthazar G and
Can I (2014). Incidence and predictors of surgical site
Sản Phụ Khoa
333