Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU
Ở BỆNH NHÂN TẠO HÌNH BÀNG QUANG BẰNG HỒI TRÀNG
SAU CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC DO UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN
Nguyễn Văn Ân*, Trịnh Nguyên Bách*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Phân tích các đặc điểm nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) ở bệnh nhân tạo hình bàng
quang bằng ruột.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH). Tất cả các
TH tạo hình bàng quang bằng ruột sau cắt bàng quang tận gốc do ung thư từ 01/2014 đến 01/2018. Các biến số
sau đây được ghi nhận và phân tích: thời gian từ lúc tạo hình đến lúc nhiễm khuẩn, kỹ thuật mổ, kháng sinh điều
trị, thời gian điều trị, hiệu quả điều trị.
Kết quả: trong số 107 TH tạo hình bàng quang bằng ruột sau cắt bàng quang tận gốc do ung thư, có 32 TH
NKĐTN, chiếm 29,9%. Trong nhóm NKĐTN: Tuổi trung bình là 56,7% (nhỏ nhất 17, lớn nhất 83); Triệu
chứng lâm sàng thường gặp là tiểu đục 96,88%, sốt 78%; Kỹ thuật tạo hình thường gặp nhất là Hautmann
62,5%; 3 tháng đầu sau tạo hình là khoảng thời gian NKĐTN nhiều nhất 75%; Vi khuẩn thường gặp nhất là E.
coli 29% và P. aeruginosa 29%; Kháng sinh kinh nghiệm được dùng nhiều nhất là Imipenem 43,75%; Hiệu quả
điều trị về lâm sàng là 59%; Sau khi có kháng sinh đồ, kháng sinh được dùng nhiều nhất là Imipenem 50%; Đa
số TH đáp ứng sau 6 ngày điều trị.
Kết luận: NKĐTN chiếm 29,9% TH tạo hình bàng quang bằng ruột sau cắt bàng quang tận gốc do ung
thư. Điều trị nhiễm khuẩn bằng kết hợp Carbapenems + Aminoglycosides cho kết quả khá khả quan.
Từ khóa: nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tạo hình bàng quang bằng ruột, ung thư bàng quang
ABSTRACT
DIAGNOSIS AND TREATMENT OF URINARY TRACT INFECTION AFTER RADICAL
CYSTECTOMY AND NEOBLADDER AT BINH DAN HOSPITAL
Ghi nhận các xét nghiệm
Tạo hình bàng quang bằng ruột sau cắt bàng
quang tận gốc do bệnh lý ung thư bàng quang
ngày càng phổ biến. Chất lượng cuộc sống ở
bệnh nhân được tạo hình bàng quang bằng ruột
được cải thiện nhiều(2,3,4,10).
Tổng phân tích nước tiểu, kháng sinh đồ, tỉ
lệ nhạy các kháng sinh.
Về mặt hình thái và chức năng, bàng
quang tân tạo khác rất nhiều so với bàng
quang của người bình thường, cùng với tình
trạng lưu ống thông lâu ngày sau mổ, là
những yếu tố thuận lợi gây ra nhiễm khuẩn
đường tiết niệu (NKĐTN), và nhiễm khuẩn
trên những bệnh nhân này rất phức tạp do tái
phát nhiều lần và liên quan đến chăm sóc y tế.
Theo nghiên cứu của Hautmann và cộng sự, tỉ
lệ này khoảng 5,7% sau 72 tháng theo dõi, ở
những bệnh nhân làm trống bàng quang kém
cho ra con số khá cao là 13,6%. Trong khi
nghiên cứu của Kim và cộng sự công bố đến
19,8% sau 24 tháng theo dõi, hay Mano và
cộng sự cho con số rất cao là 44%(4,6).
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về chẩn
đoán và điều trị NKĐTN trên nhóm bệnh nhân
tạo hình bàng quang bằng ruột trong thời gian
Triệu chứng
Sốt
Tiểu gắt
Tiểu đục
Đau hạ vị
Đau hông lưng
Tổng cộng
Số TH
25
13
31
11
1
32
Tỉ lệ (%)
78,13
40,63
96,88
34,38
3,13
100
Triệu chứng thường gặp trong NKĐTN là
tiểu đục (96,88%), sốt (78,13%), tiểu gắt, đau hạ vị.
Bảng 2: Các yếu tố gây phức tạp
Yếu tố gây phức tạp
Bất thường cấu trúc đường tiết
niệu
4
12,50%
Bảng 3: Kỹ thuật tạo hình bàng quang bằng ruột
Kỹ thuật
Hautmann
Studer
Padua
Camey II
Tổng cộng
Số TH
20
8
3
1
32
Tỉ lệ (%)
62,5
25,0
9,4
3,1
100
Trong các yếu tố gây phức tạp, có 2 yếu tố
luôn có ở bệnh nhân tạo hình bàng quang bằng
ruột sau cắt bàng quang do ung thư là bất
1
0
1
1
32
Tỉ lệ (%)
75,00%
15,63%
3,13%
0,00%
3,13%
3,13%
100%
Đa số TH NKĐTN sau tạo hình bàng quang
bằng ruột xảy ra trong 3 tháng đầu tiên sau mổ,
chiếm đến 75,00%, sau đó tỉ lệ này giảm dần
theo thời gian.
Bảng 5: Tỉ lệ vi khuẩn gặp trong NKĐTN
Vi khuẩn
E coli
P aeruginosa
Klebsiella
Serratia odorifeca
Stenotrophomonas
Streptococcus
Proteus
Acinetobacter
baumanni
4,17
4,17
100
Vi khuẩn thường gặp nhất là E. coli, P. aeruginosa.
Bảng 6: Kháng sinh kinh nghiệm ban đầu
Kháng sinh
Imipenem
Fosfomicin
Piperacillin
Ticarcillin
Ertapenem
Cefoperazole
Tổng
50
Số TH
14
5
5
1
5
2
32
Tỉ lệ (%)
43,75%
15,63%
15,63%
%
Lúc nhập viện
Bạch cầu máu
Bạch cầu niệu
Nitrit dương
tính
Đơn vị
BÀN LUẬN
Về lâm sàng
Các báo cáo từ trước đến nay chỉ ra tỉ lệ cao
của khuẩn niệu không triệu chứng ở bàng
quang tân tạo, từ 78% đến 85%. Tuy nhiên
NKĐTN có triệu chứng ở chỉ khoảng 30%, và
nhiễm khuẩn huyết từ đường tiết niệu vào
khoảng 0 – 12%. Triệu chứng thường gặp nhất
của NKĐTN ở bệnh nhân bàng quang tân tạo
là tiểu đục và sốt. Trong khi tiểu đục khá là
chủ quan, cảm tính nhiều dựa vào bệnh nhân
và quan sát của thầy thuốc thì triệu chứng sốt
lại là triệu chứng đáng tin cậy(5).
Khác với những NKĐTN thông thường là
không có hoặc chỉ có một yếu tố gây phức tạp(8),
ở bệnh nhân bàng quang tân tạo, thường có hơn
một yếu tố phức tạp. Những yếu tố có thể hạn
chế được trong nghiên cứu của chúng tôi là: có
thông niệu đạo, có thông mở bàng quang ra da,
không mắc NKĐTN. Chúng tôi nhận ra không
có sự liên quan giữa các kỹ thuật tạo hình bàng
quang bằng hồi tràng và NKĐTN.
Về cận lâm sàng
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ P.
aeruginosa và E. coli gây bệnh nhiều nhất, và phổ
vi khuẩn khá giống với các nghiên cứu tương tự
gồm đa số là P. aeruginosa, E. coli, Klebsiella(5,6). Có
lẽ do đặc điểm riêng của nhóm bệnh nhân này
nên có sự khác biệt với những thống kê về
NKĐTN khác(9). Điều này góp phần lý giải tại
sao nhiễm khuẩn thường xuất hiện trong những
tháng đầu sau mổ nhiều, và sẽ bớt dần sau một
năm, khi mà bệnh nhân làm chủ được sự đi tiểu
và không phụ thuộc vào chăm sóc y tế.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nhạy
của các vi khuẩn với kháng sinh khá thấp, chỉ
trừ Colistin còn nhạy 100%, cho thấy tình hình
đề kháng kháng sinh nghiêm trọng trong nhóm
bệnh nhân bàng quang tân tạo. Có 5/24 TH,
chiếm 20% chỉ còn nhạy duy nhất với một kháng
sinh là Colistin.
Về điều trị
Theo phân tầng nguy cơ về nhiễm khuẩn của
bệnh viện Bình Dân, nhóm bệnh nhân nhập viện
vì NKĐTN có bàng quang tân tạo là nhiễm
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
quản là một trong những nguyên nhân gây
NKĐTN(4). Trong 107 TH chúng tôi quan sát, chỉ
ghi nhận thấy 1 TH hẹp miệng cắm niệu quản
vào bàng quang tân tạo, tuy nhiên thời gian theo
dõi của chúng tôi chưa đủ lâu, nên cần có các
nghiên cứu lớn hơn và dài hơi hơn để góp phần
vào chẩn đoán và điều trị NKĐTN ở bệnh nhân
hẹp niệu quản trong nhóm bàng quang tân tạo.
KẾT LUẬN
Trong thời gian từ 1/2014 – 1/2018, chúng tôi
thu thập được 107 TH tạo hình bàng quang bằng
ruột sau cắt bàng quang tận gốc do ung thư thỏa
tiêu chí chọn mẫu. Trong đó có 32 TH có
NKĐTN phải quay lại nhập viện, chiếm 29,91%.
51
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 2 * 2019
Đa số bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị. Có
28,13% TH phải nhập viện lần 2 vì NKĐTN, tất
cả đáp ứng tốt với kháng sinh điều trị. Về kết
quả điều trị, cần theo dõi thêm sau xuất viện,
đánh giá lại chức năng đường tiểu dưới để hỗ
trợ thêm quá trình điều trị.
complications, J Urol, 185(6), tr. 2207-12.
Kim KH và Yoon HS (2016), Febrile Urinary Tract Infection
after Radical Cystectomy and Ileal Neobladder in Patients
8.
9.
10.
with Bladder Cancer, Journal of Korean medical science, 31(7), tr.
1100-4.
Mano R, Goldberg H, Stabholz Y, Hazan D, Margel D, Kedar
D, Baniel J, and Yossepowitch O (2018), Urinary Tract
Infections After Urinary Diversion-Different Occurrence
Patterns in Patients With Ileal Conduit and Orthotopic
Neobladder, Urology, số 116, tr. 87-92.
Meddings J, Saint S, Krein S L, Gaies E, Reichert H, Hickner A,
McNamara S, Mann JD và Mody L (2017), Systematic Review
of Interventions to Reduce Urinary Tract Infection in Nursing
Home Residents, J Hosp Med, số 12(5), tr. 356-368.
Ngô Xuân Thái, Trần Lê Duy Anh và Lê Việt Hùng (2015),
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu do vi khuẩn tiết ESBL tại khoa
tiết niệu bệnh viện nhân dân Gia Định : Kết quả chẩn đoán và
điều trị, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 19(4), tr. 80-87.
Nguyễn Thế Hưng (2016), Đánh giá chẩn đoán và điều trị
nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, Luận án Chuyên khoa
II, Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Ân (2013), Đánh giá kết quả ban đầu của phẫu
thuật tạo hình bàng quang bằng ruột theo phương pháp